Lịch sử MTTQ Việt Nam tỉnh Tây Ninh giai đoạn 1930-2010

 

LỜI NÓI ĐẦU

 

Mặt trận Dân tộc thống nhất là một trong những vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trải qua các thời kỳ lịch sử, Mặt trận Dân tộc thống nhất với nhiều tên gọi, hình thức tổ chức và hoạt động khác nhau đã góp phần tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân tộc vào công cuộc giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tây Ninh, hơn 80 năm qua Mặt trận Dân tộc thống nhất tỉnh Tây Ninh đã vận động tập hợp,  đoàn kết các tầng lớp nhân dân để cùng nhau lập nhiều chiến công oanh liệt trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trong thời kỳ cùng cả nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh là tổ chức giữ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, vận động nhân dân trong tỉnh vượt qua khó khăn thử thách, tăng cường đoàn kết dân tộc, huy động mọi tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo đồng tâm hiệp lực vươn lên giành nhiều thành tích quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội, an ninh, quốc phòng thực hiện mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Sau ngày 30-4-1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà, các vị lãnh đạo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh có tâm huyết biên soạn quá trình hình thành và phát triển của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh qua các thời kỳ lịch sử, nhưng chỉ dừng lại ở thể loại Đặc san hoặc Kỷ yếu.

 Đến nay thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh đã triển khai sưu tầm và biên soạn lịch sử “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh” (1930-2010) nhằm tái hiện lại quá trình hình thành, phát triển của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh qua các thời kỳ cách mạng.

Cuốn sách lịch sử “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh”  (1930-2010) được hoàn thành, trước hết xin chân thành cảm ơn các cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ Mặt trận qua các thời kỳ đã đóng góp công sức, trí tuệ cho cuốn sách được ra mắt bạn đọc nhân dịp Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh lần thứ IX nhiệm kỳ 2014-2019.

Tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng phần lớn các tư liệu thành văn của Mặt trận trong những năm kháng chiến không còn, những tư liệu có được là thông qua ký ức của nhân chứng lịch sử, đồng thời trình độ biên soạn có hạn, chắc chắn cuốn sách không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của đồng bào, đồng chí để khi tái bản được hoàn chỉnh hơn.

 

Ủy Ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh

 

CHƯƠNG MỞ ĐU

TÂY NINHVÙNG ĐẤTCON NGƯỜI

 

  1. I. ĐA LÝ, ĐA GII HÀNH CHÍNH TÂY NINH QUA CÁC THI K LCH S

Giữa thế kỷ XVII, Tây Ninh còn là vùng đất hoang vu rừng rậm và nhiều thú dữ. Gần nữa thế kỷ Trịnh – Nguyễn phân tranh (1627-1672), làm cho đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Nhiều người phải bỏ làng quê tìm đến các vùng đất mới, xa lánh mọi thảm họa, bất công của xã hội đương thời. Tây Ninh là một trong những nơi đoàn người tìm đến để khai hoang lập ấp, làm ăn sinh sống.

Năm 1658, nhiều người Việt đến vùng đất Tây Ninh làm ăn sinh sống, khai hoang lập ấp. Năm 1698, Chúa Nguyễn Phúc Chu cử Lễ thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam ổn định tình hình và thiết lập bộ máy hành chính các cấp. Nguyễn Hữu Cảnh lập đất Nông Nại thành phủ Gia Định phân làm hai huyện: huyện Phước Long trên vùng đất Đồng Nai, có lỵ sổ là dinh Trấn Biên; huyện Tân Bình trên vùng đất Sài Gòn, có lỵ sở là dinh Phiên Trấn [1].

Vùng đất Tây Ninh lúc bấy giờ có hai đạo Quang Phong và Quang Hóa thuộc huyện Phước Long. Năm 1779, hai đạo Quang Phong và Quang Hóa thuộc huyện Tân Bình.

Năm 1836, vua Minh Mạng định lại tổ chức hành chính, thành lập tỉnh Gia Định, gồm ba phủ: Tân Bình, Tân An và Tây Ninh. Như vậy, tên gọi Tây Ninh chính thức xuất hiện với tư cách là một đơn vị hành chánh.

Phủ Tây Ninh có hai huyện: Tân Ninh và Quang Hóa.

Huyện Tân Ninh cai quản 3 tổng, 24 làng, huyện lỵ tại vùng thị xã Tây Ninh ngày nay. Huyện Quang Hóa cai quản 4 tổng, 32 làng, huyện lỵ tại làng Cẩm Giang.

Năm 1858, thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, Tây Ninh bị chiếm năm 1861 và được sáp nhập về Sài Gòn. Thực dân Pháp đặt hai đoàn quân sự cai trị ở Trảng Bàng và Tây Ninh. Năm 1868, hai ty hành chính được thành lập thay thế cho hai đoàn quân sự. Ngày 5-01-1876, Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định phân chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chánh lớn; mỗi khu vực hành chánh lớn lại được chia thành các tiểu khu hành chánh. Tỉnh Gia Định được chia thành 4 tiểu khu: Gia Định,Tây Ninh, Tân An, Chợ Lớn. Tiểu khu Tây Ninh thuộc khu vực hành chánh Sài Gòn.

Ngày 20-12-1899, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ra nghị định đổi tiểu khu hành chánh thành tỉnh. Nội dung nghị định có hiệu lực từ ngày 01-01-1900. Toàn Nam Kỳ có 20 tỉnh, như vậy đơn vị hành chánh tỉnh Tây Ninh có từ ngày 1-1-1900.  

Dưới sự cai trị của thực dân Pháp, tỉnh Tây Ninh được chia ra hai quận:

+ Quận Thái Bình có 7 tổng, 34 làng:

– Tổng Hoà Ninh có 7 làng: Đông Tác, Hoà Hiệp, Hoà Hội, Hảo Đước, Ninh Thạnh, Thái Bình, Thanh Điền.

– Tổng Hàm Ninh Thượng có 4 làng: Đôn Thuận, Hiệp Ninh, Lộc Ninh, Phước Hội.

– Tổng Giai Hoá có 6 làng: Ninh Điền, Long Chữ, Long Giang, Long Khánh, Long Thuận, Tiên Thuận.

– Tổng  Khăng Xuyên có 8 làng: Cà Khup, Chra Sre, Đây Xoài, Đốt Bô, Prey Chêt, Praha Miệt, Phum Xoài, Tapăng Roben.

– Tổng Băng Chrum có 2 làng: Băng Chrum Srey, Prey Têch.

– Tổng Tabel Yul có 3 làng: Tà rôt, Tapangprây, Tapăngprôsốc.

– Tổng Chơn Bà Đen có 4 làng: Cà Nhum, Khedol, Rùng Thùng, Am Pil.

Đến năm 1942, quận Thái Bình đổi tên là quận Châu Thành.

+ Quận Trảng Bàng có 3 tổng, 16 làng.

– Tổng Hàm Ninh Hạ có 6 làng: An Tịnh, An Hoà, Gia Lộc, Gia Bình, Lộc Hưng, Phước Chỉ.

– Tổng Mỹ Ninh có 5 làng: An Thạnh, Lợi Thuận, Phước Thạnh, Phước Lưu, Thanh Phước. 

– Tổng Triêm Hoá có 5 làng: Cẩm Giang, Hiệp Thạnh, Phước Trạch, Thạnh Đức, Trường Hoà.

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 và trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, chính quyền cách mạng thành lập thêm huyện Khăng Xuyên (1949), gồm 3 xã: Khăng Xuyên Nam, Khăng Xuyên Trung, Khăng Xuyên Bắc. Tháng 5.1951, Trung ương Cục miền Nam ([2]) bố trí lại chiến trường Nam bộ, lấy sông Tiền làm ranh giới phân chia thành hai Phân liên khu miền Tây và Phân liên khu miền Đông, đồng thời quyết định sáp nhập một số tỉnh. Trong đó, Tây Ninh cùng hai huyện Hóc Môn, Gò Vấp (tỉnh Gia Định) và hai huyện Đức Hoà Thành, Trung Huyện (tỉnh Chợ Lớn) sáp nhập thành tỉnh Gia Định-Ninh. Sau đó, Tỉnh uỷ Gia Định-Ninh quyết định thành lâp huyện căn cứ Dương Minh Châu, gồm 5 xã: Ninh Thạnh, Thạnh Bình, Chơn Bà Đen, Định Thành và Phước Ninh.

Trên cơ sở sáp nhập tỉnh, huyện Khăng Xuyên sáp nhập vào huyện Châu Thành. Các xã của huyện Châu Thành sáp nhập thành liên xã: 3 xã Hảo Đước, Hoà Hội, Trí Bình thành xã Đước Hoà Bình; 3 xã Long Giang, Long Chữ, Long Khánh thành xã Tam Long. Sau đó, sáp nhập  thêm 2 xã Ninh Điền và Khăng Xuyên Nam vào xã Tam Long thành xã Long Xuyên Điền; xã Phước Hội và xã Lộc Ninh thành xã Phước Ninh.

Huyện Trảng Bàng sáp nhập hai xã Đôn Thuận và Thuận Lợi thành xã Đôn Thuận Lợi; hai xã Phước Trạch và Hiệp Thạnh thành xã Hiệp Phước; 2 xã Thạnh Đức và Cẩm Giang thành xã Thạnh Giang.

Sau khi ký kết Hiệp định Genève (7.1954) lập lại hoà bình ở Đông Dương, tháng 10-1954 tỉnh Tây Ninh được tách từ tỉnh Gia Định-Ninh và trở lại ranh giới như hiện nay. Thị xã Tây Ninh được thành lập trên phần đất của xã Thái Hiệp Thạnh (bao gồm phần thị tứ nhất của 3 xã Thái Bình, Hiệp Ninh và Ninh Thạnh). Thành lập huyện Toà Thánh (nay là huyện Hoà Thành) gồm các xã: Hiệp Ninh, Long Thành, Ninh Thạnh và Trường Hoà.

Sau chiến thắng Tua Hai năm 1960, ta thành lập tỉnh căn cứ lấy bí số là C.1000 gồm các huyện Châu Thành, Dương Minh Châu, C105 (Tân Biên ngày nay), do đồng chí Hoàng Minh Đạo làm Bí thư. Song, tỉnh C.1000 chỉ tồn tại vài tháng rồi giải thể. Năm 1961, thành lập huyện Bến Cầu với 8 xã: Long Thuận, An Thạnh, Tiên Thuận, Lợi Thuận, Long Khánh, Long Giang, Long Chữ và Rừng Nhum. Cũng trong năm 1961, huyện Gò Dầu được tách ra khỏi huyện Trảng Bàng, huyện Gò Dầu có 6 xã: Thanh Phước, Phước Thạnh, Hiệp Thạnh, Phước Trạch, Thạnh Đức, Cẩm Giang. Cuối năm 1963, huyện Gò Dầu thành lập thêm 2 xã mới là Bàu Đồn, Suối Bà Tươi và thị trấn Gò Dầu.

Tháng 10-1967, chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, Trung ương Cục miền Nam quyết định thành lập 6 phân khu để tạo mũi nhọn đánh vào Sài Gòn- sào huyệt của địch, theo đó huyện Trảng Bàng được nhập về Phân khu I. Năm 1972, huyện Trảng Bàng được trả về Tây Ninh.

Về phía ngụy quyền, năm 1948, chúng thành lập quận Gò Dầu Hạ. Năm 1954 đến 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn giữ ranh giới hành chính cũ của tỉnh Tây Ninh. Từ năm 1956 trở đi, ngụy quyền đã nhiều lần thay đổi ranh giới các quận, xã. Năm 1956, sáp nhập ấp Phước Mỹ (xã Phước Chỉ) về tỉnh Long An. Năm 1958, chia quận Châu Thành làm 2 quận: Phước Ninh và Phú Khương. Năm 1961, đổi tên quận Trảng Bàng thành quận Phú Đức. Năm 1963, sáp nhập xã Bến Củi (quận Khiêm Hanh) vào quận Tri Tâm tỉnh Bình Dương. Năm 1963, để tăng cường tuyến phòng thủ phía tây bắc Sài Gòn, ngụy quyền Sài Gòn thành lập tỉnh Hậu Nghĩa gồm 4 quận: Đức Hoà, Đức Huệ (tỉnh Long An), Củ Chi (tỉnh Gia Định) và Phú Đức (tức huyện Trảng Bàng, Tây Ninh)([3]). Lúc này, tỉnh Tây Ninh còn 4 quận: Phú Khương, Phước Ninh, Hiếu Thiện và Khiêm Hanh, với 8 tổng, 46 xã.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, do nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, tỉnh Tây Ninh đã nhiều lần sắp xếp lại địa giới hành chính huyện, xã cho phù hợp với tình hình mới, gồm 7 huyện và một thị xã. Đến năm 1989, thành lập huyện mới Tân Châu trên phần đất của hai huyện Tân Biên và Dương Minh Châu. Hiện nay, Tây Ninh có 8 huyện và một thị xã với 5 phường, 8 thị trấn và 82 xã.

Tỉnh Tây Ninh thuộc miền Đông Nam Bộ, diện tích tự nhiên 4.035,45km2. Phía Bắc và Tây giáp vương quốc Campuchia với đường biên giới dài 240km, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh 32km và tỉnh Long An 13,5km, phía Đông giáp hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước 123km.

Tây Ninh có địa hình tương đối bằng phẳng có ngọn núi Bà Đen cao 986m, là ngọn núi cao nhất Nam Bộ. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, khu vực núi Bà Đen là địa điểm tốt để cho các cơ sở cách mạng hoạt động, khi bị lộ hoặc bị kẻ thù khủng bố, các cơ sở cách mạng tạm rút về đây ẩn náu chờ thời cơ. Năm 1964, đế quốc Mỹ lợi dụng đỉnh cao núi Bà Đen đã đặt trạm viễn thông nhằm khống chế cửa ngõ phía Tây Bắc Sài Gòn, miền Đông Nam bộ và Đông Campuchia. Nơi đây đã diễn ra những trận chiến đấu ác liệt giữa lực lượng cách mạng và địch để giành giật lẫn nhau từng triền núi, hang đá.

Tây Ninh có hai sông lớn chảy qua, ở phía Tây của tỉnh là sông Vàm Cỏ Đông dài 220km bắt nguồn từ Vương quốc Campuchia băng qua những cánh rừng biên giới chảy vào đất Tây Ninh (dài 180km), xuống tỉnh Long An và đổ ra biển Đông. Dòng sông này rất thuận lợi cho giao thông đường thuỷ. Trong chiến tranh, sông Vàm Cỏ Đông từng là mồ chôn giặc ngoại xâm, là chứng tích ghi dấu bao chiến công oai hùng của quân và dân Tây Ninh. Ở phía Đông có sông Sài Gòn bắt nguồn từ Vương quốc Camphuchia dài 250km chảy qua Tây Ninh theo hướng Bắc Nam. Hiện nay, sông Sài Gòn là nguồn cung cấp nước dồi dào cho hồ Dầu Tiếng, một công trình thuỷ lợi lớn của cả nước.   

  1. NHÂN VĂN VÀ XÃ HỘI

Năm 1921, dân số Tây Ninh có khoảng 200.000 người, năm 1942: 260.000 người, năm 1969 có 335.301 người, năm 1972 có 392.540 người. Sau ngày giải phóng 30-4-1975, dân số có khảng 578.000 người. Theo tổng điều tra dân số, năm 2005 dân số Tây Ninh là 1.027.904 người.

Tây Ninh có 20 dân tộc, đa số là người Kinh, kế đến là dân tộc Khmer, Chăm… Các dân tộc Kinh, Khmer, Chăm, Hoa, Tà Mun đã định cư lâu đời ở Tây Ninh, còn các dân tộc khác mới vào lập nghiệp, định cư sau 30-4-1975.

Dân tộc Kinh sống ở Tây Ninh là những người có nguồn gốc từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và một số tỉnh từ miền Bắc vào cửa sông Cần Giờ theo đường sông lên Tây Ninh trao đổi hàng hoá với người địa phương rồi dần dần trụ lại đây sinh sống. Dân tộc Kinh phát triển ngày càng đông, yêu cầu mở rộng địa bàn sản xuất ngày càng trở nên cấp bách, do đó họ tiến dần đến vùng Trảng Bàng, Gò Dầu và tận chân núi Bà Đen để khai khẩn đất đai lập xóm làng, hình thành nên những vùng cư dân người Kinh đầu tiên ở Tây Ninh. Trước và trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dân tộc Kinh sống chan hoà với các dân tộc anh em trong quá trình sản xuất, chinh phục thiên nhiên, trừ thú dữ và chống giặc ngoại xâm, chống mọi chính sách gây chia rẽ dân tộc của kẻ thù và luôn thể hiện truyền thống yêu nước, đoàn kết trong công cuộc giải phóng đất nước. Dân tộc Khmer sống quây quần với nhau ở từng phum, sóc. Họ sống chủ yếu dựa vào hái lượm, đốt nương, tỉa rẫy. Thời Pháp thuộc, người Khmer sống tập trung ở 4 tổng: Chơn Bà Đen, Taben duyn (Tabel Yul), Băng-chơ-rum và Khăng Xuyên với 15 làng. Qua hai cuộc kháng chiến, chiến tranh tàn phá ác liệt, người Khmer phải di chuyển nhiều nơi, không sống theo từng phum, sóc riêng biệt mà sống chung với người Kinh, phần lớn họ sống ở những vùng rừng và nông thôn hẻo lánh. Dân tộc Chăm đã cùng với người Kinh vùng Trung Trung Bộ đi dần về phía Nam. Sau đó, định cư ở hai nơi là Châu Đốc và Tây Ninh. Tại Tây Ninh, dân tộc Chăm sống tập trung ở 2 xóm: xóm Chăm Đông Tác (nay thuộc ấp Thái Vĩnh Đông, Phường I, thị xã Tây Ninh) và xóm Chăm Tạo Tác (xã Tân Hưng, huyện Tân Châu). Dân tộc Chăm theo đạo Hồi (Islam).

Đồng bào các dân tộc với phong cách sống hào hùng đã đổ ra bao công sức và xương máu để xây dựng và giữ gìn mảnh đất Tây Ninh.

Tây Ninh có 05 tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Hồi giáo, Tin Lành. Số lượng tín đồ đông nhất là ở các tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Cao Đài.

Đạo Phật du nhập vào Tây Ninh cùng với cư dân người Việt, gắn liền với quá trình khai hoang lập ấp, làm ăn sinh sống. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, một số chùa phật cũng là nơi ẩn náu để hoạt động cách mạng của những người yêu nước và cán bộ, đảng viên Cộng sản; cho nên, đạo Phật gần gũi với nhân dân địa phương.

Công giáo ở Tây Ninh với cơ sở đầu tiên là họ đạo Tha La (xã An Hòa, huyện Trảng Bàng) do một số linh mục([4]) trốn chạy lệnh cấm đạo của triều đình Huế lập ra. Năm 1861, thực dân Pháp đánh chiếm Tây Ninh, họ đạo Tha La phát triển mạnh, đã cử nhiều linh mục([5]) lên thành lập họ đạo ở thị xã Tây Ninh và sau đó tiếp tục đi nhiều nơi trong tỉnh để thành lập các họ đạo khác. Nhìn chung, đại bộ phận tín đồ Công giáo là người Việt Nam yêu nước, họ cùng sống, cùng khổ trong xã hội thuộc địa của thực dân Pháp, đều chịu nhiều áp bức bóc lột và căm thù giặc ngoại xâm. Cho nên, đa số tín đồ đã cùng với quần chúng địa phương vượt qua khó khăn, tìm mọi cách giúp đỡ cán bộ, ủng hộ cách mạng, góp phần vào công cuộc giải phóng dân tộc. 

Đạo Cao Đài ra đời năm 1926, do một số quan lại, địa chủ khởi xướng thành lập và được thực dân Pháp cho phép. Trong hai cuộc chiến tranh xâm lược, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đều có âm mưu, thủ đoạn lợi dụng khối quần chúng tín đồ Cao Đài để chống phá cách mạng. Tuy có thủ đoạn khác nhau, nhưng âm mưu cơ bản của chúng là mua chuộc, lợi dụng, lôi kéo, rúng ép, khống chế, kìm giữ để nắm khối quần chúng tín đồ phục vụ âm mưu xâm lược của chúng. Trước tình hình đó, chính sách đối với đạo Cao Đài được Đảng ta quan tâm thực hiện từ năm 1952 và được xem là bước ngoặc đánh dấu sự hình thành chính sách Cao Đài vận của Đảng. Chính sách Cao Đài vận là nhiệm vụ quan trọng đối với phong trào cách mạng ở Tây Ninh đã được Đảng bộ Tây Ninh chú trọng thực hiện trong những năm còn lại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. 

Mùa xuân 1975, với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta giành thắng lợi hoàn toàn, tỉnh Tây Ninh được giải phóng. Quần chúng tín đồ sôi nổi tham gia các phong trào cách mạng, góp phần đắc lực ổn định trật tự trị an trong vùng Toà Thánh. Quần chúng tín đồ Cao Đài lên án, tố cáo những hoạt động lợi dụng đạo chống phá cách mạng để chính quyền kịp thời trấn áp, trừng trị.

Thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước có những quan điểm, chính sách đổi mới đối với tôn giáo, trong đó có đạo Cao Đài, cho nên hoạt động của đạo Cao Đài có nhiều khởi sắc. Quyền tự do tín ngưỡng được đảm bảo hơn bao giờ hết.

Tây Ninh có biên giới giáp với Vương quốc Campuchia, là khu căn cứ địa của cả Nam Bộ, vừa kháng chiến chống giặc ngoại xâm giải phóng Tổ quốc, vừa làm nghĩa vụ quốc tế với cách mạng Campuchia. Hai nước cùng hỗ trợ nhau kháng chiến chống kẻ thù chung. Từ ngày hai nước được hoàn toàn giải phóng, mỗi nước xây dựng đất nước theo con đường do Đảng mỗi nước đã chọn, Tây Ninh đã thực hiện theo đường lối đối ngoại của Đảng ta là độc lập, chủ quyền và đoàn kết hữu nghị. Nhưng từ tháng 5-1975, về phía Campuchia, do có sự xúi giục của bên ngoài, tập đoàn Pôn-pốt đã tiến hành cuộc diệt chủng dân tộc họ và lấn chiếm biên giới Tây Nam của Tổ quốc ta. Tháng 9-1977, chúng đã mở cuộc chiến tranh xâm lược đất nước ta trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, trong đó có đoạn biên giới Tây Ninh.    

Cùng với đặc điểm của vùng biên giới, Tây Ninh còn là tỉnh căn cứ địa cách mạng của Phân Liên khu uỷ miền Đông, Xứ uỷ, sau là Trung ương Cục miền Nam. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, địch đã mở nhiều  cuộc càn quét lớn đánh vào đây nhằm huỷ diệt cơ quan đầu não lãnh đạo cách mạng miền Nam, 60/73 xã bị tàn phá hoàn toàn bởi chiến tranh. Do đó, nhiệm vụ cách mạng của Tây Ninh hết sức nặng nề, vừa chiến đấu diệt địch, vừa bảo vệ căn cứ địa cách mạng của Trung ương Cục miền Nam.

Tây Ninh là tỉnh nghèo, trước giải phóng công nghiệp của tỉnh không đáng kể, ngoài một số cơ sở tiểu thủ công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Tây Ninh có hai quốc lộ 22A và 22B và một số tỉnh lộ, trong chiến tranh bị tàn phá nặng nề, các trục lộ của tỉnh, liên tỉnh bị gián đoạn hoàn toàn. Bước vào giai đoạn mới, Tây Ninh là tỉnh nông nghiệp, xuất phát điểm rất thấp so với các tỉnh miền Đông Nam bộ. Với những khó khăn đó, Đảng bộ và quân dân Tây Ninh đã nỗ lực rất lớn để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Ngày nay dù còn nhiều khó khăn, nhưng tỉnh Tây Ninh được xếp vào vùng kinh tế trọng điểm của các tỉnh phía Nam.

III. KINH TẾ-XÃ HỘI TÂY NINH DƯỚI SỰ CAI TRỊ CỦA THỰC DÂN PHÁP

Song song với việc hành quân đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Tây Ninh, thực dân Pháp lần lượt thiết lập bộ máy cai trị. Chúng đặt toà Tham biện ở Trảng Bàng và Tây Ninh; đưa bọn địa chủ phong kiến phản động vào bộ máy tề ngụy tay sai từ tỉnh, quận xuống tổng, xã.

Sau khi thiết lập bộ máy cai trị, thực dân Pháp bắt tay vào việc vơ vét khai thác tài nguyên của Tây Ninh. Nguồn lợi thiên nhiên chủ yếu của Tây Ninh lúc bấy giờ là lâm sản. Diện tích rừng chiếm phân nửa diện tích đất toàn tỉnh, hầu hết là rừng già. Khai thác gỗ ở đây rất dễ vì địa hình bằng phẳng, tiện lợi cho việc vận chuyển. Thực dân Pháp thấy rõ nguồn lợi kinh tế nói trên, đã thiết lập ngay bộ máy kiểm lâm đồ sộ và chặt chẽ. Ở tỉnh có Sở Kiểm lâm, bên dưới chia thành 7 quận kiểm lâm với nhiều đồn kiểm lâm. Ở mỗi quận Kiểm lâm có một sếp quận thường gọi là “Quan lớn Kiểm” cùng một số viên chức có nhiệm vụ cấp giấy phép khai thác và thu thuế các loại lâm sản. Mỗi đồn kiểm lâm thường có một tên đội, chuyên theo dõi, bắt giữ, phạt vạ những người làm rừng sai quy cách hoặc ăn tiền đút lót của những người làm rừng trái phép.  

Cùng với việc khai thác lâm sản, thực dân Pháp còn bao chiếm nhiều đất đai, lập các đồn điền cao su. Năm 1906, Công ty cao su Đông Dương (S.I.P.H) được thành lập. Công ty này chiếm đất lập ra hàng loạt đồn điền cao su, trong đó có đồn điền cao su Bến Củi. Công ty cao su Tây Ninh thành lập năm 1913, có trụ sở ở Sài Gòn, hoạt động của công ty là kinh doanh đồn điền cao su ở Tây Ninh, với các đồn điền cao su Vên Vên, Trà Võ, Hiệp Thạnh, Cầu Khởi. Một số tư sản người Pháp được sự bao che của chính quyền thực dân cũng bao chiếm đất lập ra một số đồn điền cao su khá lớn như: Sở Arnault (xã Chà Là, huyện Dương Minh Châu), Sở Oconell (xã Thanh Điền, Châu Thành), Sở Sina (xã Phước Thạnh, Gò Dầu), Sở Francini (xã Ninh Thạnh, Châu Thành), Sở Servin (xã Thái Bình, Châu Thành). Địa chủ người Việt cũng có một số sở cao su nhỏ từ 15-20ha, như: ở An Tịnh có 13 sở, Lộc Hưng 16 sở, Gia Lộc 20 sở. Từ Thanh Phước, Phước Thạnh đến Bàu Đồn, đông tây lộ 19, 26 cho đến Cầy Xiêng, Thanh Điền, Thái Bình, Đôn Thuận đều có trồng cao su.

Các đồn điền cao su đem lại nguồn lợi rất lớn cho chính quyền thuộc địa và bọn chủ tư bản người Pháp.

Ngoài việc bóc lột, vơ vét tài nguyên rừng và chiếm đất mở đồn điền cao su, thực dân Pháp còn thực hiện một chế độ thuế khoá hết sức nặng nề. Thuế là nguồn thu chính cho ngân sách toàn Đông Dương và Nam kỳ cũng như ngân sách tỉnh, vì vậy chúng đặt ra đủ loại thuế: thuế điền thổ, thuế nhà cửa, thuế trâu bò, thuế môn bài và cả đến thuế người gọi là thuế thân (còn gọi là thuế đinh hoặc sưu, loại thuế đánh vào đàn ông từ 18 đến 60 tuổi). Thống đốc Nam kỳ quy định mức thuế hàng năm tỉnh phải nộp cho ngân sách chung thường là rất nặng, đồng thời cho phép nếu không thu đủ thì tăng thuế, thậm chí tạo thêm các loại thuế mới để thu([6]).

Đi đôi với vơ vét bóc lột kinh tế, bọn thống trị còn thực hiện chính sách ngu dân, đầu độc văn hoá. Toàn tỉnh chỉ có ba trường tiểu học hoàn chỉnh([7]) với khoảng 400 học sinh, hầu hết là con em của tầng lớp trên. Ở xã chỉ có một lớp vỡ lòng hoặc lớp một, nhưng xã có, xã không. Vài ba xã mới có chung một trường dạy lớp ba. Do vậy, con em nhân dân lao động hầu như chịu cảnh mù chữ hoặc chỉ biết đọc, biết viết. Ngược lại, rượu “Phông-ten” được nhà nước thực dân khuyến khích dân uống, đại lý bán lẻ ở khắp nơi. Tệ nạn cờ bạc, mê tín dị đoan tràn lan khắp xóm ấp, chỗ nào cũng có sòng bạc ngày đêm sát phạt lẫn nhau.

Thực hiện chính sách chia để trị, thực dân Pháp gây tâm lý hận thù dân tộc giữa người Việt và người Khmer, người Chăm, gieo rắc tư tưởng khinh bỉ, kỳ thị, phân biệt đối xử giữa người Kinh với các dân tộc ít người. Ngoài ra chúng còn lợi dụng tính chất phát của người Khmer, người Chăm mà thẳng tay vơ vét, bóc lột, đẩy họ vào cảnh sống quanh năm cơ cực, lầm than. 

Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nền kinh tế Tây Ninh chỉ có một số cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp như xưởng chế biến mía đường Thanh Điền, nhà máy đèn, nhà máy nước thị xã, cơ sở xay xát gạo, trại cưa, lò rèn, lò gốm, lò than, che ép mía, bọng ép dầu… Theo đó, bắt đầu xuất hiện một thành phần xã hội mới là công nhân làm thuê, lúc đầu số lượng không nhiều, có khoảng trên dưới 1.000 người, trong đó hơn 2/3 là bán công. Vào những năm đầu thế kỷ XX, nhiều đồn điền cao su lớn nhỏ ra đời trên địa bàn Tây Ninh, kèm theo các xưởng chế luyện cao su ở Vên Vên, Bến Củi được xây dựng; từ đó, xuất hiện công nhân đồn điền cao su. Khoảng giữa năm 1936, khi các đồn điền cao su mở rộng đến 8.622ha, số công nhân tăng lên đến 3.500 người bán công bán nông và 1.550 công nhân chuyên nghiệp. Họ gồm có dân tại chỗ và những phu mộ từ miền Bắc, miền Trung vào làm theo chế độ contrat([8]) vô cùng hà khắc. Họ bị cảnh ngộ trói buộc, vừa phải lao động hết sức nặng nhọc, mỗi ngày làm việc từ 10 đến 14 giờ, mà đời sống vô cùng cơ cực, cơm ăn không đủ no, quần áo không đủ mặc, chỗ ở chật chội, ốm đau không có thuốc uống, không được đi điều trị ở bệnh viện, hết hạn contrat cũng không thể trở về quê nhà. Không những thế, bọn chủ và xếp cai còn trút lên đầu họ roi vọt, tra tấn nếu bỏ trốn.

Tây Ninh lúc đó là nơi đất rộng người thưa. Nông dân chiếm trên 80% dân số,  là những người trực tiếp khai vỡ đất đai, nhưng không được làm chủ mảnh đất của mình, vì đất mới vỡ nhiều phèn khó canh tác, một số ruộng tốt đều tập trung trong tay bọn địa chủ, công chức kiêm địa chủ, thương gia kiêm địa chủ. Do đó, người nông dân Tây Ninh dưới thời thuộc Pháp cũng bị bóc lột hết sức nặng nề thông qua các hình thức thuế khoá rất hà khắc, nhất là thuế thân.  

Dưới sự cai trị của thực dân Pháp, xã hội Tây Ninh có sự phân hóa thành các giai tầng rõ rệt. Trong đó, công nhân và nông dân là thành phần chủ yếu, ngoài ra còn có các tầng lớp tư sản, địa chủ, trí thức, tiểu tư sản thành thị.

Tầng lớp tư sản ở Tây Ninh mà hầu hết là tư sản vừa và nhỏ hoặc tiểu chủ nắm trong tay các cơ sở chế biến nhỏ, chủ yếu là ngành xay xát gạo và các xí nghiệp thủ công như lò gạch, lò đường, xưởng ép dầu đậu phọng (có bọng ép dầu), lò rèn…các tiểu chủ này cũng bóc lột công nhân.

Đa số địa chủ là chỗ dựa của thực dân Pháp ở cơ sở. Đối với những tên địa chủ tay sai đều được tham gia vào các ban hội tề xã, thực dân Pháp cố tình làm ngơ để bọn này bao chiếm đất ruộng công và đất ruộng của nông dân. Ngoài ra, chúng còn cho bọn này làm chủ thầu khai thác gỗ. Với nguồn lợi đất đai và khai thác gỗ giúp cho bọn địa chủ nhanh chóng trở thành tầng lớp giàu có và nắm nhiều quyền lực ở địa phương, đóng vai trò tay sai đắc lực cho thực dân Pháp trong việc siết chặt bộ máy cai trị của chúng đến tận các xã ở vùng sâu, vùng xa([9]).

Tầng lớp trí thức tiểu tư sản mới hình thành sau khi thực dân Pháp đặt ách cai trị và được Pháp đào tạo để phục vụ cho bộ máy cai trị của chúng. Một bộ phận của tầng lớp này muốn ngoi lên địa vị cao trong xã hội nên khi thành đạt đã gắn bó với chính quyền thực dân, làm lợi cho bọn thống trị ngoại bang.

Trong thời kỳ thực dân Pháp cai trị, ở tỉnh lỵ và thị trấn hình thành tầng lớp lao động thành thị như: phu xe kéo, phu xe thổ mộ, phu quét rác, thợ sửa xe…Lớp người này phải chịu một cuộc sống cơ cực cùng với gánh nặng thuế khoá của thực dân Pháp.

Giai cấp  tư sản và địa chủ ở Tây Ninh chiếm một tỷ lệ không đáng kể so với dân số của tỉnh, nhưng lại là giai cấp có thế lực mạnh nhất trong xã hội thuộc địa, được bọn thống trị nuôi dưỡng làm tay sai cho chúng.

  1. TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH BẤT KHUẤT CHỐNG GIẶC NGOẠI XÂM

Quá trình hình thành và phát triển của tỉnh Tây Ninh gắn liền với quá trình đấu tranh gay go, ác liệt chống giặc ngoại xâm.

Những ngày đầu giữ gìn biên cương của Tổ quốc, ba anh em Huỳnh Công Giản (Ông lớn Trà Vong), Huỳnh Công Thắng, Huỳnh Công Nghệ liên tục đánh dẹp giặc quấy nhiễu biên giới. Công lao của các tướng lĩnh và tinh thần yêu nước bất khuất chống giặc ngoại xâm bảo vệ quê hương của nhân dân Tây Ninh vô cùng oanh liệt.

Năm 1859, giặc Pháp đánh chiếm Gia Định. Tháng 8.1860, Nguyễn Tri Phương được vua Tự Đức cử vào Gia Định nhận chức Thống đốc Quân vụ Đại thần, tổ chức xây dựng phòng tuyến Đại Đồn ở Chí Hoà để ngăn giặc Pháp. Hưởng ứng lời kêu gọi của Nguyễn Tri Phương, nhân dân Gia Định và các vùng xung quanh đã tình nguyện dốc sức xây dựng Đại Đồn một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, do chủ trương “lấy chủ đợi khách”([10]) của Nguyễn Tri Phương, Đại Đồn thất thủ (25.2.1861). Sau đó, trong thế thắng, thực dân Pháp mở rộng cuộc chiến ra các tỉnh miền Đông, chúng chiếm Trảng Bàng, Tây Ninh.

Khi thực dân Pháp đánh chiếm Gia Định, Lãnh binh Tòng([11]) đã từng điều binh ra chống Pháp. Năm 1861, ông đưa gần 300 quân đến chi viện cho đồn Chí Hoà. Quân của Lãnh binh Tòng phải vượt qua các chốt chặn của địch ở Hóc Môn, Bà Điểm, Bà Quẹo, bị tiêu hao nhiều, còn hơn phân nửa đến được Đại Đồn tham gia chiến đấu. Sau khi quân Pháp phá được Đại Đồn, Lãnh binh Tòng tập hợp số quân còn lại rút về Trảng Bàng. Biết thế nào quân Pháp cũng lên đánh chiếm Tây Ninh, ông lo củng cố lại lực lượng, xây dựng tuyến phòng thủ từ xa, mặc dù vũ khí còn thô sơ, lại không được sự chi viện của triều đình, nhưng Ông và quân sĩ vẫn quyết tâm chống giặc đến cùng để bảo vệ quê hương.

Quân Pháp tiến đánh Trảng Bàng, quân của Lãnh binh Tòng kháng cự quyết liệt, do binh lực ít nên tuyến phòng thủ ngoài xa của ông chỉ chống giữ được trong một ngày đã bị quân Pháp phá vỡ; nghĩa quân của ông đành rút vào Tha La (An Hoà, Trảng Bàng) ẩn tránh. Ông cùng hai tùy tùng ở trong nhà một hương chức theo đạo Thiên Chúa. Tại đây, ông phát hịch chiêu mộ quân đánh giặc. Vị hương chức chủ nhà cũng tích cực vận động giáo dân  cũng như quần chúng ở chung quanh tòng quân giết giặc. Công việc mới triển khai được hai ngày thì bị lộ vì có kẻ phản bội, bí mật ra Trảng Bàng chỉ điểm cho quân Pháp về An Hoà bao vây căn nhà ông đang ở. Bọn Pháp đã bắn chết vị hương chức chủ nhà và người tuỳ tùng của Lãnh binh Tòng, đồng thời bắt ông và một tuỳ tùng khác. 

Pháp cấp tốc đưa ông về Sài Gòn. Tại Sài Gòn, chúng dụ dỗ ông qui thuận, hứa sẽ ban chức tước và cho ông tiếp tục cai quản vùng Trảng Bàng. Nhưng chúng không thuyết phục được, cuối cùng đày ông đi biệt xứ ra đảo Guyane([12]). Sau một thời gian, ông mất tại đảo.  

Khi Tây Ninh bị quân Pháp tiến chiếm, ông Khâm Tấn Tường giữ chức Tham tán Quân vụ ở Phủ Tây Ninh, đã không tuân lệnh bãi binh của triều đình, ông rút về An Cơ([13]), chiêu mộ nghĩa quân, mua sắm vũ khí, lương thực, dựa vào địa hình thuận lợi của rừng, tổ chức chống Pháp. Thành An Cơ có bề mặt bờ thành rộng khoảng 2m, chiều dài hàng mấy cây số, bao bọc một khu đất rộng, ba mặt thành dựa vào khúc cong của sông Sóc Om, trên mặt tiền bờ thành cao có luỹ tre dày kiên cố. Nghĩa quân bố trí hai cánh giữ thành chống lại giặc Pháp. Với cách đánh, một là dùng gỗ treo trên cao cho lao xuống; hai là dùng dầu chai nấu sôi, thụt bắn dầu ra xa, được gọi là cách đánh “hoả hổ”.

Quân Pháp từ Tây Ninh tấn công lên An Cơ, bị nghĩa quân Khâm Tấn Tường đánh bị thương và chết khá nhiều, buộc phải rút lui. Sau đó, thực dân Pháp tăng cường thêm lực lượng tinh nhuệ, tấn công nhiều mặt vào thành An Cơ, mặt sau thành do Hương trùm Hạt (ở Tầm Long), tay sai quân Pháp dẫn đường. Lần này chúng phá được thành, ông Khâm Tấn Tường không để cho giặc bắt, đã tử tiết tại chỗ. Nhân dân kính phục, thương xót, đưa thi hài ông về chôn cất tại Bến Thứ và lập miếu thờ ông tại đây.

Trong quân ngũ của ông Khâm Tấn Tường còn có nhiều lãnh binh chống Pháp vô cùng oanh liệt. Tiêu biểu là Lãnh binh Két. Nhân dân ở Trảng Bàng và Bến Cầu truyền tụng nhiều về chuyện Lãnh binh Két đánh Pháp([14]). Ở vùng Long Giang, Long Khánh…(huyện Bến Cầu ngày nay) lúc bấy giờ đều là rừng, nghĩa quân của ông Lãnh binh Két đã lợi dụng rừng cây rậm rạp và đêm tối trời để tấn công các đồn giặc. Ông đưa quân bám sát và theo dõi các đồn quân Pháp, khi thấy sơ hở lập tức điều quân bất thần đột kích vào đồn, phóng hoả đốt đồn và dùng gươm giáo, mũi tên tẩm thuốc độc tiêu diệt giặc Pháp, làm cho giặc Pháp trở tay không kịp và sau đó rút lui nhanh về rừng rậm khi trời đang còn tối. Khi giặc Pháp tập trung quân truy lùng, Lãnh binh Két cho quân phân tán thành nhiều nhóm nhỏ ở trong dân, tránh đụng độ trực tiếp với giặc. Quân Pháp không tài nào phát hiện được quân của Lãnh binh Két. Cứ như thế quân của ông đã nhiều lần tập kích vào các đồn giặc ở Gò Dầu, Trảng Bàng… gây cho chúng không ít tổn thất về vật chất và sinh mạng. Sau khi Lãnh binh Két mất, nghĩa quân của ông cũng giải tán.

Trong 5 năm 1861-1866, trên đất Gia Định, Biên Hoà và Định Tường có nhiều cuộc nổi dậy đánh Pháp. Nổi bật nhất là cuộc nổi dậy của Trương Định.

Sau khi Trương Định hy sinh ở rừng lá Gò Công, cháu của ông là Trương Quyền([15]) tiếp tục đứng lên chống Pháp. Ông đưa nghĩa quân về rừng Tây Ninh, lập căn cứ ở Băng Dung (Phước Vinh) và liên kết với nghĩa quân Pô-kum-Pô([16]) để chống Pháp.

Sau thời gian xây dựng lực lượng, Trương Quyền thấy phải chiếm tỉnh lỵ Tây Ninh làm bàn đạp tiến về Sài Gòn. Trận đánh diễn ra vào ngày 7.6.1866. Lính Pháp ở đồn Cầu Quan thấy đám đông hàng nghìn người tiến về tỉnh lỵ, viên đại uý đồn trưởng Savin de Larclauze chủ quan lệnh cho đại uý Pinault đem quân đến đàn áp. Cậy có vũ khí tối tân, Pinault hung hăng cùng thiếu uý Lesage dẫn 20 lính trong đồn xông ra định giải tán đám đông quần chúng ở Bến Trường Đổi (cách Cầu Quan trên 1km). Không ngờ hắn bị quần chúng bao vây, chặn đường rút lui về đồn. Hoảng sợ, hắn liền rút súng bắn vào đám đông làm vài người bị thiệt mạng. Hắn tưởng quần chúng sẽ hốt hoảng bỏ chạy, không dám chống lại, nhưng lập tức hắn bị giết ngay. Tên thiếu uý Lesage thúc quân xông tới, bắn loạn xạ vào quần chúng. Nhưng chỉ mấy phút sau, hắn cũng bị quần chúng ùa tới giết chết cùng 9 tên lính Pháp, số còn lại sợ hãi vội vàng tháo chạy về đồn.

Quan binh Pháp ở Tây Ninh hoảng sợ, tên đại úy đồn trưởng Savin de Larclauze cấp báo về Gia Định xin viện binh. Thống đốc Nam kỳ là đô đốc De la Grandière phái hai đạo thuỷ quân và lục quân do thiếu tá Marchaise chỉ huy từ Sài Gòn lên cứu nguy cho đồng bọn ở Tây Ninh.

Đến Tây Ninh, Marchaise thấy bốn bề yên tĩnh, không biết nghĩa quân của Trương Quyền ở đâu. Hắn tổ chức hành quân truy kích, lùng sục khắp vùng 6 ngày cũng không tìm thấy, đến 3 giờ chiều ngày 14.6.1866, chúng mới đụng độ nghĩa quân tại Rạch Vịnh. Trận chiến này đã được báo tiếng Pháp “Tin tức Sài Gòn”([17]) đăng tải khá tỉ mỉ:

“Kích thích bởi lòng căm thù đối với những kẻ thù (nghĩa quân) cho đến lúc bấy giờ không thấy mặt, những người lính của chúng ta (quân Pháp) đã mở ra tuyến tán binh và vượt suối để lao tới. Họ gặp một cánh đồng lầy và ở đó họ chịu đựng một trận đánh không cân sức với một lực lượng có số quân đông áp đảo.

Thế là, chiến trận đẫm máu đã diễn ra, trong đó người ta phải đánh giáp lá cà, thiếu tá Marchaise bị giết tại Rạch Vịnh. Đến 5 giờ chiều quân Pháp không còn nghĩ đến việc ở lại giữa cái đầm lầy này để bao vây đối phương nên đã rút về, và mãi đến 3 giờ sáng hôm sau mới đến được nơi đồn trú”.

Một lần nữa quân Pháp thất trận và phải mở đường máu chạy về đồn Tây Ninh với tinh thần hoang mang lo sợ. Với cách đánh táo bạo và bất ngờ, đêm 23.6.1866 Trương Quyền đưa quân tấn công vào Sài Gòn theo hai cánh:

Cánh quân thứ nhất do Trương Quyền trực tiếp chỉ huy đột nhập vào vùng Chợ Lớn, thọc sâu vào đồn Thuận Kiều, đánh giáp lá cà với bọn kỵ binh, diệt nhiều quân Pháp. Đến rạng sáng hôm sau (24.6.1866), nghĩa quân tiêu diệt hết quân Pháp trong đồn. Quân Pháp tiếp viện ngày càng đông. Cuộc chiến đấu quanh đồn Thuận Kiều diễn ra thêm ác liệt giữa ban ngày nên không thuận lợi cho nghĩa quân, Trương Quyền đã mưu trí cho quân rút khỏi đồn Thuận Kiều.

Cánh quân thứ hai thọc sâu vào Hóc Môn- Bà Điểm, tấn công vào quân Pháp đồn trú tại đây, quân Pháp từ Gia Định, Gò Vấp lên tiếp viện, nghĩa quân đánh nhau với giặc cho tới sáng rồi mới rút về Củ Chi.

Cuộc tập kích của nghĩa quân Trương Quyền làm chấn động cả Gia Định, nhất là chiến thắng ở đồn Thuận Kiều đã làm cho quân Pháp tổn thất lớn.

Sau chiến thắng đồn Thuận Kiều, Trương Quyền cho nghĩa quân rút về Tây Ninh, phối hợp với nghĩa quân Pô-kum-Pô tiếp tục chống Pháp.

Ngày 02.7.1866, quân Pháp điều quân đánh vào căn cứ của nghĩa quân. Nghĩa quân đã bám sát giặc và phản công vào lúc 12 giờ trưa hôm ấy tại cánh rừng nhỏ ở Trà Vong. Bị tổn thất nặng, quân Pháp hốt hoảng bỏ chạy. Trưa hôm sau, chúng lại rơi vào trận phục kích khác trên đường về. Đêm ấy, nghĩa quân Việt-Khmer đánh vào Tây Ninh, đốt phá công  sở của bọn lính Pháp và nhà cửa của những tên tay sai.

Bị thua đau, quân Pháp từ Sài Gòn tăng viện cho Tây Ninh thêm 200 lính Pháp, trong đó có 100 lính tập, 50 lính thuỷ. Chúng tăng cường truy tìm căn cứ của liên quân Việt-Khmer để hoạch định một trận đánh lớn. Không phát hiện nơi đóng quân của Trương Quyền, chúng quay sang tấn công vào Rạch Vịnh, nơi chúng đoán là căn cứ của Pô-kum-Pô. 

Giữa tháng 7.1866, quân Pháp tấn công vào Rạch Vịnh. Trước tiên chúng cho pháo bắn dọn đường, đoàn kỵ binh tiến trước, quân lính tiến theo. Hai bên giao chiến tại Rạch Vịnh hơn nửa ngày, quân Pháp có ưu thế về lực lượng, có pháo binh yểm trợ, binh lính nhiều đạn dược, căn cứ Pô-kum-Pô bị trúng pháo, các ổ súng đồng cũng bị hư hại, nghĩa binh bị thương và hy sinh khá nhiều. Trong tình thế bất lợi, Pô-kum-Pô quyết định phân tán nhỏ lực lượng để tránh mũi nhọn tấn công của giặc Pháp. Sau đó, Pô-kum-Pô rút về Campuchia và nghe đồn năm sau (1867) thì mất.

Trong khi đó, Trương Quyền và nghĩa quân của ông khôn khéo khi ẩn, khi hiện ở nhiều nơi, khi đánh ở phía nam tỉnh, khi đánh ở phía bắc tỉnh. Về sau Trương Quyền yếu hẳn, nghĩa quân tan rã vì thiếu vũ khí, lương thực, thuốc men, đạn dược không có, ông về rừng Bến Kéo lập trại dưỡng bệnh và tạ thế ngày 20 tháng 8 âm lịch năm 1871 ở Bến Kéo, thọ 55 tuổi.

Cuộc chiến đấu oanh liệt của Trương Quyền và nghĩa quân của ông đã làm cho quân Pháp trả giá khá đắt về sinh lực mới tạm dẹp yên được cuộc nổi dậy trên đất Tây Ninh.

Tiếp theo nghĩa quân Trương Quyền còn có các tổ chức yêu nước khác như Thiên Địa hội do ông Hồ Văn Chư đứng đầu ở An Tịnh, Trảng Bàng; ông Nguyễn Văn Phát ở An Hoà và nhiều vị khác ở Gia Bình, Vàm Trảng…nổi lên hoạt động, nhưng không thu được kết quả gì đáng kể.

Tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm của nhân dân Tây Ninh dưới sự lãnh đạo của các quan lại địa phương đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp trong toàn tỉnh, nhưng không làm xoay chuyển được tình thế, bởi so sánh tương quan lực lượng quá chênh lệch, một bên là nhân dân yêu nước đã bị triều Nguyễn giao nộp ba tỉnh miền Đông cho giặc Pháp từ năm 1862, lại phải đương đầu với đội quân viễn chinh của thực dân Pháp.

Đất Tây Ninh dẫu mất vào tay bọn xâm lược Pháp, nhưng truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của dân Tây Ninh được tôi luyện, phát huy mạnh mẽ khi có ánh sáng của Đảng Cộng  sản Việt Nam vào Tây Ninh.

CHƯƠNG II

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN

TỪ KHI CÓ ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẾN CÁCH MẠNG

THÁNG TÁM  NĂM 1945

(1930- 1945)

  1. TẬP HỢP QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN ĐOÀN KẾT ĐẤU TRANH ĐÒI DÂN SINH DÂN CHỦ, TIẾN TỚI HƯỞNG ỨNG CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KỲ (1930- 1940)

Chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Tây Ninh đã đưa tới mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa bọn thống trị Pháp cùng bọn tay sai với đại đa số quần chúng nhân dân lao động, trong đó giai cấp nông dân và công nhân cao su là lực lượng đông đảo và chủ yếu trong cuộc đấu tranh giành quyền sống, quyền tự do. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh trước khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, hơn 300 anh em phu làm đường Quốc lộ 22 đi Kompong-Chàm, chống lại bọn chủ thầu để đòi tăng lương.

Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, Đảng đề ra đường lối cách mạng là chống đế quốc, chống phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc , người cày có ruộng. Đường lối này nhanh chóng được các tầng lớp nhân dân tích cực hưởng ứng.

Các tỉnh có phong trào cộng sản hoạt động mạnh như Gia Định, Chợ Lớn, Thủ Dầu Một… ảnh hướng của Đảng bắt đầu lan rộng đến Tây Ninh.

 Đồng chí Võ Văn Lợi ([18]) từ Bà Điểm (Hóc môn), lên Giồng Nần (huyện Châu Thành), vừa sinh sống vừa tuyên  truyền giác ngộ quần chúng chống Pháp. Sau gần một năm hoạt động bí mật, năm 1930 đồng chí Lợi được chi bộ Đảng ở Bà Điểm kết nạp vào Đảng, rồi nhận nhiệm vụ về Tây Ninh tiếp tục hoạt động và xây dựng phong trào cách mạng. Đồng chí Lợi giác ngộ được 4 quần chúng tốt là anh Trương Văn Chẩn, Trương Văn Phú, Nguyễn Văn Viết, Trần Văn Luông làm nòng cốt cho phong trào. Kế hoạch của đồng chí Lợi là thông qua tuyên truyền vận động quần chúng để đến cuối năm 1930 sẽ tiến hành tổ chức Nông hội đỏ ở một số nơi, đồng thời lựa chọn những người ưu tú đề nghị Chi bộ ở Bà Điểm kết nạp vào Đảng, sau đó hình thành cơ sở Đảng tại đây. Nhưng kế hoạch này không thực hiện được vì đồng chí Võ Văn Lợi bị địch bắt và đày ra Côn Đảo. Địch tăng cường khủng bố gắt gao, các quần chúng tích cực hoạt động cách mạng ([19]) phải đổi vùng hoạt động sang đất Campuchia vào các làng người Việt như Trà Ky, Ba Ti, Truông Cồng…vừa cày thuê gặt mướn để sống, vừa móc nối với tổ chức Đảng ở Ba Ti([20]). Một thời gian sau, các quần chúng tích cực được chi bộ ở Ba Ti kết nạp vào Đảng và trở về hình thành cơ sở Đảng tiếp tục hoạt động ở Giồng Nần, Long Giang, Long Khánh thuộc huyện Châu Thành.

Tại Giồng Nần, các đồng chí vận động quần chúng nhân dân vào các hội vạn công cấy, công gặt, các hội ái hữu tương tế, đồng thời chọn một số người để thành lập tổ chức Nông hội đỏ, gồm các đồng chí: Trần Thị Tỏ, Trương Thị Thìn, Nguyễn Văn Chua, Trương Thị Lệ, Trương Văn Tàu, Lê Văn Rùm, Trương Văn Võ, Lê Văn Bương (Trương Hổ), Trương Văn Du, Lê Văn Sáu, Phạm Văn Tồn và Huỳnh Văn Dần([21]). Nhiệm vụ chủ yếu của Nông hội đỏ là lãnh đạo nông dân đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống sưu cao thuế nặng, chống áp bức bóc lột. Qua quá trình hoạt động, cơ sở Đảng ở vùng Giồng Nần bị địch theo dõi ráo riết, trong chuyến đi liên lạc với cơ sở Đảng ở Bà Điểm, hai đồng chí Nguyễn Văn Viết, Trần Văn Luông bị địch bắt và đày đi mất tích, còn lại hai đồng chí Trương Văn Chẩn và Trương Văn Phú vẫn giữ liên lạc với tổ chức Đảng ở Ba Ti, nhưng không gây dựng được phong trào và cũng không phát triển được cơ sở Đảng.

Ở Long Giang, Long Khánh, Long Chữ, hai đồng chí Đặng Văn Son và Nguyễn Văn Độ cũng hoạt động hết sức bí mật. Các đồng chí dựa vào tập quán sinh hoạt của nhân dân địa phương như vạn cấy, đám cưới, đám xác, cúng miễu…để tuyên truyền vận động quần chúng, đồng thời vẫn liên lạc với tổ chức Đảng ở Ba Ti. Cuối năm 1930, nhận lệnh hưởng ứng “Phong trào Xô Viết Nghệ Tỉnh”, các đồng chí treo khẩu hiệu “thả tù chính trị Nghệ An đỏ” trên các ngọn cây cao ở nhiều vùng thuộc xã Long Giang, Long Khánh, Long Thuận. Thời gian này là cao trào đấu tranh của cả nước, bọn địch điên cuồng khủng bố, đàn áp cách mạng. Nhưng hai đồng chí Nguyễn Văn Độ, Đặng Văn Son nhờ ý thức giữ bí mật tốt, nên vẫn tuyên truyền vận động , gây dựng được lực lượng nòng cốt cho phong trào. Tuy nhiên, hoạt động của các đồng chí chỉ trong một phạm vi nhỏ hẹp, chưa gây được phong trào rộng lớn.

Tháng 5.1931, đồng chí Nguyễn Văn Độ trong chuyến đi công tác bị địch bắt, tra tấn dã man, đồng chí kiên quyết không khai báo, địch đày đồng chí Độ ra Côn Đảo. Sau đó địch mở rộng khủng bố truy tìm những người cộng sản đến tận làng người Việt ở Ba Ti trên đất Campuchia, các đồng chí ở đây phải phân tán nhỏ để tránh sự khủng bố của địch. Đồng chí Hai Giáp từ Ba Ti chuyển về vùng Long Khánh cùng với đồng chí Đặng Văn Son tiếp tục hoạt động cách mạng.

Sau phong trào Xô Viết Nghệ Tỉnh (1930-1931), thực dân Pháp tiến hành cuộc khủng bố trắng nhằm dập tắt ngọn lửa đấu tranh của quần chúng, phong trào cách mạng cả nước tạm thời lắng xuống, Tây Ninh cũng nằm trong tình trạng chung của cả nước, các đồng chí đảng viên và quần chúng nòng cốt tạm thời ẩn náu, giữ gìn bí mật lực lượng chờ thời cơ. Năm 1934-1935, phong trào cách mạng ở Tây Ninh dần khôi phục trở lại do đồng chí Lên (Tư Địa) là cán bộ Liên Tỉnh uỷ đến rừng Bàu Sen, Bàu Dài (thuộc huyện Dương Minh Châu ngày nay) hoạt động tuyên truyền, giác ngộ quần chúng. Từ đây, đồng chí Lên chuyển lên vùng Quán Cơm (nay thuộc Phường I, Thị xã Tây Ninh), trụ lại một thời gian rồi mở rộng phạm vi hoạt động ra các xã Ninh Thạnh,Thái Bình, Thanh Điền. Qua quá trình tuyên truyền vận động cách mạng, đồng chí Lên đã lựa chọn và kết nạp vào Đảng một số đồng chí, như: Nguyễn Văn Chấn, Nguyễn Văn Dú, Huỳnh Văn Sự, Trần Văn Đẩu, Trần Văn Mạnh, Nguyễn Văn Giang…hình thành cơ sở Đảng ở Quán Cơm. Về sau, đồng chí Lên đến hoạt động vùng Cẩm Giang (Gò Dầu), Đôn Thuận (Trảng Bàng) và kết nạp thêm đồng chí Xuyến.

Qua cao trào cách mạng 1930- 1931 và Xô Viết Nghệ Tỉnh, Đảng thấy rõ hơn vai trò của Mặt trận Dân tộc thống nhất chống đế quốc ở Đông Dương, ngày 18-11-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị thành lập Hội phản đế đồng minh nhằm tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, các thành phần dân cư, các giới và tổ chức đoàn thể vào Hội để đấu tranh vì mục tiêu chung là quyền lợi của dân tộc.

Đến năm 1935, phong trào cách mạng dần dần được khôi phục, nhưng hoạt động chủ yếu vẫn là tuyên truyền về sự khổ nhục của người dân mất nước, phải sống cảnh đời nô lệ, vạch trần sự áp bức, bóc lột của bọn thống trị và tay sai của địa phương, kêu gọi quần chúng đứng vào hàng ngũ đấu tranh để giải phóng mình, giành lại quyền sống tự do, giành lại cơm áo và ruộng đất.

Trong khi đó tình hình thế giới có nhiều chuyển biến, Chủ nghĩa phát xít ra đời, đe dọa hòa bình thế giới. Trong hoàn cảnh đó, Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ 7 (7- 1935) tổ chức tại Mát-cơ-va (Liên Xô) đề ra chủ trương thành lập Mặt trận Bình dân ở các nước, tập hợp rộng rãi các lực lượng dân chủ đấu tranh chống phát xít và nguy cơ chiến tranh.

Tháng 4-1936, Mặt trận Bình dân Pháp có Đảng Cộng sản Pháp tham gia làm nòng cốt giành được thắng lợi trong cuộc tổng tuyền cử và lập ra Chính phủ Mặt trận Bình dân có xu hướng chính trị tiến bộ, ban hành một số quyền tự do dân chủ tại các nước thuộc địa.

Trước tình hình đó, Đảng Cộng sản Đông Dương mở Hội nghị Trương ương lần thứ nhất ở Thượng Hải (Trung Quốc) bàn chủ trương và đường lối đấu tranh cách mạng trong giai đoạn mới. Hội nghị nhận định rằng: kẻ thù cụ thể trước mắt của nhân dân Đông Dương lúc này chưa phải là thực dân Pháp nói chung, mà là bọn phản động thuộc địa Pháp và bọn tay sai không chịu thi hành các chính sách của Mặt trận Bình dân Pháp ở các nước thuộc địa. Từ đó quyết định nhiệm vụ trước mắt của nhân dân Đông Dương là: “chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, chống bọn phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do dân chủ, cơm áo và hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ đó, Hội nghị thành lập “Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương” (tháng 3-1938 đổi thành Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương), nhằm tập hợp mọi lực lượng bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị, các tôn giáo, các dân tộc ở toàn xứ Đông Dương cùng nhau đấu tranh giành tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình.

Tháng 6-1936, chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp lên cầm quyền đã ảnh hưởng đến tình hình chính trị ở Đông Dương. Bọn thực dân Pháp ở Đông Dương cũng phải nới rộng một số quyền tự do, dân chủ cho nhân dân. Phong trào quần chúng hoạt động công khai phát triển rầm rộ khắp nơi. Tại Tây Ninh, phong trào cách mạng được nhen nhóm trở lại đấu tranh công khai, hợp pháp. Nổi bật là nhóm thanh niên ở Phước Chỉ (huyện Trảng Bàng), gồm các anh Lê Văn Vẳng, Dương Quang Thạnh và Bùi Văn Ngỡi được sự chỉ đạo của Tổng uỷ Cầu An Thượng (thuộc Quận uỷ Đức Hòa- Long An ngày nay) đã đứng ra thành lập Hội ái hữu, giúp nhau cày cấy, lo liệu ma chay, đám cưới, đám giỗ, ốm đau, túng thiếu…Hội phát triển mạnh mẽ, thu hút nhiều thanh niên vào làm việc nghĩa và được quần chúng đồng tình ủng hộ. Riêng tại ấp Phước Hưng (xã Phước Chỉ), Hội ái hữu có hàng trăm hội viên hoạt động công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp. Ở chợ Rạch Tràm, hình thành các nhóm xin giảm thuế được đông đảo quần chúng đồng tình ủng hộ. Năm 1938, phong trào quần chúng hoạt động công khai khá mạnh, đủ điều kiện tiến tới thành lập một Ủy ban hành động, đặt trụ sở tại chợ Rạch Tràm. Việc thành lập Ủy ban hành động là hình thức sơ khai của Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương trong điều kiện đấu tranh mới. Ủy ban hành động cử người đi Sài Gòn mua các tờ báo công khai như: báo Tranh Đấu, báo Dân Chúng về phổ biến rộng rãi trong quần chúng bằng hình thức tổ chức các buổi đọc báo tập thể.

Trước sự phát triển của phong trào dân chủ, bọn thống trị ở địa phương phải lo sợ tìm cách ngăn chặn. Tháng 6-1938, chúng cho tên Quản Điểm đem lính từ thị xã Tây Ninh về đóng đồn ở Rạch Tràm và cấm không cho tụ họp quá 20 người. Trước tình hình đó, Ủy ban hành động tổ chức từng đợt khoảng 18-19 người vào phòng họp nghe đọc báo.

Tháng 8-1938, Renoux, Tỉnh trưởng Tây Ninh, phải trực tiếp đến chợ Rạch Tràm tổ chức một cuộc diễn thuyết trước quần chúng. Ủy ban hành động vận động hàng trăm quần chúng đến nghe Renoux diễn thuyết, rồi nhân đó chuyển thành cuộc đấu tranh đưa yêu sách đòi giảm thuế. Các anh Lê Văn Vẳng, Bùi Quang Ngỡi, Dương Quang Thanh nhân danh những người tham dự đưa yêu sách xin giảm thuế lên tỉnh trưởng. Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, tên tỉnh trưởng Renoux phải nhận bản yêu sách và hứa sẽ báo cáo lên Thống đốc Nam kỳ, xem xét giải quyết. Cuộc đấu tranh của quần chúng giành thắng lợi bước đầu.

Sau cuộc đấu tranh này, các anh Lê Văn Vẳng, Bùi Quang Ngỡi, Dương Quang Thạnh được Tổng uỷ Cầu An Thượng kết nạp vào Đảng, hình thành cơ sở đảng vùng Phước Chỉ.

Cũng trong cao trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, ngày 21-9-1939, đồng chí Trần Văn Mạnh vận động tổ chức trên 200 công nhân sở cao su Franchini (xã Thái Bình, Châu Thành) đấu tranh đòi cung cấp nước nóng cho công nhân uống lúc làm việc  và trả lương tháng trước, phản đối đánh đập, v.v… Cuộc đấu tranh đã giành thắng lợi.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đến năm 1939 ánh sáng của Đảng đến với Tây Ninh, qua phong trào cách mạng, Đảng đã bồi dưỡng, đào tạo được đội ngũ cốt cán là người địa phương và hình thành các cơ sở Đảng ở Giồng Nần, Quán Cơm, Phước Chỉ. Các cơ sở Đảng đã tập hợp rộng rãi quần chúng và lãnh đạo quần chúng đứng lên đấu tranh để giải phóng mình, giành lại quyền sống, quyền tự do, góp phần xứng đáng vào phong trào chung của cả nước.

Ngày 1-9-1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ngay khi chiến tranh nổ ra, tại Pháp, Chính phủ phản động Đa-la-đi-ê lên cầm quyền thay thế Chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp đã đi vào con đường phát xít hoá, giải tán Đảng Cộng sản Pháp, thủ tiêu luật xã hội, huỷ bỏ các quyền tự do dân chủ. Lợi dụng tình hình đó, bọn cầm quyền Pháp ở Đông Dương thẳng tay đàn áp phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Tại tỉnh Tây Ninh, tên Tỉnh trưởng Renoux ra lệnh giải tán các tổ chức dân chủ ở Phước Chỉ và Châu Thành, bắt các đồng chí Bùi Quang Ngỡi, Lê Văn Vẳng, Dương Quang Thạnh và Trần Văn Mạnh. Sau 15 ngày bị giam cầm và tra tấn, chúng không khai thác được gì nên phải thả các đồng chí. Phong trào Mặt trận dân chủ trong tỉnh bị dập tắt. Tuy vậy, với những hình thức tổ chức đơn giản như vạn cấy, cúng miễu, cúng đình…Đảng đã tuyên truyền vận động, đoàn kết được hàng ngàn quần chúng. Đường lối của Đảng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, uy tín và ảnh hưởng của Đảng lan rộng. Vai trò của Mặt trận tiếp tục phát huy ở những giai đoạn cách mạng sau.

Trước sự chuyển biến của tình hình trong nước và thế giới, tháng 11-1939, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ sáu tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) đề ra chủ trương: Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để tranh lấy giải phóng dân tộc. Để tập trung mọi lực lượng của dân tộc vào nhiệm vụ chủ yếu là chống chiến tranh đế quốc và ách thống trị của phát xít thuộc địa, Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ không còn thích hợp; tạm gác lại khẩu hiệu cách mạng ruộng đất và thay bằng chính sách chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc và những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc; thay khẩu hiệu lập chính quyền Xô Viết công nông bằng khẩu hiệu lập chính phủ liên bang cộng hoà dân chủ Đông Dương. Đây là nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược quan trọng của Đảng thể hiện sự nhạy bén về chính trị và sự sáng tạo trong lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương[22].

Cho đến thời gian này, tỉnh Tây Ninh chưa có Đảng bộ chính thức, nên các đảng viên không được học nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 11- 1939). Nhưng nhờ liên lạc với tổ chức Đảng ở Đức Hoà (qua cơ sở Đảng ở Phước Chỉ), Gia Định, Thủ Dầu Một (qua đồng chí Lên, cán bộ Liên Tỉnh uỷ), các đảng viên ở Tây Ninh kịp thời chuyển hướng hoạt động, rút vào bí mật, thành lập các tổ chức Nông hội đỏ, phân tán theo từng nhóm nhỏ từ 3 đến 5 người, chuẩn bị lực lượng quần chúng, chờ thời cơ nổi dậy hương ứng cuộc khởi nghĩa.

Trong khi Đảng bộ và nhân dân Nam kỳ đang chuẩn bị khởi nghĩa, tháng 9- 1940, phát xít Nhật nhân cơ hội Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức (6-1940) cho quân vượt biên giới Việt- Trung đánh vào Lạng Sơn, đồng thời cho quân đổ bộ vào Đồ Sơn. Sau vài trận thử sức, quân Pháp mau chóng đầu hàng, dâng Đông Dương cho phát xít Nhật, nhân dân Đông Dương lâm vào cảnh “một cổ hai tròng”. Cuộc sống vốn đã cơ cực lại càng thêm cơ cực hơn vì thuế khoá tăng vọt, tô tức nặng nề… Song nhân dân Việt Nam không chịu khuất phục, ngày 27-9-1940, nhân dân ở Bắc Sơn đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.

Tình hình này đã thổi bùng thêm ý chí Khởi nghĩa ở Nam kỳ, Xứ uỷ Nam kỳ mở Hội nghị tại Xuân Thới Đông (nay thuộc xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh) quyết định khởi nghĩa. Ngày 20-11-1940, lệnh khởi nghĩa được gởi đi các nơi với quyết định toàn Xứ đồng loạt khởi nghĩa vào đêm 23-11-1940.

Tây Ninh nhận lệnh từ Đức Hoà, các đồng chí đảng viên ở Phước Chỉ mở cuộc họp chi bộ[23], gồm các đồng chí Lê Văn  Vẳng , Bí thư chi bộ, Bùi Quang Ngỡi, Trần Quang Thanh và Thân Văn Củ tại khu rừng cấm ở ấp Phước Hưng (xã Phước Chỉ). Đồng chí Lê Văn Vẳng, Bí thư chi bộ phổ biến lệnh khởi nghĩa và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận. Đêm 23-11-1940, nhận được lệnh hành động, các đồng chí huy động lực lượng Nông hội đỏ đào phá các đoạn đường xung yếu vào chợ Rạch Tràm, chặt đứt dây cáp chiếc xà lan làm phà qua sông; huy động lực lượng thanh niên vũ trang  bằng giáo mác sẵn sàng bao vây chiếm bót cảnh sát ở chợ Rạch Tràm. Mọi việc đang diễn ra khẩn trương thì khoảng nửa đêm có lệnh báo cuộc khởi nghĩa bị lộ, địch đang đàn áp phong trào, phải phân tán ngay lực lượng và có kế hoạch né tránh để đề phòng địch khủng bố trắng.

Ở Phước Trạch (Gò Dầu), đồng chí Đoàn Văn Tùng lãnh đạo một nhóm quần chúng đốn cây sao cặp quốc lộ 22 để ngăn đường tiến quân của quân Pháp một khi cuộc khởi nghĩa nổ ra.

Ở phía Bắc thị xã, các đảng viên của cơ sở đảng ở Quán Cơm cũng nhận được lệnh chuẩn bị khởi nghĩa (qua đồng chí Chín là liên lạc của Xứ uỷ), các đồng chí tổ chức một đội du kích gồm một số anh em phu cao su, chuẩn bị cờ Đảng, vũ khí (giáo, mác), ghi tên bọn hội tề có súng khi khởi nghĩa nổ ra. Đêm 22-11-1940, các đồng chí họp bàn kế hoạch cụ thể, sẵn sàng hành động khi có lệnh, nhưng sau đó có lệnh tạm ngừng khởi nghĩa. Tại đây, tên Hương chánh Cây tố giác với bọn Pháp, anh em hay tin phải phân tán, tạm lánh lên biên giới Campuchia.

Ở vùng Giai Hoá, các đảng viên ở cơ sở đảng ở Giồng Nần cũng chuẩn bị khởi nghĩa, nhưng vì liên lạc khó khăn, nên khi biết tin khởi nghĩa đã chậm.

Tại Tây Ninh, công tác chuẩn bị khởi nghĩa được tiến hành ráo riết, đến giờ phát lệnh là nổi dậy. Nhưng ở Sài Gòn, cuộc khởi nghĩa đã bị lộ từ trước do gián điệp của Pháp chui vào tổ chức của ta. Giặc Pháp kịp thời thông báo đi các nơi, ra lệnh đề phòng, ngăn chặn và sẵn sàng đàn áp. Ở chợ Rạch Tràm, địch cho tập trung một trung đội lính lê dương tiến hành lùng sục và nửa đêm kéo vào xóm phóng lửa đốt nhà của một số anh em tham gia việc chuẩn bị khởi nghĩa.Hôm sau, chúng cho tàu thuỷ từ Sài Gòn lên, chạy dọc theo bờ sông, bắn súng lớn vào đồng ruộng, uy hiếp tinh thần quần chúng và đưa thêm lính mã tà đến đóng đồn tại chợ Rạch Tràm. Bọn này tiếp tục lùng sục và theo dõi tình hình vùng này. Nhờ có sự đề phòng, nên khi cuộc khởi nghĩa thất bại, anh em nòng cốt đều vô sự, địch chỉ bắt được anh Liệu trong tổ chức Hội Ái hữu.

Tại Giồng Nần, các đồng chí Trương Văn Chẩn và Trương Văn Phú bị địch bắt với đầy đủ tài liệu chuẩn bị khởi nghĩa. Ngày 04-2-1941, hai đồng chí ra Tòa Đại hình của Pháp và bị kêu án tù 5 năm, 5 năm biệt xứ, đày đi Côn đảo. Đồng chí Trương Văn Chẩn hy sinh ngày 29-8-1942; đồng chí Trương Văn Phú hy sinh ngày 23-10-1942.  

Khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, thực dân Pháp đàn áp khốc liệt. Trước tình hình đó, các đảng viên phải chuyển vùng công tác hoặc tạm ngừng hoạt động để bảo vệ các cơ sở mật của Đảng. Phong trào cách mạng toàn tỉnh tạm thời lắng xuống, hoạt động của các cơ sở đảng chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau,đồng thời cũng chưa liên lạc thường xuyên với cấp trên. Đây là vấn đề hết sức khó khăn của Tây Ninh, nhưng các đảng viên vẫn ngấm ngầm hoạt động để lãnh đạo phong trào cách mạng của quần chúng, chờ thời cơ đứng lên đấu tranh mạnh mẽ hơn.

Sau khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, nhờ có địa thế rừng, Tây Ninh lại trở thành nơi ẩn náu của lực lượng cách mạng của các địa phương khác. Một cánh quân khởi nghĩa của Gia Định rút lên vùng Truông Mít (thuộc huyện Dương Minh Châu ngày nay), dựa vào thế rừng để duy trì lực lượng. Sau đó, thực dân Pháp phát hiện, tập trung quân tấn công, do tương quan lực lượng không cân sức, nghĩa quân rút xuống Đôn Thuận (huyện Trảng Bàng), Địch bủa vây truy kích, nghĩa quân rút về Lộc Hưng. Từ đó, nghĩa quân phân tán thành nhiều nhóm nhỏ rút về Đồng Tháp Mười.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, bị địch dìm trong biển máu vì nổ ra chưa đúng lúc, điều kiện cách mạng chưa chín muồi. Nhưng cuộc khởi nghĩa đã nêu cao quyết tâm chống đế quốc, giành độc lập, tự do,nêu cao khí thế cách mạng của nhân dân Nam Kỳ nói chung, nhân dân Tây Ninh nói riêng. Khởi nghĩa Nam Kỳ đã gây tiếng vang lớn, cổ vũ tinh thần yêu nước của đồng bào trong cả nước. Đây là cuộc tập dượt vô vùng anh dũng chuẩn bị cho cuộc Cách mạngTháng Tám năm 1945 thành công.

  1. BAN CÁN SỰ ĐẢNG TỈNH (TỈNH UỶ) THÀNH LẬP, LÃNH ĐẠO MẶT TRẬN VIỆT MINH VÀ THANH NIÊN TIỀN PHONG VẬN ĐỘNG NHÂN DÂN TIẾN LÊN KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1941-1945)

Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, phong trào cách mạng Tây Ninh tạm thời lắng xuống, chủ yếu là để bảo vệ lưc lượng, bảo vệ cơ sở mật và tiến hành tuyên truyền cách mạng trong quần chúng. Trong khi đó, phát xít Nhật có sự hỗ trợ của thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị hà khắc và ra sức vơ vét về kinh tế để phục vụ cho cuộc chiến tranh phát xít. Phát xít Nhật cho lập nhà kho ở khắp nơi, tiến hành thu mua các loại nông sản với giá rẻ mạt làm cho đời sống nhân dân càng thêm cơ cực.

Sau khi chiếm Đông Dương, phát xít Nhật đưa ra thuyết “ Đại Đông Á”, “ đồng chủng, đồng văn” kết hợp với việc phô trương thực lực, bọn chúng đã mê hoặc được một số người. Trong đó có một số chức sắc cao cấp đạo Cao Đài thân Nhật cho rằng cơ hội phất lên về thanh thế chính trị đã đến. Họ đưa thanh niên đạo Cao Đài đi lính cho Nhật[24].

Giữa lúc phong trào cách mạng ở Việt Nam gặp khó khăn, ngày 8-2-1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc bí mật về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Sau một thời gian chuẩn bị, từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, Hội nghị Ban  Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 tại rừng Khuổi Nậm ( Pắc Bó), do đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đại biểu của Quốc tế Cộng sản, chủ trì. Hội nghị đã phát triển và hoàn chỉnh các nghị quyết của Trung ương Đảng về vấn đề giải phóng dân tộc, và khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc.

Về vấn đề Mặt trận dân tộc thống nhất, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh thay cho Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương. Việc thành lập Mặt trận Việt Minh là nhằm “ liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”. Do đó, lực lượng gia nhập Mặt trận Việt Minh là các đoàn thể cứu quốc, như: Đoàn Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, Hội Nông dân cứu quốc.

Ngày 25-10-1941, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh công bố Tuyên ngôn, Điều lệ, Chương trình Việt Minh.

Tuyên bố của Việt Minh nói rõ: “Nguy cơ diệt vong đã bày ra trước mắt. Hiện thời chúng ta chỉ có một con đường mưu sống là đoàn kết thống nhất, đánh đuổi Nhật- Pháp, trừ khử Việt gian.

Mở con đường sống ấy cho đồng bào, Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) ra đời, chào các bạn”[25].

Trong khi đó, ở Tây Ninh, hệ thống tổ chức Đảng chưa được củng cố, việc liên lạc với cấp trên bị hạn chế, không nhận được Chương trình Việt Minh một cách đầy đủ và kịp thời. Nhưng do diễn biến của thời cuộc, các đảng viên hoạt động ở tỉnh đã chủ động tập hợp quần chúng, chuẩn bị lực lượng và triển khai một số hoạt động.

Ở vùng Quán Cơm, các đảng viên biết được chủ trương tổ chức Hội cứu quốc, nhưng vì chưa nắm được cụ thể Chương trình Việt Minh, nên còn hoạt động lúng túng. Các đồng chí vẫn vận  động quần chúng nông dân theo tinh thần của tổ chức Nông hội đỏ như trước đây.

Ở vùng Phước Chỉ (huyện Trảng Bàng), đồng chí Bùi Quang Ngỡi liên lạc với Tổng uỷ Cầu An Thượng, nhận chỉ thị trở về xã móc nối lại các cơ sở cũ, vận động nhân dân không đi lính, không làm xâu cho phát xít Nhật, tuyên truyền vạch trần thuyết “ Đại Đông Á”, “ đồng văn, đồng chủng”, luận điệu mị dân của bọn tay sai thân Nhật trong tôn giáo Cao Đài. Sau đó, đồng chí Lê Văn Vẳng liên lạc với quận uỷ Đức Hoà, nhận Chương trình Việt Minh, tổ chức “ Nông hội đỏ” được  chuyển thành các tổ chức theo giới: Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc. Phong trào cách mạng của quần chúng ở Phước Chỉ được khôi phục và phát triển nhanh chóng.

Tháng 9-1944, đồng chí Huỳnh Văn Thanh[26] liên lạc được với Xứ uỷ và cùng với vợ là đồng chí Mỹ Lan đem Chương trình Việt Minh về Tây Ninh phổ biến. Hai đồng chí ở nhà đồng chí Nguyễn Trí Túc, móc nối lại các cơ sở đảng và các đảng viên hoạt động lẻ. Sau đó, đồng chí Huỳnh Văn Thanh tổ chức cuộc họp tại nhà đồng chí Nguyễn Văn Chấn ở Quán Cơm, thông báo tình hình thời sự trong nước và quốc tế, phổ biến chỉ thị của Xứ uỷ và phân công trách nhiệm, phân vùng hoạt động cho các đảng viên. Từ đó, đảng viên hoạt động có tổ chức và thành lập Ban Cán sự Đảng tỉnh ( tương đương Tỉnh uỷ). Đồng chí Huỳnh Văn Thanh là Trưởng Ban Cán sự Đảng tỉnh. Đây là mốc quan trọng trong lịch sử Đảng bộ tỉnh Tây Ninh, và phong trào cách mạng ở Tây Ninh có những chuyển biến lớn.

Trong khi phong trào cách mạng ở Tây Ninh cũng như phong trào chung của cả nước đang chuyển biến mạnh thì ngày 9-3-1945, phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp, độc chiếm Đông Dương. Trước tình hình đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng tại Bắc Ninh từ ngày 9 đến ngày 12-3-1945, đã đề ra chủ trương “ đánh đuổi phát xít Pháp- Nhật” và phát động cao trào chống Nhật, cứu nước làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa, được thể hiện trong bản chỉ thị “ Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.

Với chủ trương mới của Đảng, từ cuối tháng 3-1945, cách mạng Việt Nam chuyển biến mạnh mẽ trở thành cao trào, những cuộc khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra ở nhiều nơi. Riêng ở tỉnh Tây Ninh, tình hình chính trị có phần phức tạp hơn, sau ngày phát xít Nhật đảo chính Pháp, ảnh hưởng của đạo Cao Đài lan rộng rất nhanh vì cung cấp cho phát xít Nhật nhiều nhân tài vật lực[27], nên đạo Cao Đài được Nhật ban cho một số quyền lợi chính trị như bộ máy trị sự của đạo vẫn được phép hoạt động. Lợi dụng cơ hội này, một số chức sắc phản động trong đạo Cao Đài đẩy mạnh việc huy động tiền của của tín đồ và lừa gạt thanh niên vào Toà Thánh, sau đó bắt thanh niên đi lính để xây dựng lực lượng quân sự riêng.

Ảnh hưởng của đạo Cao Đài không kéo dài được lâu. Từ tháng 4-1945, do phát xít Nhật liên tiếp thất bại trên chiến trường Châu Á- Thái Bình Dương, bọn tay sai thân Nhật hoang man, dao động, thế lực của đạo Cao Đài khựng lại. Trong khi đó, ở tỉnh Tây Ninh các tổ chức Đảng được củng cố và hoạt động theo Chương trình Việt Minh, nhất là sau cuộc họp ở Phồn Chàm (tháng 3-1945), đồng chí Huỳnh Văn Thanh truyền đạt chỉ thị của Xứ uỷ, phổ biến rõ thêm Chương trình Việt Minh, các đảng viên hoạt động ở các vùng tích cực vận động quần chúng, tuyên truyền Mặt trận Việt Minh, nêu lên chủ trương của Mặt trận Việt Minh là đánh đuổi Nhật-Pháp, giành độc lập dân tộc, lập chính quyền công nông, bảo đảm quyền lợi của dân tộc và đưa ra các đối sách của Mặt trận Việt Minh đối với công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, trí thức… Ngoài ra, còn có một số khẩu hiệu viết tay với nội dung chống Nhật- Pháp, ủng hộ Mặt trận Việt Minh và một số tờ báo công khai từ Sài Gòn được đem về phổ biến rộng rãi, kêu gọi quần chúng hưởng ứng phong trào của Mặt trận Viêt Minh; gia nhập các tổ chức của Mặt trận Việt Minh để sẵn sàng hành động cứu nước. Từ đây, phong trào hưởng ứng theo Mặt trận Việt Minh phát triển khắp tỉnh.

Tháng 4-1945, các đảng viên ở xã Thanh Điền bắt đầu tổ chức cơ sở Việt Minh trong công nhân Hãng đường, rồi mở rộng đến công nhân trồng mía. Ảnh hưởng của phong trào Mặt trận Việt Minh phát triển ra toàn xã Thanh Điền, thu hút cả người Việt là sĩ quan củ của Pháp về ở ẩn tại đây cũng tham gia hoạt động theo Mặt trận Việt Minh. Phong trào của Mặt trận Việt Minh dần lan xuống các xã thuộc Tổng Giai Hoá, bắt đầu từ xóm chùa Bàu Tượng mở ra toàn xã Tiên Thuận và dần dần phát triển khắp các xã trong Tổng.

 Tháng 5-1945, các đảng viên ở xóm Vịnh bắt đầu hoạt động xây dựng tổ chức Mặt trận Việt Minh ở nhiều nơi như: xã Hảo Đước, Hoà Hội… Hội cứu quốc trong các giới được hình thành, thu hút nhiều hội viên tham gia, nhất là trong giới thanh niên. Các hội viên thanh niên cứu quốc tham gia luyện tập võ nghệ, tuần tra, canh gác suốt ngày đêm.

Tháng 6-1945, các đảng viên ở huyện Trảng Bàng phân công đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền vận động Chương trình Việt Minh trong thị trấn và các xã chung quanh như An tịnh, Lộc Hưng…để xây dựng tổ chức trong các giới thuộc Mặt trận Việt Minh.

Ở xã Đôn Thuận, các đảng viên chọn những thanh niên giác ngộ cách mạng đưa vào các tổ chức cứu quốc theo từng nhóm 3 người. Những người ngoài lứa tuổi thanh niên cũng được tập hợp lại thành tổ. Cơ sở Việt Minh cũng được thành lập trong sở cao su Bến Củi.

Ở vùng Phước Chỉ, Bình Thạnh, chợ Rạch Tràm, các hội cứu quốc ngày càng phát triển và lan sang xã Mỹ Quí ( tỉnh Chợ Lớn).

Ở Suối Đá, Quán Cơm, Hiệp Ninh, phong trào Việt Minh hoạt động gần như công khai.

Ở vùng Gò Dầu, Võ Thành Cứ hoạt động tranh giành ảnh hưởng cho tổ chức “Việt Nam Quốc gia độc lập Đảng”, nhưng phong trào Việt Minh vẫn phát triển mạnh, nhất là ở các xã Thanh Phước và Phước Thạnh.

Đến thời điểm này, dưới sự lãnh đạo của Ban Cán sự Đảng, phong trào cách mạng của quần chúng hoạt động theo Mặt trận Việt Minh phát triển khắp trong toàn tỉnh. Đó là kết quả của sự lãnh đạo thống nhất của tổ chức đảng từ tỉnh xuống cơ sở, thể hiện bước phát triển nhảy vọt của cao trào cách mạng tỉnh Tây Ninh.

 Song song với phong trào cách mạng của Mặt trận Việt Minh, ở các thị trấn và một số ít xã trong tỉnh còn có phong trào “Thanh niên Tiền phong”[28] hoạt động công khai mạnh mẽ. Thủ lĩnh của Thanh niên Tiền phong là Nguyễn Công Mạnh, một chủ sự thương chính của chính quyền lúc bấy giờ. Số người trực tiếp lãnh đạo phong trào Thanh niên Tiền phong hầu hết là cán bộ của phong trào thanh niên, học sinh. Tháng 7-1945, thực hiện chỉ thị của Xứ uỷ Nam kỳ “ phải nắm lấy Thanh niên Tiền phong, các cấp bộ Đảng phải tranh thủ chỉ đạo và sử dựng phong trào công khai này”. Được sự phân công của cấp uỷ, một số đảng viên liên lạc được với Nguyễn Công Mạnh, Trần Văn Hương và những cán bộ Thanh niên Tiền phong ở thị xã Tây Ninh; Thanh niên Tiền phong ở thị trấn Trảng Bàng do thầy giáo Có làm thủ lĩnh cũng đã hoạt động theo Mặt trận Việt Minh.

Tại Phước Chỉ (huyện Trảng Bàng), các đảng viên  chưa nhận được lệnh nắm Thanh niên Tiền phong, nhưng các đồng chí vận động con cháu của một số hội tề làng và một số thanh niên tích cực ở chợ Rạch Tràm, thanh niên trong các hội Ái hữu cũ làm nòng cốt để hướng phong trào Thanh niên Tiền phong hoạt động theo Mặt trận Việt Minh.

Tất cả các cơ sở Đảng đều thực hiện được chủ trương của Xứ uỷ là nắm lấy phong trào Thanh niên Tiền phong. Nắm được Thanh niên Tiền phong là Đảng ta nắm được một lực lượng quần chúng khá đông đảo, vì đây là một tổ chức tập hợp nhiều thành phần trong xã hội, trong đó tầng lớp thanh niên, học sinh và tầng lớp nghèo thành thị chiếm đa số, có nơi lôi kéo cả công chức và những người thuộc tầng lớp trên. Như vậy, có hai phong trào thanh niên phát triển mạnh trong cùng một thời điểm, đó là Mặt trận Việt Minh với các đoàn thể cứu quốc toả rộng khắp các vùng nông thôn lan dần vào thị trấn, thị xã; phong trào Thanh niên Tiền phong từ thị trấn, thị xã toả về nông thôn tạo điều kiện cho Ban Cán sự đảng tỉnh nắm được đại bộ phận lực lượng quần chúng, chuẩn bị tiến lên tổng khởi nghĩa.

Trước đây, các đảng viên hoạt động chủ yếu là tuyên truyền, vận động quần chúng gây cơ sở cách mạng và xây dựng phong trào, đến thời điểm này, ý thức về một cuộc đấu tranh, nhất là sau khi Nhật đảo chính Pháp, bọn lính Pháp tháo chạy vứt  bỏ vũ khí trong rừng, dưới sông suối. Các đảng viên cho người tìm kiếm và thu gom súng đạn lại, đồng thời mua thêm của lính Nhật hoặc của người dân lượm được. Tất cả số vũ khí này được cất giấu kỹ, chờ ngày đem ra sử dụng. Về vũ khí thô sơ, các đảng viên vận động anh em công nhân của Mặt trận Việt Minh ở Hãng đường Thanh Điền rèn gươm, mã tấu, dao găm. Các loại tầm vông vót nhọn, giáo mác, cung tên được thanh niên và các hội viên cứu quốc chuẩn bị đầy đủ.

Trong khi phong trào quần chúng của tỉnh chuyển thành cao trào cách mạng chuẩn bị khởi nghĩa, thì tin phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện ngày 15-8-1945 truyền về tỉnh như một luồng gió mới, tăng thêm khí thế cách mạng của quần chúng. Các lực lượng trung gian ngả hẳn về phía cách mạng, còn những lực lượng hoài nghi hoặc đối lập rút vào thế tuỳ thời “ lựa gió phất cờ”. Ngay như Võ Thành Cứ, Trần Văn Hương là lãnh tụ tổ chức “ Việt Nam quốc gia độc lập Đảng” trước đây nắm Thanh niên Tiền phong để tranh giành ảnh hưởng với Mặt trận Việt Minh đến lúc này cũng thay đổi hẳn thái độ.

Trước khí thế cách mạng của nhân dân ngày càng cao, những lực lượng thân phát xít Nhật thêm hoang man và bắt đầu tan rã. Việc phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng minh khiến bọn cầm đầu trong bộ máy chính quyền tỉnh, huyện bị bỏ rơi như “ rắn mất đầu”, hoàn toàn mất tinh thần, còn số nhân viên lại nghiêng về phía cách mạng. Đối với những lãnh đạo trong giáo phái Cao Đài, tuy nắm được lực lượng quần chúng tín đồ đông đảo, nhưng với tình hình chuyển biến quá nhanh cũng hoang mang, dao động.

Nắm được thời cơ thuận lợi, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp từ ngày 13 đến ngày 15-8-1945 tại Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) quyết định lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa và lập ra Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc, phát động tổng khởi nghĩa trong cả nước.

Ở Tây Ninh, tuy chưa nhận được chủ trương tổng khởi nghĩa của Trung ương, nhưng ngày 16-8-1945, đồng chí Huỳnh Văn Thanh, Trưởng Ban Cán sự Đảng tỉnh triệu tập cuộc họp tại nhà đồng chí Trần Văn Đẩu ( Tư Đẩu) gần chợ cũ, thị xã Tây Ninh. Hội nghị thống nhất đánh giá tình thế cách mạng đã chín muồi, quyết định thành lập Ban vận động giành chính quyền và phân công nhau thực hiện một số việc quan trọng như liên lạc với Xứ uỷ để kịp thời tiếp nhận sự chỉ đạo của cấp trên; nắm trí thức và các chức sắc tiến bộ trong tôn giáo Cao Đài, vận động cảnh sát trưởng và lực lượng cảnh sát bảo vệ dinh tỉnh trưởng; tiếp xúc nhằm lôi kéo hoặc làm trung lập bọn sĩ quan và binh lính Nhật; tổ chức lực lượng vũ trang; tập hợp lực lượng công nhân ở Hãng đường Thanh Điền và các sở cao su; bố trí lực lượng quần chúng ở nông thôn, thị trấn, thị xã sẵn sàng đứng lên giành chính quyền.

Ở vùng nông thôn, bọn tề nguỵ rệu rã, số nằm im, số ngả theo Mặt trận Việt Minh. Các hoạt động của Mặt trận Việt Minh diễn ra công khai, lực lượng thanh niên tham gia tập luyện võ nghệ, quân sự suốt ngày đêm, tiến hành tuần tra, canh gác. Ở các ngả đường vào xóm làng đều đặt vọng gác, có trang bị một số súng hai nòng và súng trường.

Ngày 19-8-1945, ở Hà Nội cuộc khởi nghĩa nổ ra và giành thắng lợi. Trong khi đó ở Tây Ninh, Mặt trận Việt Minh đã kịp thời lãnh đạo quần chúng rải truyền đơn với khẩu hiệu “ Đả đảo chính quyền bù nhìn Trần Trọng Kim”, “ Ủng hộ Mặt trận Việt Minh” và kêu gọi chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 23-8-1945, được tin ở Sài Gòn đang chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, Ban Cán sự Đảng tỉnh cử đồng chí Trần Kim Tấn và nữ đồng chí Trương Mỹ Lan đến Sài Gòn liên lạc với Xứ uỷ để xin chỉ đạo hành động. Ngay ngày hôm đó, đồng chí Trương Mỹ Lan trở về Tây Ninh báo cáo tình hình, còn đồng chí Trần Kim Tấn ở lại Sài Gòn dự mít tinh. Nhận được chỉ đạo của Xứ uỷ, đồng chí Huỳnh Văn Thanh, Trưởng Ban Cán sự Đảng tỉnh triệu tập hội nghị gồm những đảng viên và cán bộ nòng cốt bàn việc tổ chức một cuộc mít- tinh có đông đảo quần chúng tham gia để Mặt trận Việt Minh tỉnh ra hoạt động công khai, đồng thời kêu gọi nhân dân ủng hộ Mặt trận Việt Minh. Hội nghị còn cử ra Ban lãnh đạo hành động giành chính quyền.

Thực hiện chủ trương của Hội nghị, ngay trong đêm 23-8-1945, Ban lãnh đạo hành động giành chính quyền đã phân công các đảng viên đi các nơi huy động nhân dân, lực lượng Thanh niên Tiền phong và học sinh về dự mít- tinh ở thị xã. Cơ sở Mặt trận Việt Minh ở Hãng đường Thanh Điền lấy vải của nhà máy đem về nhuộm đỏ và cắt may băng cờ để trang bị cho đoàn người đi dự mít- tinh. Mọi việc chuẩn bị hết sức khẩn trương và chu đáo.

Chiều ngày 24-8-1945, lực lượng quần chúng đầu tiên ở vùng Bến Cầu được ghe xuồng đưa lên Hãng đường Thanh Điền. Sau đó, quần chúng tập trung tại xóm Dốc, ấp Thanh Thuận, xã Thanh Điền để ổn định tổ chức và chuẩn bị xuất phát.

Trong khi những người lãnh đạo đạo Cao Đài còn hoang mang, dao động, Ban lãnh đạo hành động giành chính quyền cử thầy thuốc Vĩnh vào Toà Thánh vận động ông Đặng Trung Chữ, tổ chức quần chúng tín đồ tham gia cuộc mít tinh ủng hộ Mặt trận Việt Minh. Đồng thời, Ban lãnh đạo hành động giành chính quyền còn thực hiện chủ trương tranh thủ, trung lập hoá quân đội Nhật, không tấn công chúng nếu chúng không can thiệp vào các hoạt động khởi nghĩa.

Sáng sớm ngày 25-8-1945, từ Thanh Điền, Xóm Vịnh, Quán Cơm, lực lượng quần chúng giương cao cờ đỏ sao vàng, mọi người đều có băng trắng với nền chữ Việt Minh màu đỏ hoặc băng đỏ đeo ở cánh tay, các đảng viên mang súng ngắn dẫn đầu đội ngũ, rầm rập kéo vào sân vận động thị xã.

 Từ Đình Hiệp Ninh, lực lượng Thanh niên Tiền phong trang bị súng và tầm vông lên đường tiến vào sân vận động. Từ Toà Thánh, quần chúng tín đồ Cao Đài mang theo cờ đạo ( vàng, xanh, đỏ), đội ngũ chỉnh tề cũng đến sân vận động thị xã dự mít- tinh. Thế là một  cuộc mít tinh lớn chưa từng có ở Tây Ninh đã diễn ra.

Tại cuộc mít tinh, đồng chí Huỳnh Văn Thanh, Trưởng Ban Cán sự Đảng tỉnh đọc diễn văn nêu rõ: quân đội Nhật đã đầu hàng quân Đồng minh, chính quyền ở Hà Nội và khắp miền Bắc, miền Trung đã thuộc về Việt Minh và kêu gọi nhân dân Tây Ninh hãy đứng lên sẵn sàng giành chính quyền.

Quần chúng dự mít- tinh hết sức phấn khởi, hô vang khẩu hiệu ủng hộ Mặt trận Việt Minh.

Cuộc mít tinh của quần chúng chuyển thành đoàn biểu tình kéo qua dinh Tỉnh trưởng, quanh chợ và các đường phố chính trong thị xã. Trước khí thế cách mạng của quần chúng, chính quyền bù nhìn Tây Ninh không dám phản ứng. Đến trưa, đoàn biểu tình mới trở về các xã.

Khoảng 14 giờ ngày 25-8-1945, một đoàn cán bộ từ Sài Gòn lên Tây Ninh mang theo chỉ thị giành chính quyền của Xứ uỷ, Ban lãnh đạo giành chính quyền tỉnh triệu tập hội nghị mở rộng, gồm các thành viên Ban lãnh đạo hành động và một số cán bộ nòng cốt để lập kế hoạch giành chính quyền. Theo kế hạch, một bộ phận lực lượng xung kích đã đột nhập vào dinh tỉnh trưởng, tước súng của hai tên lính gác giao lại cho lực lượng bảo vệ để chiếm giữ và bảo vệ trật tự, an toàn trong khu vực dinh tỉnh trưởng. Mọi việc đều tiến hành nhanh gọn, không gặp phải một sự kháng cự nào của địch. Các đồng chí trong Ban lãnh đạo hành động giành chính quyền cùng với cán bộ từ Sài Gòn lên, đi bằng ô tô có cắm cờ đỏ sao vàng vào dinh tỉnh trưởng Tây Ninh. Lê Văn Thạnh, tỉnh trưởng Tây Ninh được gọi ra, ta yêu cầu nộp sổ sách, giấy tờ và nộp chính quyền. Trước khí thế cách mạng, tỉnh trưởng Lê Văn Thạnh đáp lại: “chúng tôi đã chuẩn bị chờ các ông”.

Ban lãnh đạo hành động giành chính quyền buộc Lê Văn Thạnh phải gọi những người cầm đầu các công sở đến, ai có vũ khí phải mang theo (lúc này, lực lượng tự vệ đã chiếm xong các công sở), lực lượng cách mạng tước hết vũ khí. Việc chuyển giao chính quyền tỉnh được giải quyết ngay trong đêm 25-8-1945.

Sau đó, lực lượng cách mạng chỉ bắt giữ tỉnh trưởng Lê Văn Thạnh, Jean Baptiste Hà Văn Sua, y sĩ có quốc tịch Pháp và Đốc phủ Đường, tên tay sai đắc lực của Pháp. Những người còn lại được cho về tiếp tục công việc, trừ một vài nơi trọng yếu như nhà máy đèn, nhà máy nước, do lực lượng cách mạng trực tiếp nắm giữ.

Tại huyện Châu Thành, các công sở đóng ở thị xã cũng được tiếp quản ngay sau khi bộ máy chính quyền nguỵ cấp tỉnh không còn.

Ở huyện Trảng Bàng, cán bộ của Mặt trận Việt Minh nhận được chỉ thị của Ban Cán sự Đảng tỉnh về tổ chức cuộc míttinh ủng hộ Mặt trận Việt Minh và chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Ban lãnh đạo khởi nghĩa được thành lập kịp thời gồm, đồng chí Huỳnh Hà, Lê Phẩm Ba. Sáng ngày 25-8-1945, một cuộc mít-tinh trọng thể tại bãi chợ Trảng Bàng, toàn bộ lực lượng Thanh niên Tiền phong của huyện và đông đảo quần  chúng ở các xã tham dự.

Tại cuộc mít tinh, đồng chí Huỳnh Hà nhân danh đại biểu của quận bộ Việt Minh phát biểu nhấn mạnh: phát xít Nhật đầu hàng, ở miền Bắc và miền Trung, chính quyền đã thuộc về Việt Minh, đồng thời kêu gọi quần chúng sẵn sàng khởi nghĩa giành chính quyền ở Trảng Bàng. Những người dự mít tinh phấn khởi hô vang khẩu hiệu “chính quyền về tay Việt Minh”, “Mặt trận Việt Minh muôn năm”.

Kết thúc cuộc biểu tình, quần chúng tham gia thành đoàn biểu tình thị uy quanh phố chợ rồi toả về các xã.

Tối ngày 25-8-1945, anh Phiên, cơ sở cách mạng đang làm thư ký hành chính quận Trảng Bàng đã khôn khéo ra lệnh cho bọn lính cất hết vũ khí vào kho. Vào lúc đó, một lực lượng nhỏ Thanh niên Tiền phong bao vây bên ngoài dinh quận. Sau đó, hai đồng chí Huỳnh Hà, Lê Phẩm Ba cùng với anh Phiên vào quận đường buộc tên quận trưởng Huỳnh Tường Tấn đầu hàng và chuyển giao chính quyền. Trước đó, tên Huỳnh Tường Tấn nghe động đã đóng kín các cửa nhưng liệu bề không chống nổi nên xin chấp nhận chuyển giao chính quyền.

Lực lượng khởi nghĩa chiếm quận đường, quận trưởng Huỳnh Tường Tấn bị bắt giam. Việc giành chính quyền ở Trảng Bàng hoàn thành. Sáng hôm sau (ngày 26-8-1945), cờ đỏ sao vàng tung bay khắp thị trấn Trảng Bàng.

 Ở vùng Phước Chỉ, sau khi nhận lệnh khởi nghĩa từ Đức Hoà, các đảng viên họp bàn kế hoạch và thành lập Ban Tuyên truyền vận động khởi nghĩa giành chính quyền, gồm các đồng chí Lê Văn Vẳng, Bùi Quang Ngỡi, Dương Quang Thanh, Lê Đặng Côn, Bùi Quang Tấn, thầy giáo Quang và Ba Màng.

Theo kế hoạch, một đội vũ trang bao vây đồn Rạch Tràm và gọi hàng bọn lính. Trong đồn, bọn chúng mất hết tinh thần trước khí thế sôi sục của quần chúng đã vội vàng hạ súng đầu hàng. Bọn cầm quyền ở khu vực chợ Rạch Tràm cũng hoang mang dao động cao độ, nên khi đoàn biểu tình của quần chúng kéo đến đã chấp nhận giao chính quyền.

Sau khi giành chính quyền ở tỉnh và quận, Ban Cán sự Đảng tỉnh cử một số đồng chí về các vùng nông thôn hướng dẫn nhân dân giành chính quyền ở tổng, xã. Việc giành chính quyền ở nông thôn cũng diễn ra thuận lợi do bọn hương lý đã tan rã từ những ngày trước đó, không dám hành động chống lại.

Chỉ trong một ngày đêm (25-8-1945), chính quyền địch từ tỉnh đến quận đều sụp đổ hoàn toàn. Ba ngày sau, chính quyền các xã đều thuộc về nhân dân. Tổng khởi nghĩa Tháng Tám ở tỉnh Tây Ninh đã diễn ra nhanh chóng và giành thắng lợi hoàn toàn.

Cùng với cả nước, cuộc khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 ở tỉnh Tây Ninh thắng lợi rực rỡ. Dưới sự lãnh đạo của Ban Cán sự Đảng tỉnh, Mặt trận Việt Minh đã tập hợp được quần chúng rộng rãi, tạo thành đội quân chính trị đông đảo vùng lên khắp trong tỉnh, đứng lên giành chính quyền, thoát khỏi ách thống trị của chế độ thực dân, phong kiến, làm chủ vận mệnh của mình.

Sau khi giành chính quyền thắng lợi, chính quyền cách mạng và Mặt trận các cấp được thành lập để từng bước ổn định đời sống nhân dân. Tỉnh uỷ lâm thời được Xứ uỷ chỉ định, gồm 11 đồng chí, trong đó có 6 đồng chí hoạt động cách mạng trước đó như các  đồng chí: Trần Văn Mạnh, Phạm Tung, Trần Kim Tấn, Trương Mỹ Lan, Nguyễn Văn Chấn, Trần Văn Đẩu và năm đồng chí được Xứ uỷ đưa về, là các đồng chí: Trần Xuân, Lê Đình Nhơn, Nguyễn Trọng Cát, Trần Thuần, Đặng Ngọc Chinh (Vũ)[29] do đồng chí Trần Xuân làm Bí thư Tỉnh uỷ lâm thời.

Thánh 9-1945, Tỉnh uỷ lâm thời đề ra một số chủ trương như:

  • Uỷ ban nhân dân các cấp phải ban hành kịp thời các quyền tự do dân chủ và áp dụng các biện pháp nhằm ổn định tình hình, củng cố bộ máy chính quyền, bảo đảm trật tự an ninh cho nhân dân.
  • Củng cố và phát triển Mặt trận Việt Minh các cấp, xây dựng cơ sở quần chúng, mở lớp huấn luyện cho các đoàn thể cứu quốc.
  • Xây dựng lực lượng dự trữ về người và lương thực, đưa số đồng chí và anh em công nhân cao su ở Mimốt ( Campuchia) về, vận chuyển gạo từ Đồng Tháp Mười về Tây Ninh.

Chấp hành chủ trương của Tỉnh uỷ lâm thời, các cấp khẩn trương tiến hành một số công việc:

  • Xây dựng lực lượng vũ trang để bảo vệ chính quyền cách mạng, trấn áp bọn phản động.
  • Thành lập Quốc gia tự vệ cuộc ( Công an).
  • Thành lập Uỷ Ban kháng chiến.[30]
  • Củng cố các đoàn thể cứu quốc.
  • Tăng cường cán bộ đến xã để tổ chức chính quyền và Mặt trận.

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ lâm thời, Mặt trận Việt Minh, nhân dân Tây Ninh đoàn kết vượt qua những khó khăn gian khổ, giải quyết những công việc hết sức nặng nề để từng bước ổn định cuộc sống nhân dân và quyết tâm đập tan âm mưu thâm độc của kẻ thù; chuẩn bị lực lượng vật chất và tinh thần sẵn sàng kháng chiến chống thực dân Pháp khi chúng tấn công lên Tây Ninh lần thứ hai.

CHƯƠNG III

MẶT TRẬN VIỆT MINH, MẶT TRẬN LIÊN VIỆT TỈNH TÂY NINH VỚI NHIỆM VỤ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP  XÂM LƯỢC LẦN THỨ HAI

(1945-1954)

 

  1. MẶT TRẬN VIỆT MINH CỦNG CỐ CÁC ĐOÀN THỂ CỨU QUỐC CÙNG NHÂN DÂN TRONG TỉNH ĐỨNG LÊN KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1947)

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Vừa mới ra đời, nước ta đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn: nạn đói, nạn mù chữ, dịch bệnh và một nền kinh tế- tài chính kiệt quệ; bên cạnh đó, thù trong, giặc ngoài tìm cách lật đổ chính quyền cách mạng, thực hiện mưu đồ trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai.

Đối với tỉnh Tây Ninh, tình hình càng khó khăn phức tạp. Đạo Cao Đài  qua quá trình đưa thanh niên tín đồ vào các lực lượng thân binh của Nhật, khi Nhật đầu hàng, thì số phần tử thân Pháp tập hợp lực lượng này lại để thành lập những đơn vị vũ trang riêng, sẵn sàng theo Pháp. Nhiều nhóm vũ trang không phải là lực lượng cách mạng như Hồng Tảo ( HT29), Đệ tam sư đoàn, Đệ tứ sư đoàn đã lên Tây Ninh, gây thêm khó khăn cho tỉnh. Chính quyền cách mạng từ tỉnh, huyện đến xã mới thành lập gồm nhiều thành phần, trong đó có cả hội đồng tề của chính quyền cũ tham gia và còn phải lo củng cố lực lượng vũ trang để sẵn sàng đánh địch. Trong khi đó, kinh tế  chủ yếu của Tây Ninh là nông nghiệp, lúa chỉ cấy một vụ mùa, có một số vùng có trồng thêm hoa màu. Sau những năm tháng bị giặc Pháp, Nhật vơ vét của cải để nuôi bộ máy chiến tranh xâm lược, nhân dân Tây Ninh gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.

Chấp hành chủ trương của Tỉnh uỷ lâm thời, song song với việc thành lập các cơ quan chính quyền, Mặt trận Việt Minh tỉnh được củng cố, gồm có:

– Đồng chí Đặng Ngọc Chinh (Vũ), Chủ nhiệm.

– Ông Đặng Trung Chữ (chức sắc đạo Cao Đài), Phó chủ nhiệm.

– Đồng chí Trần Kim Tấn, Uỷ viên.

– Đồng chí Lê Đình Nhơn, Uỷ viên.

– Nữ đồng chí Trương Mỹ Lan, Uỷ viên.

– Cô giáo Hoan, uỷ viên.[31]

Mặt trận Việt Minh còn tăng cường cán bộ đến huyện và các xã tổ chức chính quyền và Mặt trận.

Chính quyền non trẻ của tỉnh Tây Ninh vừa mới ra đời đã giải quyết những công việc hết sức nặng nề, từng bước ổn định và bảo vệ đời sống nhân dân, củng cố chính quyền cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ lâm thời, nhân dân Tây Ninh đã vượt qua khó khăn, chuẩn bị lực lượng, quyết tâm đập tan mọi âm mưu thâm độc của thực dân Pháp khi chúng tấn công lên Tây Ninh lần thứ hai.

Ngày 23-9-1945, được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp nổ súng chiếm một số công sở ở Sài Gòn và tập trung lực lượng đánh chiếm các tỉnh. Trước yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, Uỷ ban kháng chiến tỉnh lên kế hoạch phòng thủ Tây Ninh và quyết định tổ chức lực lượng đưa xuống Sài Gòn hỗ trợ cho mặt trận Tham Lương, Bà Quẹo chống giặc Pháp. Mặc dù việc tổ chức và chỉ huy chưa được tốt, nhưng các chiến sĩ Tây Ninh đã đóng góp đáng kể công sức là kìm chân địch trong thành phố.

Sau một tháng bị kìm chân trong nội thành, nhờ viện binh từ Châu Âu và Châu Phi sang, giặc Pháp bắt đầu tấn công phá vòng vây và đánh chiếm các tỉnh miền Đông Nam bộ.

Biết thế nào giặc Pháp cũng tấn công lên Tây Ninh, Tỉnh uỷ lâm thời chỉ đạo lập các phòng tuyến dọc Quốc lộ 1 ở Suối Sâu (xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng), Trâm Vàng (Thanh Phước, Gò Dầu); Quốc lộ 22 ở Bến Kéo. Đồng thời, dự trữ lương thực, chuẩn bị tiêu thổ kháng chiến[32], phá các công sở quan trọng trong thị xã không cho chúng chiếm nguyên vẹn.

Ngày 8-11-1945, giặc Pháp tấn công lên Tây Ninh, nhưng chúng đã bị lực lượng vũ trang địa phương Trảng Bàng chặn đánh tại phòng tuyến Suối Sâu, Trâm Vàng và lực lượng vũ trang tỉnh đánh mạnh ở Bến Kéo. Phòng tuyến Bến Kéo bị vỡ, giặc Pháp tràn vào chiếm thị xã, nhân dân ở đây không ra đường, không họp chợ, thực hiện khẩu hiệu “vườn không nhà trống”.

Các phòng tuyến bị vỡ,  dù không tiêu hao nhiều sinh lực địch, nhưng đây là bước tập dượt và xây dựng ý thức chống giặc trong nhân dân và lực lượng vũ trang, tạo được niềm tin trong nhân dân là dám đương đầu với lực lượng hùng hậu của giặc Pháp.

Trước tình hình giặc Pháp tấn công tái chiếm Tây Ninh, Tỉnh uỷ lâm thời chỉ đạo phải bảo toàn lực lượng rút ra vùng nông thôn, rừng núi tổ chức kháng chiến. Cơ quan Mặt trận Việt Minh tỉnh cũng phân tán, một bộ phận chủ chốt do hai đồng chí Đặng Ngọc Chinh (Vũ), Nguyễn Trọng Cát phụ trách cùng với lực lượng vũ trang tỉnh rút về Bến Củi.

Về lực lượng vũ trang tỉnh, sau khi được củng cố, ngày 5-3-1946, Khu bộ trưởng khu 7 tướng Nguyễn Bình quyết định thành lập Chi đội 11 Tây Ninh gồm các đơn vị đã hành quân về An Điền (Bến Cát) và lực lượng vũ trang ở lại tỉnh.

Ngày 6-3-1946, Hiệp định sơ bộ được ký kết là điều kiện thuận lợi cho cách mạng có thêm thời gian để củng cố lực lượng cách mạng kháng chiến lâu dài.

Tháng 4-1946, trước sự kiện Chi đội 11 được thành lập có ý nghĩa quyết định cho công cuộc mở rộng hoạt động kháng chiến, Tỉnh uỷ lâm thời Tây Ninh tổ chức Hội nghị cán bộ tại Bù lu- Chuối nước để trao đổi thống nhất tình hình ở địa phương, bàn phương hướng lãnh đạo kháng chiến. Hội nghị cán bộ đã phân công các đồng chí trong Tỉnh uỷ lâm thời nắm các ngành, huyện, xã để tuyên truyền, vận động quần chúng tổ chức các mặt công tác phục vụ kháng chiến. Các bộ phận chính quyền và Mặt trận Việt Minh tỉnh cũng được sắp xếp lại tổ chức để lãnh đạo kháng chiến.

Trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, theo chủ trương của cấp trên, Uỷ ban hành chính sáp nhập với Uỷ ban kháng chiến thành Uỷ ban kháng chiến hành chính, do đồng chí Trần Thuần quyền Chủ tịch, ông Trương Văn Xương, chức sắc của đạo Cao Đài làm Phó chủ tịch, đồng chí Huỳnh Văn Thanh làm Tổng thư ký. Sau bổ sung đồng chí Dương Minh Châu[33], cán bộ chủ chốt người địa phương làm Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh.

Tình hình hết sức khó khăn, cán bộ cốt cán là người địa phương thiếu nghiêm trọng. Đối với Mặt trận Việt Minh tỉnh, cán bộ ít, lại tập trung ở Văn phòng Mặt trận Việt Minh tỉnh, cho nên Tỉnh uỷ lâm thời chủ trương đưa cán bộ hiện có xuống cơ sở để tuyên truyền, vận động và xây dựng các tổ chức đoàn thể cứu quốc từ xã lên huyện, tỉnh để mau chóng thành lập Mặt trận Việt Minh từ cơ sở lên. Trong công tác tuyên truyền, chú ý vận động đồng bào theo đạo vào các tổ chức cứu quốc; tiến hành xây dựng cơ sở trong Toà thánh Cao Đài, bằng cách chọn những người thân có gia đình theo đạo, đào tạo họ để đưa vào hoạt động trong Toà thánh, và chọn thân nhân của cán bộ ở thị xã, thị trấn đưa vào căn cứ để đào tạo rồi đưa về xây dựng cơ sở trong lòng địch. Đồng thời, phải có một bộ phận cán bộ biết tiếng và chữ khmer để làm công tác vận động đồng bào Khmer, Tỉnh uỷ điều đồng chí Nguyễn Văn Chấn, Nguyễn Văn Dú[34] về công tác ở Mặt trận Việt Minh tỉnh.

Việc tổ chức Mặt trận Việt Minh ở hai huyện Trảng Bàng và Châu Thành được tiến hành ngay.

  Mặt trận Việt Minh huyện Trảng Bàng do đồng chí Nguyễn Trọng Cát (Ba Cát) phụ trách. Đồng chí Nguyễn Trọng Cát mở nhiều lớp ngắn ngày đào tạo cán bộ Việt Minh, cán bộ dân quân ở Giồng Điều và Thổ Địa (xã Phước Chỉ, huyện Trảng Bàng) để đưa về xây dựng chính quyền, đoàn thể ở các xã Lộc Hưng, Đôn Thuận, An Hoà, Gia Bình…

Mặt trận Việt Minh huyện Châu Thành do đồng chí Trần Kim Tấn (Sáu Tấn) phụ trách. Ngoài việc lo tiếp tế cho Chi đội 11, Mặt trận Việt Minh huyện còn móc nối các giáo chức ở trong thành ra tham gia kháng chiến và tổ chức bộ máy chính quyền và Mặt trận Việt Minh ở các xã.

Tại các địa phương, nơi Chi đội 11 đóng quân, nhân dân rất phấn khởi. Các mẹ, các chị trong Hội Mẹ chiến sĩ hăng hái vận động đồng bào góp lương thực, thực phẩm để nuôi quân. Nhờ đó đã phần nào giúp bộ đội vượt qua khó khăn. Bộ đội biết dựa vào dân, nên dù có lưu động chiến đấu xa địa bàn đóng quân, chiến sĩ cũng thấy yên tâm, còn đồng bào an tâm sản xuất.

Một vấn đề cấp bách là đào tạo cán bộ để đáp ứng cho nhu cầu kháng chiến, Tỉnh uỷ lâm thời tổ chức lớp Quân chính đầu tiên tại Bù Lu- Chuối Nước đào tạo cán bộ cho Chi đội 11 và các huyện. Lớp Quân chính do đồng chí Nguyễn Hữu Dụ và Trần Văn Quán phụ trách, đây là lớp đầu tiên  có giảng dạy thêm Chương trình Việt Minh với mười chính sách lớn của Việt Minh[35]:

  1. Giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập.
  2. Võ trang nhân dân, phát triển quân giải phóng Việt Nam.
  3. Tịch thu tài sản của giặc và của Việt gian, tuỳ từng trường hợp sung công làm của Quốc gia hay cho dân nghèo.
  4. Bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra, đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ.
  5. Ban bố những quyền của dân cho dân:
  6. Nhân quyền
  7. Tài quyền ( quyền sở hữu)
  8. c) Dân quyền: phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ ( tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền.
  9. Chia lại ruộng công cho công bằng, giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ, cứu tế nạn nhân.
  10. Ban bố luật lao động: ngày làm 8 giờ, định mức lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm.
  11. Xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát triển nông nghiệp, mở quốc gia ngân hàng.
  12. Xây dựng nền quốc dân giáo dục, chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng bức giáo dục đến bậc sơ cấp, kiến thiết nền văn hoá mới.
  13. Thân thiện và giao hảo với các nước Đồng minh và các nước nhược tiểu dân tộc để giành lấy sự đồng tình và sự ủng hộ của họ.

Qua việc mở lớp đào tạo cán bộ, các cơ quan tỉnh, huyện có thêm cán bộ hoạt động và có cán bộ của Mặt trận Việt Minh về công tác ở các xã trong tỉnh.

Ngày 20-6-1946, đồng chí Đặng Ngọc Chinh( Vũ), Phó bí thư Tỉnh uỷ, Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh tỉnh trên đường đi công tác bị địch phục kích sát hại tại Bời Lời ( huyện Trảng Bàng ).

Sau khi đồng chí Đặng Ngọc Chinh ( Vũ), Phó bí thư Tỉnh uỷ, Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh tỉnh hy sinh, đồng chí Tư Dũng được cử làm Chủ nhiệm, đồng chí Nhất Sơn, Phó chủ nhiệm; ông Thượng chánh phối sư Đặng Trung Chữ, Phó chủ nhiệm; ông Tòng, Tổng thư ký; Linh mục Nguyễn Bá Kính (Công giáo Tha La), Uỷ viên và một số cán bộ như đồng chí Oanh, Hoè…

Thực dân Pháp tập trung lực lượng càn quét không tìm diệt được lực lượng kháng chiến, không bình định ngay được tỉnh Tây Ninh, nên trở lại bài bản cũ là thực hiện âm mưu chia rẽ lương giáo, tìm cách nắm lấy đạo Cao Đài để chống phá lực lượng kháng chiến. Thực dân Pháp lôi kéo Trần Quang Vinh, mua chuộc Hộ pháp Phạm Công Tắc[36], thông qua Hộ pháp Phạm Công Tắc, Trần Quang Vinh môi giới chiêu hàng binh lính Cao Đài do Nguyễn Văn Thành, Trình Minh Thế chỉ huy. Đồng thời dùng uy thế của Hộ pháp Phạm Công Tắc và một số chức sắc trong Hội Thánh để lôi kéo quần chúng tín đồ theo Pháp chống lại Việt Minh. Ngày 30-8-1946, Hộ pháp Phạm Công Tắc về đến Toà Thánh. Ngày 8-1-1947, Hiệp ước quân sự giữa thực dân Pháp và Hộ pháp Phạm Công Tắc được ký kết.

Thế là thực dân Pháp thực hiện được âm mưu nắm chức sắc cao cấp phản động của đạo Cao Đài để đưa lực lượng vũ trang của đạo về đầu hàng Pháp, chống lại cuộc kháng chiến của nhân ta. Tình hình từ đây diễn biến phức tạp hơn, quân dân Tây Ninh vừa phải kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, vừa phải đối phó mưu đồ phản động của một số chức sắc trong đạo Cao Đài.

Ngoài việc một số chức sắc cao cấp phản động trong đạo Cao Đài theo thực dân Pháp, tỉnh Tây Ninh còn có biên giới giáp với Vương quốc Campuchia. Khi thực dân Pháp tái chiếm Tây Ninh, chúng xúi giục bọn Khmer gian giết người Việt, cướp tài sản của đồng bào ta ở biên giới, do đó phải có bộ phận làm công tác vận động đồng bào Khmer. Nay có bộ đội hải ngoại số 1 do đồng chí Ngô Thất Sơn chỉ huy[37] từ Thái Lan đi qua nước Campuchia về đến Tây Ninh. Tỉnh uỷ lâm thời báo cáo xin Xứ uỷ Nam bộ cho bộ đội hải ngoại số 1 ở lại Tây Ninh lo công tác Khmer vận. Được Xứ uỷ chấp thuận, Tỉnh uỷ lâm thời ra sức tạo mọi điều kiện cho bộ đội hải ngoại số 1 hoạt động. Sau khi nhận nhiệm vụ, đơn vị này không chỉ hoạt động ở 4 tổng người Khmer: Khăng Xuyên, Chơn Bà Đen, TaPenDuyn, BăngChơnRum, mà còn mở rộng hoạt động sang cả khu Đông Bắc Campuchia. Nhờ có cán bộ biết tiếng Khmer, đơn vị tiến hành khá thuận lợi trong công tác tuyên truyền vận động đồng bào Khmer, chủ yếu là vận động lập các hội cứu quốc, góp phần ổn định tình hình biên giới trong suốt thời gian kháng chiến.

Cuối năm 1946, theo sự chỉ đạo của Xứ uỷ Nam bộ về việc củng cố tổ chức Đảng, đồng chí Nguyễn Đức Thuận về tỉnh Tây Ninh triệu tập Hội nghị đảng viên. Hội nghị đã kiểm điểm đánh giá tình hình vừa qua, xác định âm mưu chung của giặc Pháp và âm mưu lôi kéo đạo Cao Đài để phá vỡ mặt trận đoàn kết dân tộc, chống lại kháng chiến. Hội nghị cũng khẳng định các chủ trương, đối sách vừa qua là đúng đắn, kịp thời, bước đầu tháo gỡ một số khó khăn. Hội nghị đã thống nhất phương hướng nhiệm vụ là tiếp tục củng cố và phát triển các mặt, chính quyền, Mặt trận, quân đội và thành lập Tỉnh uỷ. Hội nghị bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 5 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Hữu Dụ làm Bí thư Tỉnh uỷ.

Hội nghị đảng viên cuối năm 1946 có ý nghĩa như Đại hội Đảng bộ tỉnh, kết thúc nhiệm vụ lịch sử của Tỉnh uỷ lâm thời trong thời kỳ Đảng hoạt động bí mật[38], mở ra thời kỳ mới của Đảng bộ Tây Ninh. Hội nghị đảng viên đã xác lập những yếu tố căn bản về tổ chức và chủ trương để tiếp tục đưa cuộc kháng chiến đi lên.

  1. II. MẶT TRẬN VIỆT MINH, MẶT TRẬN LIÊN VIỆT CỦNG CỐ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT, ĐẨY MẠNH KHÁNG CHIẾN TOÀN DIỆN, KIÊN CƯỜNG CHỐNG PHÁP VÀ LỰC LƯỢNG PHẢN ĐỘNG TRONG ĐẠO CAO ĐÀI ( 1947-1950)

Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Từ đây, quân dân Tây Ninh bước vào thời kỳ cùng cả nước kháng chiến toàn dân, toàn diện , lâu dài và dựa vào sức mình là chính.

Từ đầu năm 1947, thực dân Pháp bắt đầu dốc sức bình định Nam bộ, xem đây là khâu then chốt trong chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của chúng. Muốn bình định có hiệu quả, chúng mua chuộc, lôi kéo một số chức sắc phản động trong tôn giáo để tạo thêm lực lượng chính trị, quân sự nhằm thực hiện âm mưu  “dùng người Việt đánh người Việt”.

Tại tỉnh Tây Ninh, sau khi Hiệp ước quân sự được ký kết giữa thực dân Pháp và Hộ pháp  Phạm Công Tắc (ngày 8-1-1947), thực dân Pháp dùng nhiều thủ đoạn nắm chặt Hộ pháp  Phạm Công Tắc và một số tướng tá, chức sắc cao cấp trong đạo Cao Đài, thúc đẩy họ chống lại chính quyền cách mạng. Giới chức sắc phản động trong đạo Cao Đài cấu kết với Pháp chống lại Việt Minh cũng được công khai, bằng cách rải truyền đơn, một mặt dựng trò lừa bịp là quân đội Cao Đài chỉ dùng kế “ Hàn Tín trá hàng” để lấy súng của Pháp rồi đánh lại Pháp, mặt khác kêu gọi lãnh đạo Việt Minh giao chiến trường Tây Ninh lại cho chúng; đồng thời gửi giấy mời đại diện Quân Dân Chính của tỉnh vào Toà Thánh hội đàm.

Trước tình hình đó, Tỉnh uỷ xem xét các diễn biến mới trong âm mưu của địch, chỉ đạo các ngành khẩn trương chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đối phó với các hành động cấu kết đánh phá kháng chiến của Pháp và Cao Đài. Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Mặt trận Việt Minh tỉnh và Ban Tuyên truyền tập trung cán bộ xuống xã, ấp tiến hành ngay các đợt tuyên truyền giáo dục, vận động quần chúng vào các đoàn thể cứu quốc và ủng hộ kháng chiến. Đối với truyền đơn “Hàn Tín trá hàng” của chức sắc phản động phải giải thích trong các buổi sinh hoạt đoàn thể để cho dân hiểu thủ đoạn lừa bịp của kẻ thù.  Kêu gọi đồng bào có đạo hay không có đạo đoàn kết chống lại âm mưu giành dân và đánh phá kháng chiến của địch.

Về giấy mời vào Toà Thánh hội đàm, Tỉnh uỷ chủ trương cần phải đi vì nếu không họ sẽ có lý do đổ lỗi cho ta thiếu thiện chí. Biết rằng không quy phục được họ, nhưng đây là cách làm chậm việc cấu kết với thực dân Pháp. Qua hội đàm, ta có thể biết được ý đồ của họ và nêu cao thiện chí chính nghĩa của chính quyền cách mạng.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ, đoàn đại biểu vào Toà Thánh hội đàm, gồm các đồng chí: Nguyễn Hữu Dụ, Bí thư Tỉnh uỷ; Dương Minh Châu, Chủ tịch uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh; Trần Văn Đẩu, Chi đội phó chi đội 11. Trong cuộc hội đàm, đoàn đại biểu của chính quyền cách mạng đã nêu rõ quan điểm, lập trường đúng đắn của Chính phủ cụ Hồ về đoàn kết toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp và bác bỏ hoàn toàn mọi yêu sách của giới chức sắc phản động trong đạo Cao Đài đưa ra.

Ngày 7-2-1947, sau khi chuyển giao vũ khí theo hiệp ước quân sự với bọn phản động trong tôn giáo Cao Đài, giặc Pháp cho tàu chở quân chạy dọc theo hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông, đổ quân lên nhiều điểm rồi đánh vào chiến khu kháng chiến ở Gò Nổi, Cây Chò, Xóm Mía, Rừng Nhum… Dựa vào lực lượng lớn, chúng tổ chức bao vây, Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh, Mặt trận Việt Minh tỉnh phải phân tán tránh né. Đồng chí Dương Minh Châu, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh cùng một anh em rút ra rừng Cây Chò, nhưng lại lọt vào khu vực càn quét của địch, đồng chí Dương Minh Châu đã hy sinh.

Sau cuộc càn lớn này của quân Pháp, Tỉnh uỷ đánh giá âm mưu cấu kết giữa thực dân Pháp và bọn phản động trong đạo Cao Đài đã bắt đầu thực hiện cụ thể, Tỉnh uỷ chỉ đạo các ban ngành, Mặt trận và các đoàn thể phải phân tán theo vùng, triệt để giữ bí mật, bảo tồn và phát triển lực lượng, dự trữ lương thực, vật dụng, tiết kiệm từng hạt muối, từng trang giấy… đồng thời hỗ trợ nhau khi cần thiết.

Lực lượng vũ trang Cao Đài với quân số gồm nhiều tiểu đoàn liên tiếp mở nhiều cuộc càn quét, truy tìm lực lượng kháng chiến. Trận đầu tiên đánh ra Bàu Cóp ( Chà Là). Hôm ấy, Chi đội 11- lực lượng vũ trang của tỉnh phục kích đánh quân Pháp đi càn. Giặc Pháp lọt vào khu vực phục kích, Chi đội 11 vây đánh và sắp bị tiêu diệt thì lực lượng Cao Đài từ hướng Tòa Thánh đến đánh Chi đội 11, giải thoát cho giặc Pháp. Để trả thù cho trận thua này, giặc Pháp đã có hành động man rợ, chặt đầu 2 người dân, xách về thị xã. Sau đó, giặc Pháp  đem 41 người bị bắt giam ở thành Săn Đá ra sân bay bắn và chặt đầu. Chúng xách đầu đi khắp phố, rồi lấy đầu cắm vào khúc tầm vông để hai bên đầu cầu Quan, số đầu còn lại chúng mang ra xếp đầy hai tam cấp nhà lồng chợ thị xã, rạp hát Kassy.

Quân Cao Đài tung  hoành phá phách, cướp phá, bắn giết khắp nơi. Với chính sách “tam quang” (đốt sạch, phá sạch, giết sạch), chỉ trong thời gian ngắn lực lượng phản động trong tôn giáo Cao Đài đã làm cho làng mạc xung quanh các khu căn cứ kháng chiến trở nên tiêu điều, xác xơ. Những người trung thành với cách mạng thì đưa gia đình vào chiến khu, người lưng chừng vào các Thị trấn. Không những thế, lực lượng phản động Cao Đài còn lập ra các đồn bót, gom dân vào các châu vi đạo, tạo nên sự ngăn cách giữ lực lượng kháng chiến và nhân dân.  Từ đây trên chiến trường Tây Ninh, bên cạnh hệ thống đồn bót của Pháp, còn có thêm hệ thống đồn bót của bọn phản động Cao Đài. Hệ thống đồn bót này đã toả rộng vào các khu căn cứ, gây cho cách mạng khó khăn về việc tiếp tế lương thực, thực phẩm, gạo muối đến mức “một hạt gạo lãnh đạo bảy củ mì”, “một lon gạo chia làm 07 ngày cho một định suất thương binh”.

Với ưu thế ban đầu, bằng chính sách “tam quang” nhằm tiêu diệt lực lượng kháng chiến để độc chiếm Tây Ninh, lực lượng phản động trong tôn giáo Cao Đài đã gây cho phong trào kháng chiến tỉnh Tây Ninh những khó khăn vô cùng to lớn. Cán bộ, chiến sĩ và nhân dân phải đương đầu với sự bắn giết khốc liệt, đốt phá dã man, phải chịu đựng biết bao hy sinh, gian khổ do thủ đoạn “dùng người Việt đánh người Việt”, “dùng tôn giáo đánh cách mạng” của thực dân Pháp và bọn phản động đội lốt tôn giáo gây ra.

Để từng bước đưa phong trào kháng chiến tiến lên, quân dân Tây Ninh phải đương đầu với nhiều thử thách cam go ác liệt.

Cùng với các cơ quan đảng, chính quyền, Mặt trận Việt Minh tỉnh phải phân tán hoạt động, giữ bí mật. Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh và Mặt trận Việt Minh tỉnh chuyển đến Giồng Điều (xã Phước Chỉ, nay thuộc xã Mỹ Quí Đông, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An) xây dựng căn cứ. Giồng Điều gần Đồng Tháp Mười thuận lợi cho việc vận chuyển lương thực nên Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh quyết định thành lập đường dây tải gạo đi dọc đồng “chó ngáp”[39], cắt lên Rừng Nhum về huyện Châu Thành.

 Hội Nông dân cứu quốc tỉnh, thành viên của Mặt trận Việt Minh được chỉ đạo huy động nông dân đi tải gạo. Lực lượng đi tải gạo chủ yếu là nông dân huyện Châu Thành. Lúc đầu, có hàng chục xe trâu, xe bò đi chở gạo, cùng hàng trăm dân công của các xã Ninh Điền, Hoà Hội, Hảo Đước, Thanh Điền, Trí Bình, nhưng lần này trên đường tải gạo về đã bị lực lượng phản động trong tôn giáo Cao Đài phục kích cướp hết gạo. Không thể dùng xe trâu, xe bò chở gạo được nữa, phải dùng sức người, dân công phải mang bao, gánh để tải gạo, muối về. Đường đi tải gạo, muối dài hàng mấy chục cây số, gặp phải mùa mưa nước lớn muốn nghỉ mệt, phải lấy cây nạng tạm chống cho đỡ đôi vai, mùa nắng lại khô cằn, đất cứng không may đạp phải gốc cây tràm là ứa máu. Khổ nhất là giao điểm giữa hai mùa mưa nắng, sình ngập tới gối, lội sình mấy giờ liền mà không có chỗ nghỉ chân. Đã gian truân khổ ải lại còn bị bọn phản động Cao Đài và Khmer gian chặn đánh liên tục. Để an toàn cho việc tải gạo, một tiểu đội du kích tập trung do đồng chí Nguyễn Văn Thân (Sáu Thân) làm tiểu đội trưởng, phối hợp với du kích các xã luôn luôn bảo vệ tuyến đường vận chuyển này. Dù vất vã, đội ngũ dân công tải gạo là những tấm gương dũng cảm, vượt qua gian khổ, hy sinh để mang về những hạt gạo, muối để nuôi bộ đội và nhân dân.

Trước tình hình càn quét của giặc Pháp và bọn phản động Cao Đài, nhiều cơ sở chính quyền, Mặt trận Việt Minh các xã bị tan vỡ. Mặt trận Việt Minh tỉnh chỉ đạo từng bước củng cố lại các đoàn thể. Tháng 7-1947, hai huyện Châu Thành, Trảng Bàng chính thức bầu ra Uỷ ban Mặt trận Việt Minh và đã hình thành 3 đoàn thể cứu quốc: Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân. Các cán bộ chủ chốt của các đoàn thể cứu quốc đa số là từ cán bộ Việt Minh và một số nhân sĩ trí thức. Hoạt động chủ yếu của các đoàn thể là tổ chức quần chúng đều khắp ở cả vùng địch tạm chiếm, vận động nhân dân đoàn kết chống càn quét, phòng gian bảo mật, tham gia phong trào dân quân, xây dựng xã ấp chiến đấu, nuôi quân và đưa thanh niên vào bộ đội, du kích.

Thời gian này, Mặt trận Việt Minh tỉnh mở  lớp huấn luyện đầu tiên 30 ngày tại Xơ Rơ-Phước Chỉ (nay thuộc xã Mỹ Quí Đông, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An) cho cán bộ chủ chốt của hai huyện Châu Thành và Trảng Bàng. Đầu năm 1948, Mặt trận Việt Minh tỉnh mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ dân quân ở Thổ Địa-Đức Huệ (nay thuộc xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An).

Các cơ quan đảng, chính quyền, Mặt trân Việt Minh đã vượt qua những thử thách ban đầu, từng bước ổn định chỉ đạo kháng chiến. Mặt trận Việt Minh tỉnh chỉ đạo các đoàn thể cứu quốc đưa lực lượng thanh niên nam, nữ vào tổ chức dân quân. Trước hết ở huyện Trảng Bàng có một tiểu đội dân quân, được trang  bị 6 cây súng do lực lượng vũ trang huyện cấp. Tiểu đội dân quân đến xã An Tịnh tổ chức thí điểm dân quân. Phong trào quần chúng xã An Tịnh khá mạnh nên nhanh chóng hình thành tổ chức dân quân. Từ xã An Tịnh, phong trào dân quân chuyển sang  xã Lộc Hưng, Gia Lộc, Phước Thạnh, Thanh Phước. Tổ chức dân quân dựa vào đoàn thể cứu quốc lựa chọn hội viên tốt, tích cực để tổ chức huấn luyện chính trị,  với nội dung: Chương trình Việt Minh, quân sự và võ thuật. Được học ba nội dung này, anh chị em dân quân rất phấn khởi và hăng hái đi vào nhiệm vụ bảo vệ xóm làng. Phong trào dân quân phát triển ngày càng mạnh trong huyện Trảng Bàng. Sau thí điểm ở huyện Trảng Bàng, Mặt trận Việt Minh tỉnh triển khai cho huyện Châu Thành, được Huyện uỷ và Mặt trận Việt Minh huyện ủng hộ, phong trào dân quân nhanh chóng thành lập và lan rộng ra các xã. Phong trào dân quân từng bước mở rộng hoạt động như: tổ chức các trạm canh gác bảo vệ xóm làng; thông báo tin kịp thời cho đồng bào cất giấu tài sản khi giặc càn quét, khi địch rút quân, giúp dân thu dọn tài sản. Về sau, lực lượng dân quân phối hợp với thanh niên phá đường, chặt cao su phá kinh tế địch.

 Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoài việc chống giặc ngoại xâm,  giặc đói được Mặt trận Việt Minh tỉnh chỉ đạo các đoàn thể cứu quốc là thành viên của Mặt trận vận động đồng bào thực hiện khá tốt. Trong phong trào chống giặc dốt,  mỗi tối, các lớp học được mở cho đồng bào đến học, những cụ già cũng mang đèn đến học. Dọc theo đường đi ở các xã giải phóng, có những trạm gác ngăn đường bằng tấm bảng ghi: i-tờ, tờ-i-ti, ai biết đọc thì đi, không biết chữ thì về… Phong trào diệt giặc dốt ở các xã hoạt động tốt, nạn mù chữ được  giải quyết dần ở những năm sau. Phong trào diệt giặc đói cũng được vận động rộng rãi. Các vùng ruộng đất phì nhiêu cặp hai bên sông Vàm Cỏ Đông từ  huyện Châu Thành đến huyện Trảng Bàng dần dần được nông dân và bộ đội vừa tổ chức chống càn bảo vệ mùa màng, vừa khai hoang phục hoá để cấy lúa. Đồng thời, khắp căn cứ cặp mé rừng được dọn chồi phá rẫy, tỉa lúa, trồng khoai. Phong trào sản xuất tự túc lương thực ngày càng phát triển, ước lượng chung trong toàn tỉnh hàng năm thu được trên 100.000 giạ lúa. So với các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long là không nhiều, nhưng đối với Tây Ninh đây là sản lượng khá lớn. Ăn được bát cơm đầy nhớ những ngày ăn cháo, ăn củ nần hoặc hạt gạo kèm theo mồ hôi và máu từ Đồng Tháp Mười tải về qua Đồng Chó Ngáp để nuôi quân và dân.

Các mặt công tác kháng chiến vượt qua thời kỳ khó khăn, khôi phục lại vùng nông thôn, phong trào kháng chiến của tỉnh khá toàn diện.

Công cuộc kháng chiến ở tỉnh Tây Ninh có những bước phát triển toàn diện, trong thực tiễn đầy gian nan thử thách, quân dân Tây Ninh đã đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp xã hội, tự lực tự cường ra sức xây dựng Đảng, chính quyền và Mặt trận, xây dựng lực lượng 3 thứ quân vừa kháng chiến chống Pháp, vừa kiên trì đấu tranh chống âm mưu của một số chức sắc phản động trong tôn giáo Cao Đài.

Đầu năm 1949, Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ hai được tổ chức tại căn cứ địa Trà Vong. Đại hội đã nghiêm túc kiểm điểm những chủ trương của Tỉnh uỷ vừa qua. Việc lãnh đạo của Tỉnh uỷ nhạy bén và kiên quyết. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương  của Đảng bộ với tinh thần nghiêm túc, dũng cảm. Các mặt công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận, quân đội, sản xuất tự túc đều tiến hành tốt. Do đó, trong một thời gian ngắn, cách mạng Tây Ninh từ khó khăn đã vững vàng tiến lên. Đại hội đã đề ra chủ trương các mặt công tác cho thời gian tới, trong đó có công tác Mặt Trận là phải tăng cường công tác vận động quần chúng tín đồ Cao Đài, đồng bào Khmer, quần chúng tín đồ Phật giáo, trí thức, nhất là giáo chức, tư sản dân tộc. Bồi dưỡng cán bộ về công tác vận động quần chúng và củng cố các cơ quan lãnh đạo trong Mặt Trận từ tỉnh đến cơ sở. Đối với chính quyền, tạo điều kiện giúp đỡ mọi mặt cho công tác Mặt Trận, Cao Đài vận, Khmer vận.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ hai đi vào cuộc sống, trở thành một động lực hết sức quan trọng thúc đẩy phong trào kháng chiến của tỉnh phát triển. Mọi mặt công tác kháng chiến đều được đẩy mạnh và thu được những thành tích đáng kể.

Công tác Mặt Trận được củng cố, giữa năm 1949, tại Bời Lời ( xã Đôn Thuận, huyện Trảng Bàng), Đại hội đại biểu Mặt Trận sáp nhập Mặt Trận Việt Minh tỉnh với Hội Liên hiệp Quốc dân tỉnh Tây Ninh[40] thành Mặt Trận Liên Việt. Hội nghị đã bầu ông Nguyễn Văn Điều (giáo chức) làm Chủ tich; Ông Dương Minh Huê (trí thức), ông Hộ (luật gia), ông Bùi Ngọc Hà (Cao Đài 12 phái), ông Sanh (Cao Đài phái Bến Tre) và một đại diện Công giáo ở Tha La đồng làm Phó Chủ tịch; Ông Nguyễn Văn Tốt (Hai Bình) đươc bầu Tổng thư ký.

Sau Đại hội, Mặt Trận Liên Việt ngoài việc tuyên truyền vạch rõ các âm mưu gây chia rẽ giữa người có đạo và người không có đạo, còn vận động giúp đỡ quần chúng tín đồ Cao Đài trở về ruộng vườn cũ sản xuất, phá bỏ sự ràng buộc ở các châu vi chung quanh đồn bót. Chủ trương này rất phù hợp với tình cảm của quần chúng tín đồn bị gom vào các châu vi nhiều năm qua. Nhiều quần chúng tín đồ Cao Đài đã bung ra sản xuất quanh núi Bà, bìa các khu căn cứ kháng chiến, dọn đất rừng làm rẫy, sản xuất hoa màu. Việc này vừa giải quyết đời sống của đồng bào, vừa tạo lương thực cho kháng chiến. Từ đó, công tác vận động quần chúng tín đồ Cao Đài có nhiều chuyển biến mới. Đồng bào tín đồ lần lượt bắt liên lạc với cách mạng, vì vậy sự cách biệt giữa đồng bào có đạo và không đạo dần dần được hàn gắn, tạo được sự đoàn kết giữa đạo và đời.

Tháng 02-1950, Xứ uỷ Nam bộ ra Nghị quyết bước đầu tạm cấp ruộng đất cho nông dân nghèo nhằm đẩy mạnh kháng chiến.  Thực hiện chủ trương của Xứ uỷ về việc tạm cấp ruộng đất, theo sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Mặt trận Việt Minh tỉnh đã đề xuất và được Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh đồng ý là tịch thu các đồn điền cao su của Pháp, đất của địa chủ phản động và ruộng công điền cho nông dân nghèo hoặc nông dân không có ruộng sản xuất. Đông thời Mặt trận Việt Minh tỉnh chỉ đạo các đoàn thể cứu quốc, chủ yếu là Hội Nông dân cứu quốc mở rộng hoạt động đưa bà con bung về ruộng vườn cũ sản xuất, lấp vành đai trắng do địch càn quét trước đây.  Công tác này vừa đáp ứng yêu cầu của nhân dân vùng bị kìm kẹp, vừa phá thế bao vây, vừa tạo điều kiện để móc nối dân xây dựng cơ sở vùng yếu, vận động nhân dân tiếp tế cho kháng chiến. Việc làm này, có ý nghĩa góp phần củng cố khối đoàn kết toàn dân, mở vùng, lấp vành đai trắng do bọn phản động Cao Đài gom dân lập các châu vi, đẩy mạnh kháng chiến, tạo thế đấu tranh đòi tự do đi lại sản xuất.

Đoàn Thanh niên cứu quốc sau các khoá học đào tạo đã trực tiếp xuống cơ sở phát động phong trào như tải gạo, phá kinh tế địch ( chủ yếu là cây cao su), phá các đường giao thông quan trọng; nhất là phong trào thanh niên xung phong tòng quân giết giặc, có lúc các huyện phải ngăn bớt để giữ phong trào ở địa phương. Hội Phụ nữ cứu quốc ở các huyện đã đưa tổ chức hội vào thị trấn, các chị đã cung cấp nhiều mặt hàng cần thiết cho kháng chiến. Nổi bật nhất là Hội mẹ chiến sĩ. Các mẹ tìm mọi cách vận động ủng hộ bộ đội bằng nhiều hình thức khác nhau như: “ hủ gạo kháng chiến”, “ con gà chiến sĩ”, “ liếp rau bộ đội” để bộ đội bớt khổ. Cho nên “Hội mẹ” có vai trò rất to lớn trong đời sống vật chất và tinh thần của anh em chiến sĩ.

Trong kháng chiến dù có khó khăn, gian khổ quân dân Tây Ninh vẫn nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Mặt trận Liên Việt kết hợp với huyện Châu Thành tổ chức cuộc mittinh lớn tại Bàu Sen ( xã Hảo Đước) mừng sinh nhật lần thứ 60 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lễ đài trang trí đẹp với bức chân dung thật lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng bào các xã của huyện Châu Thành về dự rất đông. Đặc biệt là đồng bào ở Thị xã bấp chấp sự phong tỏa của địch cũng đến dự lễ và mang theo nhiều quà để tặng bộ đội. Kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân Tây Ninh kính dâng lên Bác Hồ quyết tâm thư: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” để đẩy mạnh hơn nữa mọi mặt công tác kháng chiến đến “ Thành công, thành công, đại thành công”.

Từ ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đến cuối năm 1950, cuộc kháng chiến ở tỉnh Tây Ninh đã trãi qua đầy gian lao thử thách, nhưng với sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ, Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt tỉnh đã tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân đoàn kết tham gia vào cuộc kháng chiến. Với ý chí chiến đấu kiên cường vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, với tinh thần tự lực tự cường, quân và dân vượt qua khó khăn, vừa đánh đuổi quân xâm lược Pháp, vừa kiên trì đấu tranh chống bọn phản động trong tôn giáo Cao Đài đưa cuộc kháng chiến có bước phát triển nhảy vọt.

III. BỐ TRÍ LẠI CHIẾN TRƯỜNG, MẶT TRẬN LIÊN VIỆT TỈNH GIA ĐỊNH-NINH ĐÃ TẬP HỢP CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN ĐỨNG LÊN ĐẤU TRANH, GÓP PHẦN KẾT THÚC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1951-1954)

Sau những thất bại ở biên giới phía bắc, thực dân Pháp buộc phải chuyển từ chiến lược tấn công sang chiến lược phòng thủ. Để thực hiện chiến lược này, thực dân Pháp quay về tăng cường củng cố Nam bộ, áp dụng chiến thuật mới “giăng tháp canh”, đồng thời tung các đội Commăngđô[41] luồn sâu, đánh lẻ để ngăn chặn giao thông liên lạc, ngăn chặn nguồn tiếp tế của lực lượng kháng chiến.

Trước tình hình địch ráo riết thực hiện chính sách bao vây mọi mặt, Trung ương Cục miền Nam[42] quyết định bố trí lại chiến trường. Toàn Nam bộ lấy sông Tiền làm ranh giới, chia thành hai Phân liên khu: Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây. Đồng thời sắp xếp lại lực lượng, thay đổi tổ chức và kiện toàn các cấp lãnh đạo ở tỉnh, huyện, xã. Các cơ quan của tỉnh được sắp xếp lại gọn nhẹ, vừa có lực lượng chiến đấu ở phía trước, vừa có lực lượng sản xuất ở hậu phương, nhằm giảm bớt gánh nặng cho công tác tiếp tế lương thực, thực phẩm.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Cục, tỉnh Tây Ninh cùng với hai huyện Đức Hoà Thành, Trung Huyện của tỉnh Chợ Lớn và hai huyện Hóc Môn, Gò Vấp của tỉnh Gia Định sáp nhập thành tỉnh Gia Định- Ninh. Sau đó Tỉnh uỷ thành lập huyện căn cứ Dương Minh Châu gồm 5 xã: Ninh Thạnh, Thạnh Bình, Chơn Bà Đen, Phước Ninh và Định Thành.

Khi huyện căn cứ Dương Minh Châu xây dựng ổn định, Trung ương Cục, Bộ Tư lệnh Nam bộ, Phân liên Khu uỷ miền Đông chọn vùng Tà Dơ ( Đồng Rùm, huyện Dương Minh Châu) làm căn cứ.

Việc bố trí lại chiến trường, thành lập huyện Dương Minh Châu, căn cứ kháng chiến đầu não của Nam bộ, tỉnh Tây Ninh được tiếp cận sự lãnh đạo của Trung ương Cục, Phân liên Khu uỷ miền Đông đã tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào kháng chiến tiếp tục phát triển trong tình hình mới.

Sau khi tỉnh Gia Định- Ninh được hình thành, Tỉnh uỷ có nhiều cuộc họp với các ngành, các huyện để sắp xếp đội ngũ cán bộ, củng cố nội bộ, ổn định tình hình hoạt động kháng chiến. Mặt trận Liên Việt tỉnh Gia Định- Ninh do ông Mười Thới giữ chức Chủ tịch, ông Nguyễn Văn Tốt (Hai Bình) làm Phó chủ tịch và gồm nhiều thành phần khác trong Mặt trận, tiêu biểu cho mọi giai cấp và tầng lớp xã hội trong tỉnh.

Song song với hoạt động vũ trang chống địch càn quét lấn chiếm, ở vùng tạm chiếm Mặt trận Liên Việt các cấp cùng với các đoàn thể cứu quốc vận động đồng bào đấu tranh chống thuế, chống làm xâu bằng cách trốn tránh, kêu đói nghèo. Ở vùng tranh chấp, vận động đồng bào cất giấu bớt đồ đạc, chống cướp bóc, bắt do thám và sẵn sàng làm tai mắt cho du kích, bộ đội diệt địch.

Ngày 16-8-1951, Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Gia Định- Ninh ra thông báo về việc mua cổ phiếu kháng chiến để tiếp tục ủng hộ kháng chiến, Mặt trận Liên Việt các cấp cùng với các đoàn thể cứu quốc đã vận động tuyên truyền trong đồng bào mua cổ phiếu kháng chiến là cho Chính phủ vay tiền, vừa có lợi cho kháng chiến, vừa có lợi cho dân; mua cổ phiếu kháng chiến là cách tham gia kháng chiến thiết thực giết giặc cứu nước. Tại tỉnh Tây Ninh (cũ), cổ phiếu kháng chiến bán được 7.000 đồng.[43]

Năm 1952, Trung ương Cục miền Nam đề ra hai chính sách: Cao Đài vận và thuế nông nghiệp.

Đối với công tác Cao Đài vận, tỉnh Tây Ninh (cũ) có trung tâm tôn giáo Cao Đài nên tiến hành tổ chức nhiều lớp học tập cho cán bộ đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể thông suốt về đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng, từ đó mở rộng tuyên truyền ra dân. Nhiều đội tuyên truyền xung phong luồn sâu vào vùng Toà Thánh và “châu vi” các đồn bót vừa tuyên truyền vận động tín đồ trở về ruộng vườn cũ sinh sống, vừa phân hoá chức sắc, vừa vận động binh lính đào rã ngũ hoặc làm nội ứng hạ tháp canh, diệt đồn. Ngoài ra, ta còn tuyên bố chỉ đánh đồn Pháp và đồn Cao Đài ngoan cố theo Pháp, không đánh những đơn vị, đồn bót Cao Đài không quấy nhiễu dân.

Với sự nổ lực hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể, công tác Cao Đài vận trong hai năm 1952, 1953 đạt kết quả tốt, xoá được phần lớn ranh giới thành kiến giữa đạo và đời, giữa binh lính Cao Đài và bộ đội kháng chiến, khoét sâu mâu thuẫn nội bộ bọn phản động trong tôn giáo Cao Đài, hiện tượng đào rã ngũ ngày càng nhiều trong hàng ngũ binh sĩ Cao Đài.

Trong công tác thuế nông nghiệp, được các đoàn thể của Mặt trận đảm nhiệm tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt chính sách thuế nông nghiệp. Đây là việc làm mới, nhưng cán bộ các đoàn thể kiên trì phát động, giải thích, thuyết phục được đại đa số nhân dân đồng tình hưởng ứng.

Ở vùng nông thôn bị tạm chiếm, cán bộ các đoàn thể len lỏi vào tuyên truyền chính sách thuế nông nghiệp, kết hợp với việc lãnh đạo nhân dân chống thuế, chống xâu, chống bắt lính. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và với sự tác động của bộ đội, nhân dân tự giải phóng mình khỏi sự bóc lột, kìm hãm của giặc.

Từ đó, việc thực hiện chính sách thuế nông nghiệp đạt kết quả khá cao, nhân dân vừa làm nghĩa vụ của mình, vừa mang tình cảm với kháng chiến. Chính sách thuế nông nghiệp còn đáp ứng được một phần cung cấp lương thực cho bộ đội và cán bộ. Cán bộ, chiến sĩ thêm an tâm phấn khởi và nhân dân cảm thấy việc đóng góp của mình là thiết thực nuôi quân đánh giặc, chứng tỏ kháng chiến ngày càng lớn mạnh.

Trong khi mọi mặt kháng chiến đang trên đà đi lên thì tháng 10-1952, cơn bão lụt Nhâm Thìn ập đến gây nhiều thiệt hại. Huyện Châu Thành bị ngập 4 xã: Đước Hoà Bình, Khăng Xuyên, Thái Bình, Long Xuyên Điền, thiệt hại 80% ruộng, 40% rẫy. Huyện Trảng Bàng thiệt hại 2/3 số lúa. Huyện Dương Minh Châu thiệt hại hơn 50% diện tích ruộng. Tính chung ba huyện của tỉnh Tây Ninh (cũ) thiệt hại khoảng 500.000 giạ lúa.

Hậu quả nghiêm trọng nhất của lũ lụt là gây ra nạn đói. Hàng vạn chiến sĩ, đồng bào trong vùng căn cứ lâm vào cảnh thiếu ăn từng ngày, có nơi không đủ gạo nấu cháo cho thương binh ăn.

Trước tình hình đó, để ổn định đời sống của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, Tỉnh uỷ Gia Định- Ninh chủ trương:

– Tất cả các cơ quan Dân Chính Đảng đều phải đẩy mạnh tăng gia sản xuất, trồng cây hoa màu ngắn ngày và chăn nuôi gia súc, gia cầm.

– Tổ chức đường dây vận tải tiếp tế, lấy gạo các tỉnh miền Tây về để cứu đói.

– Tập trung thu thuế nông nghiệp ở vùng tranh chấp và vùng giải phóng không bị thiên tai (ở mỗi vùng có biện pháp khác nhau).

– Vận động nhân dân tích cực đóng góp ủng hộ cách mạng.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ, các huyện của tỉnh Tây Ninh (cũ) chỉ đạo Mặt trận cùng thành viên là các đoàn thể vận động nhân dân trong căn cứ sản xuất chống đói. Nước rút đến đâu là trồng ngay hoa màu đến đó. Ở huyện Châu Thành và Trảng Bàng còn phát động mạnh phong trào trồng khoai ruộng, trồng xen vụ bắp để kịp thời cứu đói. Đường dây tải gạo từ Đồng Tháp Mười về được củng cố và mở rộng. Tất cả cán bộ, chiến sĩ đều sản xuất tự túc.

Các huyện của tỉnh Tây Ninh (cũ) vừa thoát khỏi cảnh thiếu muối, đói cơm vì địch hoạ trong mấy năm trước, nay lại bị thiên tai nặng nề, nhưng đồng bào và chiến sĩ vẫn cố gắng vượt qua. Đặc biệt, không vì khó khăn về lương thực mà sút giảm tinh thần kháng chiến.

Giặc Pháp liên tiếp thất bại trên các chiến trường, thế và lực ngày càng suy yếu, lợi dụng tình hình này, đế quốc Mỹ nhảy vào nắm nhiều tôn giáo, nên thực dân Pháp dùng thủ đoạn “ thân binh hoá” các lực lượng vũ trang giáo phái. Một số tên phản động trong tôn giáo muốn lợi dụng cả Pháp và Mỹ đã hình thành Mặt trận Quốc gia kháng chiến gọi là Liên minh vào tháng 6-1952.

Quân đội Quốc gia Liên minh do Trình Minh Thế chỉ huy, đưa ra tôn chỉ, mục đích, lời kêu gọi hô hào đoàn kết đánh Pháp, chính Quân đội quốc gia Liên minh mới là Cao Đài chính thống, quyết tâm tách khỏi Toà Thánh ra rừng đánh Pháp. Bọn chúng dựa vào lời kêu gọi bịp bợm đó để kêu gọi nhân dân ủng hộ đánh Pháp. Nhưng thực chất hoạt động của chúng là cướp của giết người hết sức dã man, bóc lột tô tức cả đồng bào Campuchia ở biên giới. Chúng thành lập đội quân Hắc y (biệt kích), chia từng nhóm nhỏ luồn sâu vào căn cứ cách mạng, giả dạng dân đi mò cua, bắt cá để bắt dân cướp của, chặn đường bắt cán bộ, truy lùng du kích và dò la tình hình cách mạng. Bắt được cán bộ, đồng bào trong vùng căn cứ là giết chết, hoặc bỏ người vào bao bố, cột miệng bao lại, treo đá thả sông, gọi là cho đi “mò tôm”, bắt phụ nữ hãm hiếp. Ngoài ra, còn có những nhóm Hắc y khác đột nhập vào xóm làng do Pháp kiểm soát, bắt dân đóng tiền, ai đóng không đủ, không đúng yêu cầu của chúng là bị đe doạ hoặc thủ tiêu. Quân đội quốc gia Liên minh là hung thần, là nổi kinh hoàng của nhân dân ở vùng tạm chiếm cũng như trong vùng căn cứ.

Năm 1953, do thất bại nặng nề ở chiến trường Bắc Bộ, giặc Pháp lúng túng bị động, rút vào thế phòng ngự, ý đồ củng cố chiến trường Nam bộ không thực hiện được. Trong khi đó phong trào kháng chiến ở Nam Bộ không ngừng lớn mạnh. Ở tỉnh Gia Định-Ninh, các tiểu đoàn tập trung của tỉnh cùng bộ đội địa phương và du kích xã hoạt động mạnh có tác dụng thúc đẩy phong trào kháng chiến chung.

Ở các sở cao su, công nhân tiếp tục đấu tranh chống chế độ bóc lột hà khắc như tăng giờ làm, nhưng không tăng lương, còn bị cúp phạt; phá kinh tế như đổ mủ cao su, lãng công, tham gia du kích mật kết hợp với du kích xã và bộ đội địa phương diệt địch tại sở cao su. Phong trào phát triển mạnh nhất ở sở cao su Bến Củi, Vên Vên.

Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Uỷ ban kháng chiến hành chính các huyện, Mặt trận đã phục vụ kịp thời cho yêu cầu chung của chiến trường, nhất là tiếp tục và mở rộng việc thực hiện hai chính sách lớn: Cao Đài vận và thuế nông nghiệp. Đồng thời lãnh đạo đồng bào sản xuất tự túc lương thực, hoa màu, đẩy mạnh việc tiếp vận và giao lưu hàng hoá giữa các vùng để ổn định đời sống đồng bào và bộ đội yên tâm kháng chiến.

 Thành viên của Mặt trận là các đoàn thể quần chúng đẩy mạnh công tác hơn trước. Hội Nông Dân tích cực tổ chức và lãnh đạo cuộc vận động đòi giảm tô, giảm tức ở vùng tạm chiếm và tiến hành lấy đất  của địa chủ phản động, công điền tạm cấp cho nông dân nghèo không có ruộng. Đoàn Thanh niên phát động mạnh phong trào tòng quân vào bộ đội giết giặc, gia nhập du kích thoát ly và du kích mật để bảo vệ xóm ấp. Hội Phụ nữ tổ chức tốt công tác binh vận, làm rệu rã tinh thần binh lính địch, khiến cho việc đào rã ngũ của địch trở thành hiện tượng phổ biến.

Đầu năm 1954, tình hình chung của cuộc kháng chiến của nhân dân ta diễn biến hết sức thuận lợi: Chiến dịch Thượng Lào (1-1954) toàn thắng; tỉnh Kom Tum được giải phóng; Plâyku bị uy hiếp nặng khiến địch phải huỷ bỏ cuộc đánh chiếm đồng bằng duyên hải Khu I và rút quân ở Bình Trị Thiên, Nam Bộ lên tăng viện cho Plâyku. Trong cục diện thuận lợi đó, chiến dịch Điện Biên Phủ trở thành trận quyết chiến chiến lược.

Hoạt động kháng chiến của quân dân các huyện: Dương Minh Châu, Châu Thành và Trảng Bàng trong những ngày đầu năm 1954 diễn ra khẩn trương , sôi nổi. Huyện Dương Minh Châu, bộ đội địa phương  mở rộng hoạt động ra ngoại vi căn cứ, khống chế lộ 26, phục kích tiêu diệt nhiều đoàn xe quân sự của địch tại Cầu Nhỏ. Từ đó, địch không dám lùng sục vào vùng căn cứ. Huyện Trảng Bàng, bộ đội địa phương kết hợp với bộ đội chủ lực tỉnh đánh giao thông chiến trên các trục lộ 26, 1, diệt nhiều đoàn côngvoa của địch, bao vây bức rút hoặc tiêu diệt các bót Bùng Binh, Mang Chà, Trảng Sa, Bà Nhã, Truông Mít và đánh thiệt hại nặng bót Gia Bình, đánh tan tiểu đoàn Cơ Thánh Vệ tại đồng Đất Đậu ( xã Đôn Thuận) khi chúng từ Toà Thánh xuống giải vây cho bót Cao Đài ở Cầu Xe. Một tháng sau, địch đưa thêm một tiểu đoàn Hắc Y ( Quân đội Quốc gia Liên minh) xuống ứng cứu cho bót Bùng Binh, bị ta phục kích tiêu diệt gần hết đơn vị này. Huyện Châu Thành, tiêu diệt bót Năm Dinh khiến bọn chúng co lại không dám đánh phá nữa. Một vùng rộng lớn bên hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông được giải phóng. Bội đội địa phương huyện chuyển sang tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông,  cùng du kích các xã kìm chế lộ 13, phối hợp với tiểu đoàn 306 diệt bót Oconell. Làm chủ lộ 7, đẩy địch lùi về cố thủ thị xã.

Với những chiến thắng này, cùng với tin tức từ mặt trận Điện Biên Phủ và các chiến trường khác dồn dập bay về nhân dân các huyện nô nức phấn khởi. Mọi người tìm cách giúp đỡ bộ đội, quyên góp lương thực, thuốc men ủng hộ kháng chiến để mau chóng giành thắng lợi hoàn toàn.

Ngày 7-5-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc toàn thắng. Ngày 21-7-1954, Hiệp định Giơnevơ lập lại hoà bình ở Đông Dương được ký kết, lệnh ngừng bắn được tiến hành trên toàn chiến trường Nam Bộ.

Để thiết thực chào mừng thắng lợi, cơ quan Tuyên huấn tỉnh xuất bản nhiều các loại sách báo với nội dung tuyên truyền về chiến thắng Điện Biên Phủ, về thắng lợi của Hiệp định Giơnevơ, về nhiệm vụ đấu tranh sắp tới được phân phát rộng rãi ở vùng căn cứ, vùng tranh chấp, vùng tạm chiếm, vào các đồn bót địch. Đồng thời, khắp nơi trong tỉnh đã diễn ra các cuộc mittinh mừng chiến thắng.

Qua chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quân dân Tây Ninh đã phải chịu biết bao gian khổ, hy sinh, kiên trì gây dựng lực lượng, phát động phong trào chiến đấu không mệt mỏi với bọn xâm lược và bè lũ tay sai mạnh hơn hẳn về quân số và trang bị vũ khí để giành thắng lợi quyết định. Đạt được thắng lợi đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền, còn có Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt đóng vai trò là trung tâm đoàn kết vận động toàn dân chung tay góp sức đánh giặc.      

 

CHƯƠNG IV

MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG TỈNH TÂY NINH TRONG SỰ NGHIỆP KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954-1975)

  1. VẬN ĐỘNG NHÂN DÂN ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ GIỮ GÌN LỰC LƯỢNG, TIẾN LÊN ĐỒNG KHỞI VŨ TRANG GIẢI PHÓNG ĐẠI BỘ PHẬN NÔNG THÔN VÀ SỰ RA ĐỜI MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM (1954-1960)

Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương được ký kết (7-1954). Theo qui định của Hiệp định đất nước tạm thời chia làm hai miền Nam- Bắc, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Miền Nam tạm thời do thực dân Pháp nắm giữ, lực lượng bên nào tập kết về bên ấy và sau hai năm sẽ hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất nước nhà.

Thực hiện Hiệp định Giơnevơ, theo sự chỉ đạo của Đảng, 283 cán bộ, chiến sĩ của Tây Ninh cùng một số cán bộ của Phân liên khu miền Đông từ chiến khu Dương Minh Châu về Cao Lãnh (Đồng Tháp), khu tập kết 100 ngày, sau đó tập kết ra Bắc. Bên cạnh đó, để chuẩn bị cho nhiệm vụ cách mạng mới là đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Giơnevơ, tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, đấu tranh chống địch khủng bố, trả thù những người kháng chiến cũ, đòi quyền dân sinh, dân chủ; lực lượng cách mạng cũng nhanh chóng sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời tổ chức chôn giấu vũ khí.

Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, ngày 23-7-1954, hàng ngàn người ở Bến Cầu giương băng cờ mừng hoà bình, kéo qua Gò Dầu để phối hợp với đồng bào ở đây tổ chức một cuộc biểu tình lớn, nhưng vừa đến cầu Gò Dầu bị giặc Pháp chặn lại. Đồng bào giằng co với địch đến trưa vẫn không qua được cầu, đành phải quay về. Tại Gò Dầu, hàng ngàn người giương cao biểu ngữ, cờ đỏ sao vàng mừng Hiệp định Giơnevơ và hô to khẩu hiệu “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!”. Địch hoảng sợ bắn vào đoàn biểu tình làm hai người chết, hai người bị thương, nhưng vẫn không giải tán được đoàn biểu tình. Ngày 26-8-1954, tại Trảng Bàng, đoàn biểu tình hàng ngàn người từ các xã kéo ra thị trấn chào mừng hoà bình, địch đàn áp, bắn chết một người dẫn đầu đoàn biểu tình và làm nhiều người khác bị thương.

Tháng 10-1954, để công tác lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời thích ứng với tình hình mới, Liên tỉnh uỷ miền Đông[44] quyết định tách tỉnh Tây Ninh khỏi tỉnh Gia Định thành tỉnh riêng theo ranh giới như cũ và chỉ định Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tây Ninh gồm 11 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Trọng Cát (Ba Cát) làm Bí thư Tỉnh uỷ.

Tỉnh uỷ Tây Ninh tổ chức Hội nghị tại xóm Lợi Hoà Đông ( xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng), đề ra hương trình hành động, củng cố lại các tổ chức Đảng các cấp, giáo dục cho đảng viên phương thức hoạt động công khai, bí mật, lãnh đạo tư tưởng cán bộ, đảng viên tránh ảo tưởng hoà bình. Cán bộ, đảng viên phải tạo chỗ dựa trong dân, thực hiện cùng ăn, cùng ở, cùng làm và cùng quần chúng đấu tranh để qua đó xây dựng và phát triển thực lực cách mạng. Tỉnh uỷ còn chỉ đạo các địa phương, trong khi tạm giải thể các đoàn thể cứu quốc, phải dựa vào tập quán và sinh hoạt bình thường của quần chúng mà tổ chức ra các tổ chức công khai biến tướng như hội banh, hội làm nhà, hội cúng đình, miếu, vạn cấy, vạn đổi công…Ở thị xã, thị trấn, tận dụng các tổ chức của địch như nghiệp đoàn, phụ nữ, thanh niên để tập hợp quần chúng theo giới của mình; rà soát và nắm lại các cơ sở cách mạng trước đây. Đồng thời lựa chọn người tốt và số cán bộ, đảng viên, đoàn viên đưa vào Hội đồng hương chính, dân vệ, các sắc lính và trong bộ máy nguỵ quyền, gây cơ sở trong lòng địch để nắm âm mưu hoạt động, nhằm hạn chế việc thi hành các chính sách áp bức, bóc lột của địch. Đặc biệt ở thời điểm này, ta vẫn in ấn tài liệu, truyền đơn, tờ rơi với nội dung tuyên truyền thắng lợi của Hiệp định Giơnevơ được tán phát rộng rãi trong nhân dân và ngay trong trụ sở Tòa hành chính tỉnh của địch tại thị xã.

Về phía địch, chúng nhanh chóng xây dựng chính quyền, quân đội để đàn áp lực lượng cách mạng miền Nam. Riêng ở Tây Ninh, sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, lực lượng Cao Đài Liên minh như “ rắn mất đầu”, đa số hoảng loạn tan rã, một số khác ra đầu hàng Ngô Đình Diệm, như lực lượng của nhóm Văn Thành Cao. Cao Đài Liên minh của nhóm Trình Minh Thế lẫn trốn ở núi Bà Đen và khu vực Bến Cầu giáp biên giới Campuchia. Do không còn ai chi viện, không còn đất sống nên  bung ra cướp bóc, chúng tổ chức truy lùng, bắt bớ, bắt giết, thủ tiêu, chôn sống, mổ bụng, moi gan cán bộ kháng chiến và những người yêu nước. Hàng trăm người bị chúng giết hại, trong đó có nhiều phụ nữ bị chúng hãm hiếp rồi giết chết. Thời gian này gọi là nạn Liên minh ở Tây Ninh.

Đầu năm 1955, Tỉnh uỷ kiểm điểm việc thực hiện chương trình hành động, nhận thấy việc giữ gìn lực lượng đạt kết quả khá tốt, đại đa số cán bộ, đảng viên bước đầu bám dân, xây dựng được “lõm chính trị” an toàn, có hàng rào quần chúng bảo vệ, Tỉnh uỷ, Huyện uỷ đều đóng trong nhà dân, có hầm bí mật và hệ thống thông báo tin khi giặc càn, giặc rút.

Tôn giáo Cao Đài có quân đội riêng, nguỵ quyền Sài Gòn tính toán không để cho lực lượng này tồn tại riêng rẽ. Để thực hiện kế hoạch này, chúng dùng thủ đoạn một mặt thương lượng với các lãnh tụ đạo Cao Đài, giả vờ chấp nhận các yêu sách của họ về quyền lợi và địa vị, mặt khác đưa một số chuyên viên quân sự từ Sài Gòn lên lập Mặt trận đối lập với Chính phủ Ngô Đình Diệm, rồi phanh phui việc này ra ánh sáng. Nguỵ quyền Sài Gòn lấy cớ này, cho quân bao vây Toà thánh, khống chế Hội Thánh, buộc Hộ pháp Phạm Công Tắc phải chạy sang Phnôm Pênh (Campuchia). Trước tình hình đó, đa số những người lãnh đạo Cao Đài trước đó từng hợp tác với Pháp, Nhật, trong đó có Trình Minh Thế, đều buộc phải quy phục Ngô Đình Diệm. Để xoa dịu và tiếp tục dụ dỗ Hội Thánh, các chức sắc, chức việc và đông đảo tín đồ, chính quyền Ngô Đình Diệm ký Hiệp ước Bính Thân với các lãnh tụ Cao Đài, hứa cho Cao Đài quyền tự trị.

Nắm được âm mưu và thủ đoạn của địch đối với tôn giáo Cao Đài, Tỉnh uỷ Tây Ninh đã bí mật lựa chọn một số cán bộ vừa có năng lực, vừa có người thân quen tốt ở Toà Thánh, như đồng chí Hai Kết, Huyện uỷ viên Gò Dầu; đồng chí Nguyễn Trung Đạo (Bảy Đạo), Bí thư xã Trí Bình (huyện Châu Thành) được đưa vào hoạt động trong vùng Toà Thánh để vận động và lãnh đạo quần chúng đấu tranh, xây dựng cơ sở cách mạng. Riêng đồng chí Nguyễn Văn Tốt (Hai Bình) được Xứ uỷ Nam Bộ giao nhiệm vụ ẩn mình vào cửa đạo, tạo thế xây dựng lực lượng hoạt động lâu dài, vận động quần chúng tín đồ Cao Đài, chức sắc, chức việc, tập hợp vào Mặt trận đoàn kết chống Mỹ- Diệm.

Giữa năm 1955, thông qua cơ sở cách mạng, Tỉnh uỷ tổ chức “Mặt trận hoà bình chung sống” trong tôn giáo Cao Đài để tập hợp quần chúng tín đồ đấu tranh chống Mỹ – Diệm. Đồng thời, chống lại tổ chức “Hoà bình giáo hội” là một công cụ của địch do một số chức sắc cao cấp trong Hội Thánh có thành kiến với cách mạng bày ra. Hoạt động chủ yếu của tổ chức “Hoà bình giáo hội” là xuyên tạc về thắng lợi cách mạng của nhân dân ta. “Mặt trận Hoà bình chung sống” ra đời với cương lĩnh, điều lệ hoà hợp dân tộc, đấu tranh cho sự yên lành đã huy động đông đảo quần chúng tín đồ tham gia, trong đó có nhiều chức sắc, chức việc.

Theo ngọn cờ của “Mặt trận Hoà bình chung sống”, tại Toà Thánh, hàng ngàn quần chúng tín đồ với khẩu hiệu chống quân nguỵ lấn chiếm Toà Thánh và chống mở Long Hoa hội để đón tiếp Ngô Đình Diệm đến Toà Thánh. Khi Ngô Đình Diệm đến Toà Thánh, đứng trên lễ đài đọc diễn văn, quần chúng với các hình thức đấu tranh làm mất trật tự, xen lẫn với những tiếng la vang “đả đảo Ngô Đình Diệm”, “Hồ Chí Minh muôn năm”. Trên lễ đài, Ngô Đình Diệm đang huênh hoang bài diễn văn đầy lời lẽ dụ dỗ, phải hoảng sợ trước sức mạnh của quần chúng và tức tốc về Sài Gòn.

Trong những năm đấu tranh chính trị giữ gìn lực lượng, trên danh nghĩa không còn tổ chức Mặt trận, nhưng tất cả cán bộ đảng viên đều làm công tác Mặt trận, vận động quần chúng, tổ chức xây dựng lực lượng đấu tranh chính trị, thực hiện phương châm hoạt động: cùng ăn, cùng ở, cùng làm và cùng quần chúng đấu tranh. Đồng thời, sử dụng thế hợp pháp kết hợp với nửa hợp pháp và không hợp pháp tuỳ cơ ứng biến phù hợp với từng vùng địch kiểm soát. Không còn lực lượng vũ trang và nghiêm chỉnh chấp hành các điều khoản Hiệp định, ta dùng thế công khai hợp pháp vận động quần chúng đấu tranh.

Phong trào đấu tranh chống địch làm u tối đời sống, địch cấm đoán mọi cuộc hội họp, đám giỗ, đám cưới cũng phải xin phép, doạ bắt tù những ai vi phạm, gây căng thẳng trong đời sống xã hội. Ta tổ chức các hội biến tướng như: hội đờn ca, hội lân, hội banh, vạn cấy… thu hút thanh niên, kể cả con của tề xã, ấp vào tham gia hội, địch không cấm được. Các hội biến tướng tạo thuận lợi cho cán bộ ta thâm nhập để phổ biến chủ trương của Đảng cho quần chúng đấu tranh.

Về phía địch, đế quốc Mỹ nhanh chóng nhảy vào miền Nam. Với sự chi phối và tài trợ của Mỹ, ngày 07-7-1955 Ngô Đình Diệm được dựng lên làm Thủ tướng Chính phủ để thực hiện âm mưu phá hoại Hiệp định, chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa và căn cứ quân sự của Mỹ. Chính quyền Ngô Đình Diệm công bố Đạo dụ số 2   “Cải cách điền địa” để cho bọn địa chủ cướp đoạt ruộng đất của nông dân được cách mạng cấp trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Đạo dụ số 2 bắt nông dân ký khế ước là 5 năm và đóng tô cho bọn địa chủ, khôi phục lại giai cấp địa chủ. Nông dân ký khế ước tức là từ bỏ quyền sở hữu ruộng đất, nếu không ký khế ước bị xem là “Việt cộng”, có thể bị bắt đi tù. Ở nông thôn, phong trào nông dân chống cướp đất diễn ra mạnh mẽ, kiên quyết không cho địa chủ cướp đất, như chống lại tên đốc phủ Đẩu ở xã An Hoà (huyện Trảng Bàng). Đồng bào đấu tranh quyết liệt, dám đưa Quyết định cấp đất của Ủy ban Kháng chiến- Hành chính xã An Hòa cho địch xem. Quận trưởng Trảng Bàng vẫn cho lính đến đo lấy đất, nông dân xã An Hoà dùng dao mác, rựa chặt hết cọc cắm đo đất. Trước đấu tranh của quần chúng, binh lính không dám đàn áp. Tại xã Gia Lộc (huyện Trảng Bàng), quần chúng đấu tranh không cho Hàm Đứa lấy lại đất đã được chính quyền cách mạng cấp trong thời chống Pháp. Đặc biệt, có cuộc đấu tranh trực diện với tên Tỉnh trưởng Tây Ninh liên tục 2-3 ngày, với yêu sách không được ủng hộ bọn địa chủ cướp đất của nông dân.    

Chống âm mưu địch trong vấn đề quốc gia hóa quân đội Cao Đài và gây chia rẽ đạo đời, tỉnh tổ chức học tập chính sách tôn giáo của Đảng trong quần chúng có đạo và không đạo nêu rõ âm mưu chia rẽ của địch, giải quyết ruộng đất cho số đồng bào các châu vi bung về làng cũ sản xuất. Tỉnh đưa cán bộ giúp đỡ binh lính Cao Đài chạy ra rừng và nắm lấy những đơn vị Cao Đài ly khai, sau ta dùng danh nghĩa này hoạt động tạo lực lượng vũ trang bí mật của ta.

Thời gian từ tháng 7-1956 đến cuối năm 1959, địch bắt đầu khủng bố có quy mô, có thể nói đây là thời kỳ cán bộ ta bị tổn thất nghiêm trọng nhất, nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt tù đày và hy sinh.

Sau khi ban hành luật “Luật bảo vệ trị an”, địch đưa ra quốc sách chống cộng nhằm dụ dỗ mua chuộc, rún ép, đấu tố cộng, diệt cộng sản… Và chọn Tây Ninh làm thí điểm chiến dịch tố cộng, diệt cộng mang tên Trương Tấn Bửu từ ngày 17-9-1956 đến ngày 15-3-1957. Trước tiên, địch đánh vào hai xã Phước Vinh và Hòa Hội (2 xã có phong trào đấu tranh của quần chúng mạnh nhất). 20 ngày sau, chúng đánh sang một số xã khác thuộc huyện Châu Thành như Thái Bình, Thanh Điền, Trí Bình, Ninh Điền và đánh tràn đến các huyện Gò Dầu, Trảng Bàng. Địch đã vấp phải tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân, kiên quyết không tố cộng, không ly khai, không xé cờ, không khai báo cơ sở cách mạng.

Trong những năm đấu tranh chính trị, nhân dân và các dân tộc tỉnh Tây Ninh đã liên tục đấu tranh chống địch với hình thức phong phú làm cho địch bị động lúng túng. Đạt được một số thắng lợi đó chứng tỏ lòng yêu nước của nhân dân được nâng lên cao độ, đồng bào càng thấy rõ dã tâm của đế quốc Mỹ và tay sai, càng quyết tâm xây dựng thế trận đấu tranh chính trị vững mạnh, xây dựng nền móng cho lực lượng vũ trang, tạo tiền đề cho hình thái đấu tranh mới.

Qua thực tiễn sinh động đầy gian khổ của phong trào quần chúng, các tổ chức Đảng được củng cố sinh hoạt nề nếp phù hợp với tình hình mới. Riêng ở Tòa Thánh đã thành lập Ban cán sự Đảng (tương đương Huyện ủy) với hệ thống cán bộ cốt cán và cơ sở chuyên công tác Cao Đài vận. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban cán sự Đảng Tòa Thánh, phong trào đấu tranh của quần chúng tín đồ chống địch bảo vệ sự trong sáng của đạo đi vào chiều sâu. Hàng ngàn quần chúng tín đồ trở về quê cũ hoặc bung ra khai hoang phục hóa làm rẫy, tỉa lúa, trồng khoai tận các vùng giải phóng của ta. Mối quan hệ hiểu biết giữa đồng bào có đạo và không đạo ngày càng được củng cố và phát triển.

Trước sự đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, địch tăng cường bộ máy đàn áp, chém giết, trong đó có đồng chí Hoàng Lê Kha, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy bị địch bắt khi vào thị xã công tác và bị chính quyền Ngô Đình Diệm kết án tử hình bằng máy chém theo luật 10/59. Với tôn giáo Cao Đài Tây Ninh, cái chết của Chơn nhơn Trịnh Phong Cương và Thừa sử Phạm Hữu Phước là tiếng gọi cứu đạo, cứu nước mãi mãi bừng dậy trong lòng mỗi đồng bào đạo Cao Đài.

Từ thực tế tình hình đó, tư tưởng cán bộ và quần chúng không ổn định. Tỉnh ủy chủ trương điều lắng cán bộ bị lộ, tổ chức học tập nâng cao khí tiết đảng viên, học tập gương chiến đấu của các chiến sĩ cách mạng. Qua học tập tư tưởng cán bộ chuyển biến tốt, càng khó khăn cán bộ càng có nhiều sáng kiến che mắt địch bảo vệ cán bộ đảng viên. Nhiều nơi bí mật thủ tiêu bọn ác ôn, giữ vững các cơ sở.

Trong bối cảnh chung đó, cuộc nổi dậy ở Trảng Cỏ (xã Đôn Thuận, huyện Trảng Bàng) đã tạo khí thế mới trong đấu tranh. Đầu năm 1958, xã Đôn Thuận là xã có phong trào cách mạng mạnh. Sau nhiều lần địch thanh lọc chấn chỉnh bộ máy cai trị ở cơ sở, nhưng cũng còn trưởng ấp Trảng Cỏ là người của cách mạng. Trong phong trào chống bắt lính, các hình thức đấu tranh rất đa dạng được áp dụng, như biểu tình xin miễn, hoãn quân dịch, thanh niên khai bệnh tật…Riêng ở ấp Trảng Cỏ, hàng đêm thanh niên thường đến nhà trưởng ấp xin miễn, hoãn quân dịch, phản kháng không đi lính và trưởng ấp phải đến xã, quận báo cáo gây tâm lý căng thẳng đối với địch.

 Địch nghi ngờ Trưởng ấp Trảng Cỏ có quan hệ với cách mạng, chúng cho lệnh bắt. Địch tăng cường rình rập, sau đó, một trung đội lính Bảo an bao vây nhà trưởng ấp Nguyễn Văn Rông (Tư Bịch). Quần chúng được huy động ra giải vây, lực lượng phụ nữ xông ra trước và la “ phiến quân bắt trưởng ấp”, địch nhanh chân tháo chạy, nhưng vẫn kéo theo người bị bắt. Quần chúng đánh trống mõ, thùng thiếc để báo động, một lúc sau quần chúng ở các ấp lân cận với gậy gộc xông ra sẵn sàng tiếp ứng.

Bọn lính Bảo an rút qua Cầu Xe, nhưng không dám chạy tiếp, vì phía trước cũng có tiếng trống mõ, tiếng hò la của quần chúng. Địch đành đứng lại giải thích với đồng bào là có lệnh của cấp trên mời trưởng ấp. Quần chúng không nghe chúng giải thích, vừa bao vây, vừa cố vận động thuyết phục. Trước sức mạnh và lời lẽ của quần chúng, địch buộc phải thả trưởng ấp, rồi vội vàng rút lui. Nhân dân tự động đứng lên làm chủ hoàn toàn xóm ấp. Nhưng sau đó chưa kịp báo cáo với cấp trên và nhất là nhân dân chưa kịp triển khai tổ chức tự vệ chiến đấu nên địch đưa quân đến đàn áp.

Cuộc nổi dậy của đồng bào ở ấp Trảng Cỏ là kiểu khởi nghĩa của cách mạng trong tình hình ấy, nhưng vì quá đơn độc nên bị địch tập trung lực lượng đập tan. Đây là bài học quý giá trong công tác vận động quần chúng giành quyền làm chủ.[45]  

Tháng 1-1959, Nghị quyết lần thứ 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng chủ trương: Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là con đường bạo lực. Đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân.

Thực hiện Nghị quyết 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Xứ ủy chỉ đạo tập trung lực lượng đồng khởi vũ trang Tua Hai ( hiện nay thuộc xã Đồng Khởi, huyện Châu Thành).

Tua hai (Tour) là tháp canh số 2 nằm trên Quốc lộ 22B đi  Campuchia, cách thị xã Tây Ninh 7km về phía bắc, được thực dân Pháp xây dựng trong “kế hoạch De la Tour”. Năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng nơi đây làm căn cứ quân sự lấy tên là thành Lam Sơn, nơi đóng quân của Trung đoàn 39 thuộc Sư đoàn 13 quân chủ lực ngụy, đồng thời là trung tâm huấn luyện và có một kho vũ khí được bảo vệ nghiêm ngặt.

Tháng 3- 1958, Đồng chí Võ Văn Tỏ và đồng chí Huyền là cán bộ mật giao của Ban Binh vận huyện Châu Thành xây dựng được các anh Nguyễn Kúc, Lê Cơ, Lê Huy làm cơ sở nội tuyến trong Trung đoàn 39. Qua quá trình công tác các anh được kết nạp vào Đảng và hình thành Chi bộ Đảng, do đồng chí Nguyễn Kúc làm Bí thư chi bộ. Chi bộ được giao nhiệm vụ xây dựng Chi đoàn Thanh niên Lao động trong binh lính gồm 30 đoàn viên, chia làm 3 phân đoàn ( mỗi phân đoàn 10 đoàn viên). Đội ngũ đoàn viên này đã giáo dục, giác ngộ được khoảng 235 quần chúng cảm tình với cách mạng. Thời gian sau, do hoạt động sơ xuất, địch bắt hết cơ sở nội tuyến. Tòa án quân sự của địch kết án đồng chí Nguyễn Kúc 20 năm tù, đồng chí Lê Cơ, Lê Huy mỗi người từ 7 đến 10 năm tù, các đoàn viên từ 2 đến 5 năm tù, đồng chí Võ Văn Tỏ và đồng chí Huyền mỗi người 17 năm tù. Tất cả bị đày ra Côn Đảo.

  Tháng 8- 1958, trước sự kiện Trung đoàn 39 thuộc sư đoàn 13 có nhiều cơ sở nội tuyến của ta, địch quyết định giải thể sư đoàn 13. Địch điều Trung đoàn 32 thuộc sư đoàn 21 từ miền Tây Nam Bộ lên đóng ở Tua hai và đổi tên thành Lam Sơn thành Nguyễn Thái Học.

Vào lúc 0 giờ 30 ngày 26-1-1960, trận bão lửa Tua Hai bùng cháy, ta giành được thắng lợi hoàn toàn diệt trên 400 tên địch, bắt 500 tên, thu 1.200 súng các loại, phá hủy nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh. Lực lượng ta hy sinh 07 đồng chí, bị thương 12 đồng chí.

Chiến thắng Tua Hai là thắng lợi đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng, đạt được yêu cầu về chính trị và quân sự do Xứ ủy Nam Bộ đề ra. Với chiến thắng vang vội này, cổ vũ cho phong trào đấu tranh của nhân dân Tây Ninh, miền Đông Nam Bộ và cả miền Nam vùng lên mạnh mẽ, mở đầu cho thời kỳ đấu tranh chính trị có vũ trang hỗ trợ.

Ảnh hưởng của chiến thắng Tua Hai vang dội, tinh thần địch hoang mang. Khắp nơi trong tỉnh nhiều đồn bót bị lực lượng quần chúng hù dọa cướp đồn. Trong vòng 5 tháng đã có 2/3 số xã trong toàn tỉnh được giải phóng, hơn 120 bộ máy tề ấp, tề xã bị phá vỡ.

Trong khí thế Đồng Khởi vũ trang ở miền Nam thắng lợi, ngày 20-12-1960 Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, công bố tuyên ngôn và chương trình mười điểm, đem lại sự phấn khởi lớn trong quần chúng nhân dân, đã gây nỗi lo sợ trong bè lũ Mỹ-Diệm.

Mặt trận chính thức tuyên bố: “Đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo và nhân sĩ yêu nước, không phân biệt xu hướng chính trị, để đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn Ngô Đình Diệm tay sai của Mỹ, thực hiện độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc”.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là trung tâm đoàn kết rộng lớn các lực lượng yêu nước dân chủ, hòa bình trung lập đem lại cho phong trào cách mạng đang dấy lên một danh nghĩa chính thức (từ cuối năm 1954 đến cuối năm 1960 sự hoạt động của Mặt trận diễn ra liên tục, nhưng danh nghĩa Mặt trận thì không chính thức), một phương hướng cách mạng rõ ràng. Mặt trận đã kêu gọi quần chúng tiếp tục tham gia đấu tranh cách mạng, giải phóng đất đai là trả lại ruộng đất cho nông dân do địa chủ cướp đoạt, giải phóng đến đâu là tổ chức các đoàn thể quần chúng đến đó.

Những thắng lợi to lớn của quân dân miền Nam trong cao trào Đồng khởi năm 1960 đã làm phá sản chiến lược “ Chiến tranh một phía” của Mỹ- ngụy, đưa cách mạng miền Nam chuyển sang giai đoạn mới.     

  1. MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG TỈNH TÂY NINH RA ĐỜI VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” (1961- GIỮA NĂM 1965)

Sau cao trào Đồng khởi miền Nam, tình thế cách mạng chuyển sang giai đoạn mới. Dù đế quốc Mỹ bị thất bại, nhưng chúng chưa chịu thua. Tổng thống Mỹ Kenedi đối phó bằng việc thực hiện chiến lược “ Chiến tranh đặc biệt”. Nội dung cơ bản của chiến lược này là đặt quân đội và chính quyền ngụy dưới sự chỉ huy và trang bị của Mỹ nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng.

Mục tiêu chiến lược “ Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ- ngụy là cô lập và tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam, tiêu diệt cơ sở Đảng Cộng sản, giành lại trận địa nông thôn, phong tỏa vùng biên giới, cắt đứt mọi chi viện từ miền Bắc, để cuối cùng bóp chết phong trào quần chúng, đánh bại chiến tranh cách mạng của nhân dân miền Nam, giành thắng lợi trong thời gian ngắn.

Để đạt được mục tiêu trên đây, đế quốc Mỹ đưa ra kế hoạch Xtalây- Taylor (Staley- Taylor) nhằm bình định miền Nam trong vòng 18 tháng ( từ giữa năm 1961 đến cuối năm 1962), với mục tiêu cơ bản là gom 90% dân vào ấp chiến lược. Ấp chiến lược được coi là “ quốc sách”, là “ xương sống” của chiến lược “ Chiến tranh đặc biệt”, nhằm tách lực lượng cách mạng ra khỏi dân để dể tiêu diệt. Đồng thời, đẩy mạnh đánh phá miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Về phía cách mạng, từ sau phong trào Đồng khởi vũ trang năm 1960, thế và lực của Tây Ninh tăng lên rõ rệt.

Trong vùng giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân lập ra  chính quyền tự quản để đảm bảo an ninh, trật tự, quản lý kinh tế – xã hội, tổ chức sản xuất lương thực, tiến hành các công tác văn hóa, giáo dục, y tế, tổ chức công tác chiến đấu, giết giặc bảo vệ quê hương, lấy lại ruộng đất địch cướp của nông dân do cách mạng cấp trước đây đem chia cho các gia đình liệt sĩ, thương binh, cán bộ và đồng bào không có hoặc có ít ruộng đất.

Để chào mừng sự kiện trọng đại: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, Huyện ủy Trảng Bàng tổ chức một cuộc biểu tình đấu tranh chính trị to lớn với hàng ngàn quần chúng tham gia, kéo dài 3 ngày.

Sáng ngày 17-01- 1961, với sự hợp đồng chặt chẽ, trên các con đường: lộ 1, lộ 6, lộ 7, lộ 19, khoảng 7.000 người rầm rập kéo về thị trấn Trảng Bàng và tập trung trước dinh quận. Các má, các chị lấy khẩu hiệu đấu tranh trong túi xách, tra vào gậy trúc rồi giương cao. Đoàn người hô vang khẩu hiệu chống bắt lính, đòi cho dân nghèo được mua diêm tro bón lúa…Quần chúng đòi gặp Quận trưởng Trảng Bàng đưa yêu sách. Bọn lính ào ra bao vây và đánh đập đoàn người biểu tình. Chúng dùng sơn viết khẩu hiệu phản động lên nón lá, áo của các má, các chị thì các má, các chị bỏ nón, cởi áo ( áo ngoài) xông vào xô xát với địch. Trước sự đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, địch điều 1 trung đoàn từ Sài Gòn và thị xã Tây Ninh tới xé lẻ đoàn người ra, đến trưa chúng mới tách ra gần 1.000 người đưa vào sân vận động. Trong vòng vây của kẻ thù, các má, các chị vẫn vui đùa, kể chuyện đấu tranh, ca hát những câu hò, vè tranh thủ binh sĩ ngụy:

Gió đưa cành trúc la đà,

Anh đi theo Mỹ, mẹ già ai nuôi.

Súng này bảo vệ nước nhà,

Phải đâu canh giữ bà già, trẻ em![46]

Trước lời lẽ chân tình của đồng bào, nhiều binh lính ngụy quay sang giúp đỡ người biểu tình.

Ngày 18 và 19-1-1961, Ban chỉ huy thống nhất cuộc đấu tranh điều tiếp hàng ngàn người nữa kéo vào thị trấn. Khí thế đấu tranh quyết liệt, quần chúng dùng đòn gánh, gạch đá đánh lại bọn lính ra chặn đường. Bà con ở thị trấn hết lòng giúp đỡ cơm nước, bánh trái cho đoàn biểu tình.

Trước khí thế đấu tranh của quần chúng, địch buộc thả hết số người bị bắt giam giữ ở sân vận động. Tên Đào Quận trưởng thất thế phải đấu dịu, hứa với đồng bào sẽ giải quyết các yêu sách.

Tại Tây Ninh, Ban vận động thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng được hình thành. Qua thời gian chuẩn bị, tháng 5-1961, tại xã Định Thành, (huyện Dương Minh Châu), Đại hội lần thứ nhất Mặt trận Dân tộc Giải phóng Tây Ninh được tổ chức và thành công tốt đẹp. Hơn 200 đại biểu đại diện cho các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đến dự với niềm phấn khởi trước sự chuyển biến lớn của cách mạng. Đại hội đã nghe trình bày cương lĩnh, chương trình của Mặt trận. Sau khi đồng chí Võ Văn Truyện ( Tám Hòa), Bí thư Tỉnh ủy phát biểu, đại diện các thành phần khác phát biểu tham luận, như anh Nguyễn Văn Thắng ( Hai Thắng) đại diện Thanh niên; chị Nguyễn Thị My Na ( Ba Mỹ) đại diện giới tiểu thương; anh Phạm Công Khiêm ( Ba Nông) đại diện nông dân; chị Nguyễn Thị Phấn ( Ba Phấn) đại diện phụ nữ; Giáo hữu Thượng Thâu Thanh đại diện đạo Cao Đài; ông Ba Thanh Long đại diện Phật giáo…tất cả đều nói lên tấm lòng của mình, giới mình hướng về cách mạng, hướng về Mặt trận quyết tâm đoàn kết một lòng đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược và bọn tay sai, giải phóng nhân dân thoát khỏi ách nô lệ.

Để đảm bảo bí mật cho các đại biểu là cán bộ, nên được bố trí vào một phòng riêng, vẫn có thể theo dõi diễn biến của Đại hội, người ở ngoài không nhìn thấy mặt. Chỉ riêng Giáo hữu Thượng Thâu Thanh ra công khai tham luận.

  Sau hai ngày Đại hội, Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Tây Ninh ra đời với những thành phần như sau:

– Đạo nhơn Lê Văn Buội đại biểu Cao Đài Tây Ninh làm cố vấn Mặt trận.

– Giáo hữu Thượng Thâu Thanh đại biểu Cao Đài Tây Ninh làm Chủ tịch.

– Đồng chí Võ Văn Truyện (Tám Hòa), Bí thư Tỉnh ủy làm Phó chủ tịch.

– Ông Lưu Kiết (Ba Cách), đại diện người Hoa, Phó chủ tịch.

– Ông Trương Tùng Quân (Sáu Trương), Ủy viên Quân sự.

– Ông Nguyễn Văn Thắng (Hai Thắng), Ủy viên Thường trực.

– Ông Phạm Công Khiêm (Ba Nông), Ủy viên.

– Bà Nguyễn Thị My Na (Ba Mỹ), Ủy viên phụ trách vận động tiểu thương.

– Bà Nguyễn Thị Phấn (Ba Phấn), Ủy viên.

Trong hai ngày Đại hội, Đoàn Văn công Giải phóng tỉnh đã phục vụ hai đêm văn nghệ vui tươi đầy ấp tính chiến đấu.

Sau khi Đại hội kết thúc, trên 3.000 quần chúng vùng giải phóng và những vùng lân cận đến dự mít tinh trọng thể chào mừng Đại hội thành công. Trong đó, có khoảng 100 chức sắc, chức việc, tín đồ Cao Đài ở Chà Là, Phan, Suối Đá và vùng Tòa Thánh ra dự.

Ở huyện Bến Cầu tổ chức cuộc Hội nghị trọng thể ở căn cứ gần rừng Bàu Năng ( nay thuộc ấp Phước Tây, xã Long Phước), trên 200 đại biểu phần đông là chức sắc, chức việc, tín đồ Cao Đài và các tầng lớp nhân dân nghe báo cáo kết quả Đại hội. Hội nghị đã ra nghị quyết tích cực thực hiện Chương trình hành động của Đại hội Mặt trận tỉnh.     

 Tại Bời Lời ( huyện Trảng Bàng) đã diễn ra cuộc mít tinh trọng thể có cả ngàn  đồng bào tham dự chào mừng thành công của Đại hội. Sau cuộc mít tinh, Đoàn ca vũ thiếu nhi của tỉnh phục vụ đồng bào liên tục trong 3 ngày.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng Tây Ninh ra đời đã đề ra chương trình hành động hiệu triệu đồng bào, cán bộ chiến sĩ Tây Ninh đoàn kết tích cực tham gia mặt trận chống Mỹ cứu nước, phong trào nam nữ thanh niên lên đường nhập ngũ vào các cơ quan đơn vị rầm rộ hơn lúc nào hết. Hàng nghìn người hăng hái tham gia công tác dân công tải súng đạn  phục vụ chiến trường. Các đoàn thể Thanh niên giải phóng, Phụ nữ giải phóng, Nông dân giải phóng …ân cần tổ chức tiễn đưa, nhiều gia đình gởi theo thóc gạo cho chồng con, em lên đường để có cái ăn đánh giặc, nhằm thực hiện Chính sách 10 điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, đó là:

1- Đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm.

2- Thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi và tiến bộ.

3- Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, thực hiện cải tạo dân sinh.

4- Thực hiện giảm tô, tiến tới giải quyết vấn đề ruộng đất.

5- Xây dựng nền văn hóa, giáo dục dân tộc, dân chủ.

6- Xây dựng quân đội bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân.

7- Thực hiện dân tộc bình đẳng, nam , nữ bình quyền.

8- Thực hiện chính sách ngoại giao hòa bình, trung lập.

9- Lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền, tiến tới hòa bình thống nhất.

10- Chống chiến tranh xâm lược, tích cực bảo vệ nền hòa bình thế giới.

Từ đây, trong công tác vận động quần chúng đều lấy danh nghĩa của Mặt trận dân tộc Giải phóng.

Trong thời kỳ 1961-1965, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” tiến hành bình định gom dân lập ấp chiến lược. Với khẩu hiệu “tát nước bắt cá”, địch tăng cường hoạt động ngày đêm thả bom, bắn pháo, đốt nhà, giết hại dân lành nhằm gom dân vào các ấp chiến lược. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận và các đoàn thể tuyên truyền vận động quần chúng liên tục đấu tranh chống địch gom dân lập ấp chiến lược, đòi không được bắn pháo, chống rải chất độc hóa học, tố cáo tội ác giặc, đòi bồi thường thiệt hại trở thành phong trào đấu tranh sôi nổi mạnh mẽ tiến công địch.

Trong kế hoạch bình định ở tỉnh Tây Ninh, đầu tiên địch tiến hành gom dân ở Bàu Mây (ấp An Đước, xã An Tịnh). Nhân dân Bàu Mây kiên quyết thực hiện khẩu hiệu “ một tấc không đi, một ly không rời”, “ bám đất, giữ dân, tiến công địch”. Trong cuộc đấu tranh này, lực lượng chính là phụ nữ.

Địch huy động lính Bảo an huyện Trảng Bàng, lính Dân vệ ở bót Suối Sâu và lực lượng trừ bị của tỉnh đến cào nhà gom dân. Xã ủy An Tịnh đã nắm chắc địch tình, họp bàn kế hoạch cụ thể và phân công từng xã ủy viên bám trụ các ấp, nhất là tại xóm Bàu Mây. Từ đây, kế hoạch ba mũi giáp công được tổ chức thực hiện tốt và rất linh hoạt kịp thời đấu tranh chống địch. Bác Tư Rành là lão nông cấm rựa chỉ vào mặt tên ác ôn, nói: Tao sống nơi đây, thề chết tại đây, thằng nào rấn lên một bước, tao đổi mạng!. Lực lượng phụ nữ là nòng cốt trong cuộc đấu tranh, cho nên khi địch đến Bàu Mây, chị em nắm chặt tay nhau chặn bọn lính. Bọn lính trèo lên nóc nhà dỡ tranh, chị em chia nhau lấy rơm chất đốt xung quanh nhà hun khói, người tìm sào thọc buộc chúng xuống. Dỡ nhà không được, địch ra lệnh đốt nhà, chị em người cầm dao, người cầm rựa xông ra rượt đuổi bọn lính.

Sau đó, địch đưa thêm 5 tiểu đoàn chủ lực đến, thay phiên nhau đi cào nhà, gom dân nhưng đều không thực hiện được.

Khí thế đấu tranh quyết liệt của đồng bào Bàu Mây, làm cho bọn lính chủ lực phải suy nghĩ. Bà con dùng tình  cảm thâm nhập và giác ngộ chúng. Một số binh sĩ đã đồng tình với đồng bào, chống lại lệnh cào nhà, gây mâu thuẩn giữa lính Bảo an và bọn ác ôn.

Đồng bào ở Bàu Mây hàng ngày tranh thủ bọn lính chủ lực đóng ở đây, mời chúng vào nhà nghỉ trưa, và nói với chúng: Các chú thấy đó, chúng tôi sống ở đây từ lâu, ruộng vườn, nhà cửa qua biết bao đời mới có được chừng này, bây giờ biểu chúng tôi đi nơi khác làm sao chúng tôi sống, không đi thì mấy ông cho lính vào cào nhà, nếu gia đình mấy chú bị như vậy thì mấy chú có chịu không?

Binh lính địch nghe nói phải, đều đồng tình. Từ đó, mỗi lần bọn Bảo an, Dân vệ đến đòi dỡ nhà đồng bào, bọn lính chủ lực đến đuổi đi không cho dỡ. Suốt 2 tháng như vậy, nhà cửa của đồng bào vẫn nguyên vẹn.

Chính cuộc đấu tranh chống cào nhà gom dân Bàu Mây đã xuất hiện đầu tiên ở địa phương khẩu hiệu: “ một tấc không đi, một ly không rời”.

Trong đấu tranh gian khổ, bà con thương yêu đùm bọc nhau. Ở chỗ này bị đốt nhà, bà con ở chỗ khác lại góp lá, tầm vông đến giúp dựng lại nhà khác.Vì vậy trước tinh thần đấu tranh bất khuất, với truyền thống bám đất giữ làng của đồng bào Bàu Mây, âm mưu cào nhà gom dân của địch thất bại.

Kế hoạch bình định ở tỉnh Tây Ninh, đầu tiên gom dân ở xã An Tịnh bị thất bại vì gặp phải sự chống đối quyết liệt của quần chúng. Do đó địch chuyển sang các vùng có đồng bào tín đồ Cao Đài, vì nơi đây có sự tiếp sức đắc lực của số chức sắc phản động, như ấp Thanh Hà và “ châu vi” Kỳ Đà, xã Thanh Phước (huyện Gò Dầu) làm thí điểm cho toàn tỉnh về xây dựng ấp chiến lược.  

 Trong phong trào đấu tranh chống địch gom dân lập ấp chiến lược, trước sức mạnh của quần chúng, đến đầu năm 1963, thời gian thực hiện kế hoạch bình định cấp tốc của Xtalây- Taylor (Staley- Taylor) sắp hết, nhưng Mỹ- ngụy không thực hiện được ý đồ gom dân lập ấp chiến lược. Do đó, địch tăng cường hoạt động quân sự, ngày đêm thả bom, bắn pháo, đốt nhà, giết hại dân nhằm hủy diệt xóm làng ở các vùng nông thôn.

Trước tình hinh đó, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị mở rộng tại căn cứ Bời Lời đề ra Nghị quyết đẩy mạnh hoạt động của các lực lượng vũ trang, chống địch càn quét lấn chiếm gom dân, phá ấp chiến lược, đấu tranh chống địch bắn pháo vào làng, đòi bồi thường thiệt hại. Tích cực móc ráp quần chúng trong vùng yếu, ấp chiến lược; tuyên truyền giáo dục, phát động từng bước xây dựng cơ sở đảng- đoàn, xây dựng nòng cốt, tự vệ mật để tạo điều kiện hợp đồng chặt chẽ giữa hai lực lượng bên trong và ngoài ấp chiến lược đánh địch.

Sau hội nghị này, Tỉnh ủy thành lập Ban chống bình định lấn chiếm. Ở huyện Dương Minh Châu, đoàn cán bộ chống bình định lấn chiếm đường 26, gồm các đồng chí Phạm Công Khiêm (Ba Nông), Ủy viên Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh, Thư ký Hội Nông dân giải phóng tỉnh;  nữ đồng chí Ba Phấn, Ủy viên Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh, đồng chí Tư Tịnh cán bộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng Tây Ninh, đồng chí Nguyễn Văn Rong (Năm Lé) Phó bí thư huyện ủy Dương Minh Châu, do đồng chí Phạm Công Khiêm ( Ba Nông) làm Trưởng đoàn. Với yêu cầu phá hỏng, phá rã, phá banh các ấp chiến lược, đoàn cán bộ chống bình định lấn chiếm của tỉnh và các huyện tìm cách móc nối những người dân tốt ra ruộng, rẫy sản xuất để tuyên truyền vận động xây dựng cơ sở bên trong ấp chiến lược. Riêng huyện Tòa Thánh đã tạm cấp hơn 2.000ha đất ở các vùng thuộc xã Thạnh Tân, Tân Bình ngày nay cho chức sắc, chức việc và tín đồ Cao Đài để sản xuất.

 Phá ấp chiến lược được xem là công tác chiến đấu, nhân dân vùng giải phóng phải đi hàng 5-6 cây số mưu trí vượt qua các đồn bót, chốt chặn của địch kết hợp với nhân dân bên trong ấp chiến lược và lực lượng vũ trang đánh phá ấp chiến lược. Những cụ già, có chị vừa sinh con mới 3 tháng, khi có lệnh phá ấp chiến lược là xung phong đi. Nhiều người đã anh dũng hy sinh hoặc bị thương, nhưng người trước ngã xuống, người sau tiến lên, đánh phá ấp chiến lược hết đợt này đến đợt khác; cứ như thế diễn ra liên tục và quyết liệt như,  ấp chiến lược Gia Lâm (xã Gia Lộc, huyệnTrảng Bàng) ta phá 10 lần, ấp chiến lược xóm Sóc (xã Gia Bình, huyện Trảng Bàng) phá 15 lần, ấp chiến lược Lộc Trát phá 17 lần.

Để làm tốt hơn nữa công tác vận động quần chúng, được sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh cùng các thành viên là Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ mở lớp huấn luyện tại rừng Trà Vong. Mỗi lớp học là ba tháng, chương trình học ngoài những bài học chính trị, các học viên còn học về công tác vận động quần chúng, nhất là phải thực hiện năm bước công tác: điều tra nghiên cứu, tuyên truyền giáo dục, huấn luyện, tổ chức và hoạt động phong trào. Năm bước công tác có thể hiểu như sau:

Điều nghiên: điều tra, nghiên cứu trong một cuộc đối đầu bao giờ người ta cũng bắt đầu bằng bước “ điều nghiên”, biết ta biết người trăm trận trăm thắng. Do đó, điều nghiên đối thủ rất quan trọng.

– Tuyên truyền là quảng bá sự thật, là phổ biến sự thật nhằm giác ngộ quần chúng, sự thật bao giờ cũng có sức thuyết phục cao, bóp méo sự thật để tuyên truyền là hạ sách. Dĩ nhiên những sự thật bất lợi sẽ không phải là nội dung tuyên truyền.

Tổ chức là bước đi kế tiếp khi công tác tuyên truyền đã được sự đồng thuận cao nhất. Khi đã đồng thuận người ta sẽ sẵn sàng hy sinh để đạt được mục tiêu; tập hợp quần chúng trong một tổ chức có quy mô chặt chẽ và khoa học. Mọi hành động đều có sự đồng thuận và nhất trí cao của tập thể tạo ra sức mạnh vô cùng tó lớn.

Huấn luyện: những thành công hay thất bại trong các cuộc đấu tranh đều được rút kinh nghiệm triệt để để đưa vào bước huấn luyện phát động phong trào. Những nhân tố nòng cốt được huấn luyện rất kỹ để làm hạt nhân lãnh đạo phong trào. Huấn luyện phải dựa trên kế hoạch hành động được hoạch định kỹ càng và có sự nhất trí cao.

– Đấu tranh: bằng tất cả các phương thức và lực lượng phát động đẩy mạnh phong trào nhằm vào đối phương để giành thắng lợi từ thấp lên cao đến thắng lợi hoàn toàn.

 Năm bước công tác trở thành bài bản huấn luyện nằm lòng của cán bộ, chiến sĩ cách mạng. Từ thực tiễn phục vụ nhiệm vụ cách mạng, cán bộ, chiến sĩ đã gần gũi, gắn bó và tạo được niềm tin trong quần chúng, biết khơi gợi những tâm tư tình cảm, nguyện vọng của nhân dân để có những hình thức tuyên truyền, vận động phù hợp. Vì vậy đã tạo được sự ủng hộ, giúp đỡ và hăng hái tham gia cách mạng, góp phần quan trọng vào thắng lợi kháng chiến chống Mỹ cứu nước. 

Đối với tôn giáo Cao Đài, Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh tổ chức nhiều cuộc hội thảo ở Núi Bà, Bến Cầu, Bàu Đồn, Bùng Binh, Phước Chỉ, Trà Vong quy tụ hàng nghìn chức sắc, chức việc, hàng vạn quần chúng tín đồ hướng vào cuộc kháng chiến chống Mỹ. Kết hợp với phong trào đấu tranh trong tỉnh, ở vùng Tòa Thánh và các châu vi đạo, quần chúng bám đất giữ làng, đấu tranh chống gom dân, chống khủng bố, đòi bồi thường thiệt hại, chống lập ấp chiến lược, chống tái vũ trang Cao Đài. Sau khi địch đánh bom hủy diệt Thánh thất Cao Đài ở Chợ Cầu (Bến Cầu) năm 1963, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Tây Ninh  tổ chức lễ cầu siêu cho những người bị nạn đúng theo nghi thức đạo Cao Đài, có rất nhiều quần chúng tín đồ chức việc, chức sắc đến dự. Đó là sự biểu hiện cụ thể của công tác tôn giáo của Đảng và thể hiện phong trào cách mạng toàn dân.

Do yêu cầu vận động giác ngộ chức việc, chức sắc và quần chúng tín đồ Cao Đài đoàn kết hơn nữa dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh, huyện ủy Tòa Thánh chủ trương thành lập Ban củng cố Hòa bình chung sống do đạo nhơn Lê Văn Buội làm Trưởng ban, Thiếu tá Cao Đài Huỳnh Thanh Mừng làm Phó ban, đồng chí Nguyễn Trung Đạo ủy viên. Sau đó, để có một tổ chức vũ trang thiết thực góp phần vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc, được sự đồng ý của Tỉnh ủy, huyện ủy Tòa Thánh thành lập “Lực lượng thống nhất toàn lực quốc gia” với gần 70 quân, trang bị vũ khí đầy đủ do Thiếu tá Cao Đài Huỳnh Thanh Mừng, Chỉ huy trưởng; đồng chí Nguyễn Trung Đạo, Ủy viên chính trị.

Dưới lá cờ “tận trung báo quốc” và mục tiêu đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa hợp dân tộc, dân chủ, Ban Củng cố hòa bình chung sống và Lực lượng thống nhất toàn lực quốc gia hoạt động có hiệu quả, phát huy được thanh thế, hiệu triệu được quần chúng tín đồ và chức sắc, chức việc vào cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ.

Ngoài công tác vận động quần chúng tín đồ Cao Đài, Mặt trận và các đoàn thể còn vận động đồng bào dân tộc thiểu số, điển hình như vận động giác ngộ ông Lâm Văn Cầm, người dân tộc Tà Mun theo đạo Cao Đài làm chức lễ sanh và cũng là già làng. Năm 1960, hầu như tất cả dân Tà Mun ở ấp Ninh Lợi, xã Ninh Thạnh đã nhận ra được cuộc sống luôn bị chèn ép, áp bức và kỳ thị, họ đã bỏ nhà di chuyển đến nơi ở mới thuộc vùng đất bến Cây Cầy  (xã Thạnh Tân ngày nay) để phát rẫy làm nương sinh sống. Trong quá trình bám trụ ở đây, đồng chí Nguyễn Văn Phú (Bảy Phú) đã vận động ông Lâm Văn Cầm tham gia cách mạng. Cho nên tất cả những công việc gì trong nội bộ Cao Đài gây bức xúc đến họ và các hoạt động do thám gián điệp mà ông biết đều báo cho cách mạng. Với tư cách là một chức sắc (lễ sanh) và là già làng, ông đã vận động người Tà Mun làm nghĩa vụ rất tốt, lúa thu hoạch một phần để ăn, còn lại đóng góp cho cách mạng. Hình thành các tổ nhóm tham gia hoạt động hăng say trong các sinh hoạt chính trị, văn hóa văn nghệ (các bài hát cách mạng lúc bấy giờ hầu hết người Tà Mun ở đây đều thuộc và hát hăng say). Năm 1965, ông Lâm Văn Cầm được đề cử làm Ủy viên Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh.     

Từ năm 1961 đến giữa năm 1965, quân dân Tây Ninh đã kiên trì bám trụ giữ vững vùng giải phóng, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân với hệ thống xã ấp chiến đấu vừa phòng thủ, vừa chủ động tấn công đánh bại các cuộc càn quét gom dân của địch, góp phần cùng toàn miền Nam đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

III. MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG TỈNH ĐOÀN KẾT NHÂN DÂN ĐẤU TRANH CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” (1965-1968)

Thất bại trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” nhằm cứu vãn tình thế và giành thắng lợi trong thời gian ngắn nhất bằng chính lực lượng của Mỹ. Quân Mỹ ồ ạt vào miền Nam, đồng thời tiến hành đánh phá miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Trước âm mưu chiến lược mới của đế quốc Mỹ, ngày 20-7-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi “Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu; dù phải  chiến đấu 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta phải kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”[47].

Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 03-8-1965, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã xác định lập trường chống Mỹ cứu nước: Nhân dân miền Nam sẽ hy sinh tất cả, thà chết chứ không chịu làm nô lệ, sẽ chiến đấu đến cùng  để bảo vệ Tổ quốc, giành độc lập hoàn toàn. Mặt trận còn nhấn mạnh: Dù Mỹ có đưa thêm 5 vạn hay 50 vạn quân, dù trang bị bằng vũ khí gì, bất kỳ chúng đặt chân lên nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam, chúng ta cũng kiên quyết đánh bại chúng, đánh cho tới khi không còn bóng một tên xâm lược nào trên dải đất thân yêu của chúng ta. Mặt trận kêu gọi thanh niên tòng quân, toàn dân vũ trang để chống Mỹ cứu nước.

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 (tháng 12-1965) cũng xác định: kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà. Đây là một cuộc chiến tranh chính nghĩa, được đông đảo nhân dân tiến bộ trên thế giới ủng hộ; cách mạng miền Nam lại đang ở thế thắng, tinh thần chiến đấu của quân và dân lên cao.

 Miền Đông Nam bộ là chiến trường mà Mỹ- ngụy đặc biệt quan tâm, chúng lấy tỉnh Tây Ninh làm trọng điểm, vì nơi đây là khu căn cứ địa cách mạng, nơi trú đóng của các cơ quan đầu não lãnh đạo cuộc cách mạng miền Nam. Chúng tung vào đây nguyên vẹn bộ máy chiến tranh xâm lược, từ quân chủ lực đến tình báo. Mỹ-ngụy liên tục mở những chiến dịch đánh phá càn quét ở nông thôn, đi đôi với việc gom dân vào các ấp chiến lược, tăng cường đôn quân bắt lính.

 Trước tình hình đó, Tỉnh ủy đã tổ chức Hội nghị cán bộ đánh giá thắng lợi những năm qua và rút kinh nghiệm chống địch gom dân lập ấp chiến lược. Trên cơ sở đó, xác định tư tưởng tiến hành phương châm chiến lược quân sự, chính trị, binh vận gắn chặt với ba vùng chiến lược đi đôi với phát động toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm đánh Mỹ và xây dựng mạnh mẽ ba thứ quân, nhất là quả đấm chủ lực của tỉnh đủ mạnh làm đòn xeo cho phong trào chung của tỉnh.  Ta phát huy cao độ khả năng tất thắng của chiến tranh nhân dân, phát động mạnh mẽ phong trào toàn dân đánh Mỹ, kiên trì tư tưởng cách mạng tiến công, quyết tâm đập tan mọi âm mưu thủ đoạn của chúng để giành những thắng lợi quyết định.

Với chủ trương tập trung lực lượng để đánh Mỹ với bất kỳ tình huống nào, với chức năng nhiệm vụ của mình và dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh tổ chức “Hội đồng cung cấp” nhằm huy động sức người, sức của chi viện cho chiến trường. Hội đồng cung cấp được tổ chức từ tỉnh đến huyện, xã.

Hội đồng cung cấp tỉnh còn phối hợp với các đoàn hậu cần 82, 83 của Miền tổ chức khai luồng nhiều tuyến thu mua lương thực trong dân, trong vùng địch kiểm soát để đủ sức cung cấp cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương như các tuyến: An Tịnh – Lộc Hưng; Gia Bình – Gia Lộc; Thanh Phước, Phước Thạnh, Hiệp Thạnh, Thạnh Đức, Mỏ Công.

Tất cả các tuyến này, ta thu mua lương thực đến đâu đều tổ chức xe bò, xe thồ vận chuyển về căn cứ. Trong công tác chuyển hàng, lực lượng dân công được tổ chức thành những đơn vị có sự chỉ huy nên đảm bảo hàng không rơi rớt, mất mát hư hao. Tất cả hàng hóa đều được vận chuyển đến nơi an toàn. Việc vận chuyển như vậy không phải dễ dàng, ngoài khó khăn gian khổ là sự hy sinh, phải vượt qua biết bao đồn bót, biệt kích, đạn bom.

Song song với phong trào diệt Mỹ, Tỉnh đoàn thực hiện phong trào  “Năm xung phong” do Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng  phát động.

– Xung phong tiêu diệt sinh lực địch.

– Xung phong tòng quân và tham gia du kích chiến tranh.

– Xung phong đi dân công và Thanh niên xung phong phục vụ tiền tuyến.

– Xung phong đấu tranh chính trị và chống bắt lính.

– Xung phong sản xuất  nông nghiệp trong Nông hội.

Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng và vinh quang, nhưng cũng rất gian khổ đối với tuổi trẻ Tây Ninh phải xung phong cầm súng giết giặc. Đồng thời, còn tổ chức đơn vị Thanh niên xung phong phục vụ chiến trường của ba cấp tỉnh, huyện, xã để kịp thời phục vụ tại chỗ, và tổ chức thành lập đại đội Thanh niên xung phong, với biên chế 3 chi đội, 10 phân đội, trong đó lực lượng nữ chiếm 2/3 quân số. Đại đội Thanh niên xung phong mang tên Hoàng Lê Kha- Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy bị địch bắt và xử tử bằng máy chém theo luật 10/59 của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm.

 Tháng 8-1965, thể theo yêu cầu phục vụ chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, Đại đội Thanh niên xung phong Hoàng Lê Kha  được rút về biên chế của Tổng đội Thanh niên xung phong Giải phóng miền Nam.

 Ngày 23-11-1965, Đại đội Thanh niên xung phong Hoàng Lê Kha  chính thức ra quân tại căn cứ Long Nguyên ( huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương) nhân ngày kỷ niệm Nam kỳ khởi nghĩa, nên đơn vị mang ký hiệu C2311 và ngày này được xem là ngày chính thức thành lập Đại đội.

Trong chiến đấu, Thanh niên xung phong có nhiệm vụ: tải đạn, tải thương và thu chiến lợi phẩm. Trước khi trận đánh nổ ra, Đại đội phải tải đủ cơ số đạn cho trận chiến đấu. Thanh niên xung phong phụ trách kho đạn lưu động cho pháo binh và cao xạ. Trong quá trình vận chuyển, năng suất mang tải đạn của đơn vị không ngừng được nâng lên. Buổi đầu, mỗi đội viên chỉ tải được 15 đến 20kg, vài tháng sau nâng lên 30 đến 40kg, đột xuất có đội viên tải được 45-50kg đi nhiều ngày cùng với trang bị của cá nhân.

Đơn vị C2311 của Tây Ninh được Tổng đội Thanh niên xung phong Giải phóng miền Nam giao trực tiếp phục vụ cho Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 9. Qua hai mùa khô 1965-1966, 1966-1967, trên các chiến trường Tây Ninh, Bình Long, Phước Long, Thủ Dầu Một và chiến khu Đ, vừa làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, vừa chiến đấu, C2311 đã đánh trên 20 trận lớn nhỏ, diệt hơn 50 tên địch, bảo vệ an toàn cho thương binh, vũ khí, đạn dược.

Để ca ngợi tinh thần phục vụ kháng chiến của các nữ Thanh niên xung phong, đã có bài thơ mà tất cả Thanh niên xung phong Hoàng Lê Kha ai cũng thuộc, bài thơ như sau:

Em là Thanh niên xung phong,

Nghiêng vành nón vải, càng trông càng dòn.

Nếu phải hỏi chuyện chồng con,

Lắc đầu ngoe ngoẩy, Mỹ còn chưa ưng.[48]

 C2311 luôn là lá cờ đầu, là đơn vị chủ công, đảm nhận hầu hết các nhiệm vụ nặng nề ở những nơi khó khăn nhất, xứng đáng với truyền thống “Phục vụ quên mình, anh dũng xung phong, lập công vẻ vang” và khẩu hiệu hành động “không tiền tuyến, không hậu phương, đâu Đảng cần đó là tiền tuyến”.

Qua quá trình phục vụ chiến đấu, với những thành tích xuất sắc, C2311 và hai đội viên được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. [49]

Tháng 10-1965, đế quốc Mỹ đưa lữ đoàn 196 lên Tây Ninh đóng ở Trảng Lớn (xã Thái Bình, huyện Châu Thành) làm hậu cứ để đánh phá vùng căn cứ kháng chiến.

Ngay khi giặc Mỹ đặt chân đến Trảng Lớn, Tỉnh ủy chủ trương xây dựng “vành đai diệt Mỹ”. Vành đai diệt Mỹ được chia thành 4 cụm chiến đấu liên hoàn bao vây căn cứ Trảng Lớn.

Cùng với các chiến sĩ chiến đấu trực tiếp trên “vành đai”, các đoàn thể vận động quần chúng ở các xã của huyện Châu Thành tích cực tham gia các mặt công tác kháng chiến để góp phần làm nên chiến thắng. Quần chúng không chỉ đào hầm cấm chông, mà còn đảm nhận làm liên lạc và phát hiện giặc báo cho bộ đội, du kích tiến công tiêu diệt. Nhằm giúp đỡ cho du kích trên vành đai có vật liệu làm trái gài đánh địch, quần chúng lượm đạn lép, vỏ đạn cho công trường sản xuất vũ khí đánh địch. Chính những vũ khí tự tạo với bãi trái gài, hầm chông được bố trí dày đặc làm cho quân Mỹ phải khiếp sợ.

Vấn đề sản xuất lương thực cũng hết sức quan trọng trên “vành đai diệt Mỹ” không những để có lương thực tại chỗ đóng góp cho cách mạng, mà còn là vấn đề bám trụ, giữ vững khí tiết ở vùng đất bị hủy diệt dưới bom đạn ác liệt, buộc địch phải công nhận thế hợp pháp của quần chúng. Đây là sự thể hiện tinh thần bám đất giữ làng, nâng việc sản xuất lên ngang với chiến đấu. Trong sản xuất lương thực, người phụ nữ đảm trách vai trò chính, các chị giữ tập quán vần đổi công để giúp đỡ nhau sản xuất cho kịp thời vụ. Bom đạn ác liệt, có nơi phải cày cấy ban đêm. Hình ảnh tiêu biểu này được ca dao kháng chiến ca ngợi:

Bà mẹ tóc bạc tuổi già,

Cấy đêm mẹ vẫn xông pha chẳng sờn.

Ngón tay bật máu đạn bom,

Cấy bao nhiêu mạ căm hờn bấy nhiêu.[50]

Với sự cần cụ lao động, không sợ gian khổ  hy sinh của các mẹ, các chị là những người nông dân trên vành đai diệt Mỹ ở Trảng Lớn nên lúa vẫn trổ bông trong những ngày tháng ác liệt, những hạt gạo thắm đậm tình quân dân được chuyển đến từng hầm để nuôi du kích, bộ đội đánh địch. Việc làm này đã nêu bật ý chí tự lực, tự cường, sản xuất phục vụ kịp thời cho kháng chiến, đóng góp một phần rất quan trọng làm nên chiến thắng quân Mỹ ở vành đai Trảng Lớn.

Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, Mặt trận đã vận động nhân dân không những cho con em mình vào bộ đội, mà còn cho cách mạng mượn lúa, gạo, xe trâu, xe bò, vàng, tiền dùng để nuôi quân ăn no đánh thắng. Biết bao tấm gương của nhân dân hy sinh tích cực góp công, góp của cho kháng chiến. Đảng bộ tỉnh Tây Ninh xây dựng quyết tâm và thống nhất hành động từ đảng viên đến quần chúng và chủ động tổ chức thế trận chiến tranh nhân dân, tìm mọi phương thức đánh địch khắp ba vùng với ba thứ quân, ba mũi giáp công, đồng thời tạo điều kiện để phối hợp lực lượng vũ trang của trên đánh Mỹ- ngụy.

 Sau khi đã triển khai lực lượng đều khắp và sau giai đoạn “tìm hiểu khả năng của đối phương và tập sự cho lính Mỹ và chư hầu quen chiến trường”, quân Mỹ bắt đầu thực hiện kế hoạch phản công mùa khô lần thứ nhất (1965 -1966)

Trên chiến trường miền Đông, quân Mỹ mở 8 cuộc càn, trong đó có 3 cuộc càn trực tiếp vào vùng rừng núi Tây Ninh.

Cuộc càn Mistiff (từ ngày 20.02 đến ngày 27.02.1966), do lữ đoàn 2 của sư đoàn I (sư đoàn Anh cả đỏ) đánh vào căn cứ Bời Lời, Bàu Đồn, Bà Nhã nhằm phá thế liên hoàn căn cứ ba huyện Trảng Bàng, Gò Dầu, Dương Minh Châu.

Cuộc càn Hattisburg  (từ ngày 1.3 đến ngày 5.3.1966), do lữ đoàn 2 thuộc sư đoàn 25 (Tia chớp nhiệt đới) và 3 tiểu đoàn của sư đoàn 25 ngụy càn giải toả áp lực của ta ở khu vực Bến Cầu, bị bộ đội và du kích đánh thiệt hại.

Cuộc càn Birmingham diễn ra từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1966 do lữ đoàn 173 dù và 2 lữ đoàn thuộc sư đoàn 1 tiến hành, đánh vào căn cứ Dương Minh Châu và càn quét khu vực rộng từ Tà Păng, Lò Gò, Bàu Cỏ, Sóc Ky đến Suối ông Hùng, Bến Củi.

Mỹ tiến hành các cuộc hành quân nói trên là nhằm nới rộng vành đai an toàn cho căn cứ Mỹ, đồng thời đánh thăm dò ở cả 2 hướng: hướng đông từ Trảng Bàng lên Bời Lời đến Dương Minh Châu, hướng tây cặp biên giới từ Bến Cầu lên Tà Păng, Sóc Ky, Bàu Cỏ. Hai mũi này sẽ gặp nhau tại Bàu Cỏ (Tân Hưng thuộc huyện Tân Châu ngày nay), nhằm tạo thế bao vây chủ lực quân giải phóng.

Nhưng các cuộc hành quân này đã vấp phải sự chống trả liên tục và mãnh liệt của quân và dân Tây Ninh khiến kế hoạch của Mỹ bị phá vỡ, buộc chúng phải kết thúc sớm cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất trước tháng 6.1966.

Thất bại nặng nề trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất đã làm cho tinh thần chiến đấu của quân Mỹ bị sa sút nghiêm trọng, nội bộ mâu thuẫn gay gắt. Tuy nhiên, đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố tiếp tục tăng quân, tăng phương tiện chiến tranh, chuẩn bị mở cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai ( 1966- 1967) với hy vọng tìm ra giải pháp quân sự trên chiến trường có lợi cho chúng. Đế quốc Mỹ tập trung vào trọng điểm tây bắc Sài Gòn. Mục đích là tiêu diệt cơ quan Trung ương Cục và chủ lực quân giải phóng ở căn cứ Bắc Tây Ninh. Cho nên trên chiến trường Tây Ninh, địch tập trung thường trực 20.000 quân và cơ giới, từ 1 đến 2 trung đoàn pháo binh (từ 100 đến 120 khẩu pháo), phi cơ các loại, B52 liên tục ngày đêm đánh phá huỷ diệt căn cứ.

Trước âm mưu của đế quốc Mỹ ra sức tăng cường tấn công quân sự ở miền Nam và đánh phá miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, ngày 17.7.1966,  Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập tự do”([51]), động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Bước vào mùa khô 1966 – 1967, để thực hiện chiến lược hai gọng kìm : “tìm diệt và bình định”, đế quốc Mỹ mở cuộc hành quân mang tên Attelboro đánh vào huyện Dương Minh Châu, từ ngày 12.10.1966 đến ngày 25.11.1966, nhằm: Giành lại thế chủ động ở chiến trường, chủ yếu tại chiến trường miền Đông Nam Bộ, đánh vào hệ thống kho tàng dự trữ của lực lượng cách mạng, bịt các cửa khẩu, tiêu diệt một bộ phận chủ lực quân giải phóng, tiêu diệt cơ quan đầu não của kháng chiến, nhất là về lương thực để buộc lực lượng quân giải phóng phải phân tán để chúng tiêu diệt.

Các trận đánh chống càn của lực lượng cách mạng gây cho địch nhiều thiệt hại. Chỉ tính từ ngày 3.11.1966 đến ngày 5.11.1966, trung đoàn 16 chủ lực Miền cùng bộ đội địa phương, du kích và cán bộ, chiến sĩ các cơ quan ở khu vực căn cứ Dương Minh Châu đã loại khỏi vòng chiến lữ đoàn 196 Mỹ, tên tướng chỉ huy Đờ-Xốt-Xuya bị cách chức tại trận, 4.500 lính Mỹ-ngụy bị diệt, trong đó có 1.700 tên Mỹ.

Chiến thắng cuộc càn Attelbero, quân dân ta khẳng định khả năng bảo vệ căn cứ trước những cuộc tấn công lớn của Mỹ. Đối với đế quốc Mỹ, thất bại này đã đủ làm tăng thêm sự ngờ vực trong nhân dân và Quốc hội Mỹ và dấy lên phong trào nhân dân Mỹ yêu chuộng hòa bình chống chiến tranh Việt Nam.

Trong phong trào thi đua diệt Mỹ-ngụy, các em thiếu niên cũng lập được những thành tích vẻ vang, diệt được nhiều cơ giới bằng mìn tự tạo. Các em ở Cầu Khởi đi coi trâu, lượm mủ ở các sở cao su được các anh công binh huyện Dương Minh Châu hướng dẫn kỹ thuật gài trái. Các anh đào hố sẵn trên đường 26, đoạn Cầu Khởi – Năm Ngọn rồi nghi trang lại, đến sáng bọn dò mìn đi rà đường xong, các em đem trái ra gài vào các lỗ đào sẵn, nghi trang lại cẩn thận. Lúc sau, xe Mỹ đi ngang cán mìn nổ hư hỏng nặng. Có cuộc càn các em diệt được 4 xe M113.

Bị thất bại liên tiếp trong các cuộc hành quân, ngày 25.11.1966 Mỹ buộc phải rút quân khỏi huyện Dương Minh Châu, chấm dứt cuộc càn. Nhưng chúng vẫn chưa chịu dừng lại. Ngày 8.01.1967 đến ngày 26.01.1967, Mỹ lại tiến hành cuộc càn Cedarfall đánh vào vùng tam giác sắt Củ Chi, Bến Súc, Long Nguyên, Hố Bò và một phần huyện Trảng Bàng (An Tịnh, Lộc Hưng). Tại thị trấn Bến Súc và khu vực xung quanh, chúng gom đi 15.000 dân, cướp hàng ngàn tấn lúa, gây thiệt hại cho một số cơ quan của lực lượng cách mạng. Trên toàn mặt trận, địch đã bị trung đoàn 2 thuộc sư đoàn 9 của lực lượng chủ lực Miền chặn đánh quyết liệt, loại khỏi vòng chiến đấu 5.500 tên trong đó có 2.500 tên Mỹ. Cuộc hành quân Cedarfall tuy gom được dân, làm đảo lộn sinh hoạt vùng giải phóng, gây nhiều khó khăn cho lực lượng cách mạng nhưng vẫn không đạt được mục tiêu chính của chúng là tiêu diệt cơ quan đầu não, xóa vùng căn cứ, bàn đạp và hành lang vào Sài Gòn của quân giải phóng.

Sau thất bại của hai cuộc càn Attellboro và Cedarfall, đế quốc Mỹ tiếp tục mở cuộc hành quân Junction City đánh vào khu căn cứ Bắc Tây Ninh từ ngày 22.2.1967 đến 15.4.1967. Đây là trận càn chủ yếu trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai, cũng là cuộc càn lớn nhất với nhiều tham vọng nhất của Mỹ từ khi đưa quân vào xâm lược nước ta. Mỹ tập trung 45.000 quân, 1.200 xe tăng, thiết giáp, 250 khẩu pháo, 600 máy bay chiến đấu và vận tải. Máy bay B52 ném bom huỷ diệt từng vùng rộng để phục vụ cuộc càn quét.

Qua 53 ngày đêm, cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ trên chiến trường miền Nam, đã bị quân dân vùng căn cứ và quân dân Tây Ninh bẻ gãy hoàn toàn. Lực lượng vũ trang giải phóng đã diệt gọn 2 tiểu đoàn, 11 đại đội bộ binh, tiểu đoàn pháo binh, 9 chi đoàn xe thiết giáp, tiêu hao nặng 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn dù, loại khỏi vòng chiến đấu 14.233 tên Mỹ (1/3 quân số), phá hủy 922 xe (có 775 xe thiết giáp), 112 trong số 256 khẩu pháo, bắn rơi 160 máy bay trong đó có 114 trực thăng. Cuộc càn Junction City bị thất bại.

Kết hợp với đấu tranh quân sự, Mặt trận cùng các thành viên đoàn thể phát động quần chúng đấu tranh chính trị, binh vận cũng đạt nhiều thắng lợi. Trong thời kỳ này đấu tranh chủ yếu là chống cào nhà gom dân lập ấp, chống bắn pháo, chống xe càn vào ruộng lúa, đòi bồi thường sinh mạng diễn ra rất sôi nổi ở Lộc Hưng, Gia Lộc, An Tịnh (Trảng Bàng), Phước Thạnh, Thanh Phước, Hiệp Thạnh (Gò Dầu), Hảo Đước, Thanh Điền, Thái Bình (Châu Thành). Đồng bào giăng tay không cho xe lội nước của Mỹ càn vào ruộng phá hại mùa màng. Khi Mỹ dùng bom đạn hủy diệt hàng loạt nhà cửa ở vùng ngoại vi Tòa Thánh, Mặt trận vận động quần chúng tín đồ đấu tranh với Hội Thánh đòi can thiệp với chính quyền ngụy để bồi thường tài sản; mặt khác, quần chúng tín đồ còn dùng hình thức tản cư ngược để cản đầu xe bọc thép Mỹ. Có lần quần chúng tín đồ Cao Đài dùng lời lẽ êm dịu chặn được 1 tiểu đoàn ác ôn ngụy không cho chúng đốt nhà.

Có được thắng lợi lớn trong hai mùa khô 1965-1966, 1966-1967, còn thể hiện sự quyết tâm đẩy mạnh phong trào sản xuất tại chỗ, vì đây là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi.

Trên cơ sở chỉ đạo của Tỉnh ủy, Mặt trận phát động quần chúng kiên trì bám trụ chiến đấu để bảo vệ sản xuất, mở rộng diện tích sản xuất. Vùng tiếp cận địch làm tăng vụ, gặt lúa xong trồng tiếp hoa màu như ở Trảng Bàng, Gò Dầu. Vùng giải phóng và vùng tranh chấp mở rộng diện tích sản xuất như ở Bàu Đưng, Bàu Rào, Trảng Cỏ, Tam Hạp, Cây Chò, Gò Nổi, Bưng Rò, Xóm Sóc, Suối Ông Hùng, Bàu Tràm… có trên 3.000 gia đình trở về sản xuất lại diện tích đã bỏ hoang hơn 500 ha. Ở huyện Bến Cầu có 1.000 gia đình; huyện Châu Thành có 400 gia đình, huyện Dương Minh Châu có 100 gia đình trở về ruộng vườn cũ sản xuất. Đối với vùng địch hủy diệt như Lộc Hưng, Đôn Thuận, Hảo Đước, Tà Păng, Phước Chỉ, Thạnh Đức đồng bào vẫn kiên trì bám trụ sản xuất dưới bom đạn để tự túc nuôi quân đánh giặc. Ở huyện Tòa Thánh (nay là huyện Hòa Thành) hàng ngàn tín đồ, chức sắc, chức việc ở các xã như: Long Thành, Trường Hòa, nổi bật là Vùng Rẫy ( nay thuộc xã Thạnh Tân), đồng bào ngày đêm bám ruộng rẫy, tăng gia sản xuất tiếp tế lương thực, thực phẩm cho cách mạng. Đây là nét nổi bật thể hiện tinh thần bám xóm làng để sản xuất, đưa mặt trận này ngang hàng với chiến đấu.

Trong phong trào sản xuất, lực lượng phụ nữ đã không quản ngại khó khăn, gian khổ dưới mưa bom, lửa đạn, chị em luôn vững vàng với vai trò nòng cốt trong sản xuất, vừa tay cày, tay cuốc, nhiều nhất là ở Trảng Bàng, Gò Dầu. Phụ nữ là lực lượng chủ công trực tiếp chống địch càn quét, cướp bóc phá hoại mùa màng.

Trước tình hình chiến sự ngày càng diễn ra ác liệt, người nông dân không thể làm ăn cá thể, họ đã hỗ trợ đoàn kết giúp đỡ nhau trong sản xuất trở thành yêu cầu bức thiết, Từ đó, đã hình thành hình thức vần đổi công, phổ biến nhất ở Trảng Bàng, Gò Dầu, Châu Thành, Rừng Nhum (Bến Cầu).

Đồng thời, với việc đẩy mạnh phong trào sản xuất tại chỗ đồng bào còn đấu tranh chống âm mưu phong tỏa kinh tế của địch. Họ đã luồn qua mắt địch vận chuyển lương thực, thực phẩm vào phục vụ kháng chiến. Huyện nào cũng mở được cửa khẩu, nổi bật là ở cửa khẩu Long Chữ (huyện Bến Cầu), đường số 6 huyện Trảng Bàng, có ngày đưa vào vùng giải phóng hàng ngàn thùng gạo. Ở cửa khẩu Suối Ông Hùng bị địch càn, đồng bào vẫn tìm đường khác để chuyển hàng vào vùng giải phóng như gạo, nilong, vật phẩm đủ loại cho các cơ quan. Ngoài ra, nhân dân còn tập trung sức người đi dân công tại chỗ và dân công chiến trường.

Đối với vùng biên giới Việt Nam-Campuchia, một địa bàn không những là nơi đứng chân cần thiết, mà còn là nơi dự trữ chiến lược, là bàn đạp thuận lợi cho các lực lượng cách mạng tiến công đánh địch, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Tây Ninh không lúc nào buông lỏng công tác vận động đồng bào Khmer ở biên giới giữ gìn được tình đoàn kết dân tộc anh em hai nước và phát triển mối quan hệ hữu nghị.

Vừa tấn công địch, vừa ra sức xây dựng lực lượng, xây dựng hậu phương vững mạnh về mọi mặt để phục vụ chiến đấu, tiến lên tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân 1968 đánh vào tận sào huyệt địch.

Trong tổng tiến công và nổi dậy 1968, cùng với các mũi tiến công quân sự, Mặt trận cùng các đoàn thể vận động quần chúng làm nhiệm vụ dân công hỏa tuyến và tiếp tế lương thực. Trong công tác có nhiều đồng chí, đồng bào ngã xuống ở vùng ven Trảng Bàng, Gò Dầu, Dương Minh Châu, Bến Cầu, Tòa Thánh… những hy sinh gian khổ không làm cho quần chúng nao núng, họ vẫn dũng cảm vượt qua khó khăn, tìm đủ mọi cách đưa lương thực, thực phẩm, thuốc men ra vùng ven. Đêm đêm có hàng trăm xe bò, xe trâu, xe thồ bí mật đưa hàng đến địa điểm an toàn với số lượng hàng hóa rất lớn. Quần chúng trong các ấp chiến lược bị kìm kẹp gắt gao vẫn tìm mọi cách đưa lương thực ra nuôi cán bộ, bộ đội. Nổi bật trên mặt trận này là xã An Tịnh (Trảng Bàng), nơi địch đánh phá dữ dội, quần chúng vẫn đưa vũ khí vào nội thành phục vụ cho các đợt tiến công vào Sài Gòn, đồng bào còn đào hầm trong nhà nuôi dưỡng trên 800 thương binh an toàn (vượt quá mức chuẩn bị theo dự kiến đến 4 lần).

  1. MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG TỈNH TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG CHIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH”, TIẾN LÊN TỰ LỰC GIẢI PHÓNG QUÊ HƯƠNG (1969-1975)

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân miền Nam đã làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, cộng với sức ép của dư luận quốc tế và nhân dân tiến bộ Mỹ, buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận đàm phán tại Paris, nhưng đế quốc Mỹ vẫn chưa chịu từ bỏ âm mưu chiếm giữ miền Nam bằng việc chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, thay màu da cho xác chết, vừa tiến hành thương lượng, vừa ra sức tăng cường mọi mặt cho quân ngụy đủ sức thay thế quân Mỹ trong nhiệm vụ chiến đấu để quân Mỹ rút dần, đi đôi với đẩy mạnh càn quét, bình định, lấn chiếm, làm suy yếu đối phương, mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương nhằm giành thắng lợi mà không phải dùng đến lực lượng trên bộ của Mỹ.

Đầu tháng 6-1969, để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, Mặt trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam tiến hành Đại hội quốc dân, cử ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, do đồng chí Huỳnh Tấn Phát làm Thủ tướng, nhiều đồng chí khác tham gia trong Chính phủ và Hội đồng cố vấn, trong đó có Thiếu tá Cao Đài Huỳnh Thanh Mừng[52], đại biểu tỉnh Tây Ninh được cử tham gia làm Ủy viên Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.  

Tiếp sau việc ra đời của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, ngày 7-6-1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Tây Ninh tổ chức Đại hội đại biểu toàn dân tại Bàu Trường (xã Ninh Điền, huyện Châu Thành). Đại hội đã cử đồng chí Phạm Công Khiêm (Ba Nông)[53] giữ chức Chủ tịch Ủy ban Cách mạng Lâm thời tỉnh Tây Ninh. Từ đây quân và dân Tây Ninh có thêm sức mạnh mới và đã vượt qua một thử thách lớn trong giai đoạn Mỹ-ngụy điên cuồng đánh phá cách mạng của những năm 1969-1970.

Ngày 18-3-1970, trên chiến trường Campuchia, đế quốc Mỹ giúp Lon- Non lật đổ Quốc vương Si-ha-núc khi đang dưỡng bệnh ở Trung Quốc, lập ra chính quyền thân Mỹ hòng phá kế hoạch chi viện của miền Bắc Việt Nam cho chiến trường miền Nam theo con đường qua cảng Si-ha-núc-vin ( Campuchia) xuống Tây Ninh, Bình Phước.

Ngày 30-4-1970, địch bắt đầu mở cuộc hành quân sang Campuchia để mở rộng chiến trường, giảm sức ép với ngụy quyền Sài Gòn, nhằm tạo thế có lợi chúng ở Hội nghị Paris. Địch huy động 75 tiểu đoàn đánh sang Campuchia. Trong khi đó, quân Lon-Non ép xuống biên giới, cho nên lực lượng cách mạng của Tây Ninh gặp nhiều khó khăn, nhưng địch không ngờ rằng một số cơ quan Dân Chính Đảng, trong đó có cơ quan Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh vẫn ở trên đất Campuchia. Trong nội địa, lực lượng vũ trang vẫn áp sáp trận địa chống càn quét; ở các ấp chiến lược, cán bộ vẫn vào để tuyên truyền chính sách của Mặt trận dân tộc Giải phóng.

Trong những năm khó khăn này, cơ quan Mặt trận phải di chuyển liên tục ở nhiều nơi cặp biên giới Campuchia.  Ở trên đất Campuchia, Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh ra sức vận động đồng bào Việt kiều cho con em tham gia cách mạng. Vận động người Hoa ở các tỉnh Svayriêng, Preyveng, Kompongchàm đóng góp sức người, sức của cho cách mạng miền Nam nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng. Đồng thời, còn nêu cao chính sách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng cho tất cả các tầng lớp nhân dân, trong đó có người Khmer nhường chỗ ở cho quân cách mạng trú đóng.    

Tháng 6-1972, do yêu cầu chỉ đạo, lãnh đạo phong trào quần chúng Cao Đài và để thống nhất sự chỉ đạo theo yêu cầu của tình hình mới, Ban Cao Đài vận và lực lượng vũ trang của Ban củng cố Hòa bình chung sống sáp nhập vào Huyện ủy Tòa Thánh. Từ đó, Huyện ủy Tòa Thánh đề ra nhiệm vụ cụ thể cho công tác Cao Đài vận là ra sức nắm chặt quần chúng bên dưới, tranh thủ bên trên, phân hóa cô lập đánh đổ bọn cực hữu, tiếp tục đẩy mạnh việc chống bắt lính đôn quân, phá thế kìm kẹp, vận động quần chúng bung về ruộng vườn cũ làm ăn, đấu tranh đòi hòa bình chấm dứt chiến tranh.

Ban củng cố Hòa bình chung sống làm tốt công tác Cao Đài vận, tờ báo “Nước vinh đạo sáng” tiếng nói của những người đạo Cao Đài yêu nước ra đời từ năm 1968 do Giáo hữu Thượng Thâu Thanh làm Chủ nhiệm và ông Nhan Văn Ánh làm Chủ bút, do nhà in Trịnh Phong Cương in ấn. Báo được phát hành công khai, mỗi lần in khoảng một ngàn số, vạch trần tội ác của Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu cấu kết với đế quốc Mỹ bóc lột, hãm hại, gây chia rẽ trong nội bộ  quần chúng tín đồ Cao Đài; lên án đế quốc Mỹ thảm sát đồng bào Cao Đài tộc đạo huyện Bến Cầu; lên án ném bom hủy diệt quần thể chùa núi Bà, chùa Đại Đồng, chùa Hòa Đồng và dùng bom 5 tấn hủy diệt khu Năm trại (xã Trường Hòa); lên án rãi chất độc hóa học làm hư hại hoa màu, ruộng vườn của đồng bào toàn tỉnh. Đồng thời, Báo đã đăng kịp thời tin tức thắng lợi trên khắp chiến trường miền Nam nói chung và Tây Ninh nói riêng. Hướng dẫn quần chúng phá thế kìm kẹp ở ấp chiến lược, bung ra bám ruộng rẫy tăng gia sản xuất góp sức nuôi quân.

Việc đẩy mạnh tuyên truyền vận động trong hàng ngũ chức sắc, chức việc và tín đồ, tập trung vào những vấn đề mấu chốt mà quần chúng tín đồ yêu nước quan tâm là hòa bình chung sống, ta đã tuyên truyền được các chính sách của Đảng và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trong quần chúng đạo, làm cho quần chúng ngày càng nhận rõ bàn chất ngoan cố hiếu chiến của địch, tin tưởng vào đường lối đúng đắn của Đảng. Quần chúng tín đồ đã xác định được kẻ thù của nền hòa bình hiện nay là Mỹ- Thiệu. Để quần chúng tín đồ nhận rõ được đâu là bạn, đâu là thù, cán bộ, chiến sĩ làm công tác tuyên truyền vận động phải trải qua bao gian truân vất vả, nguy hiểm có khi phải đổ máu.

Được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Tây Ninh kêu gọi toàn dân, toàn quân phối hợp hành động liên tục tấn công địch. Ở các ấp chiến lược, đã huy động được quần chúng nổi dậy, kết hợp ba mũi đánh phá bình định, diệt ác phá kìm, giành quyền làm chủ, giữ được thế hợp pháp bằng đấu tranh chính trị-binh vận với khí thế quyết liệt giành lại các quyền lợi bị mất thể hiện trong các phong trào:

Phong trào nhân dân các ấp chiến lược đấu tranh dai dẳng và quyết liệt chống phá bình định giành được thắng lợi lớn, phá rã hoặc phá lỏng một số tổ chức kìm kẹp của địch, tẩy chay chính sách cải cách điền địa, chống xáo canh, chống nộp thuế, bung ra sản xuất, bám lại ruộng vườn, lắp được vành đai trắng phát triển được diện tích canh tác. Nổi bật là phong trào đấu tranh của nhân dân xã Thanh Điền chống cướp ruộng đất, giành lại trên 600 ha.

Phong trào công nhân đồn điền cao su đấu tranh dai dẳng đòi tăng lương, cấp gạo, chống khủng bố, sa thải giành được thắng lợi. Trong đấu tranh đưa ra khẩu hiệu sát đúng với nguyện vọng của công nhân, biết dựa vào tổ chức công khai, nên đã tập hợp được lực lượng quần chúng đông đảo, vừa phát triển đấu tranh, vừa xây dựng thực lực tại chỗ kết hợp ba mũi diệt ác phá kìm đánh phá bình định, qua đó nâng cao khí thế đấu tranh và chuyển được phong trào.

Phong trào học sinh chống quân sự hóa học đường, chống phạt vạ, tố cáo thầy giáo làm tay sai cho giặc… từng lúc lên mạnh với hình thức chất vấn, bãi khóa.

Sôi nổi và dai dẳng nhất là phong trào chống bắt lính, tháng 10-1972, ngụy quyền Sài Gòn thông báo cho Hội Thánh Cao Đài là không miễn quân dịch cho các tín đồ, buộc Hội Thánh phải lập danh sách số thanh niên làm công quả giao cho chúng và buộc họ phải ra trình diện. Vấn đề này đã bị Hội Thánh và quần chúng tín đồ phản đối kịch liệt. Hội Thánh đã ra lệnh cho các cơ quan của đạo và các Thánh thất canh gác nghiêm ngặt để bảo vệ thanh niên làm công quả và lính ngụy trốn vào đây, không cho địch bắt lính và cũng không giao nộp danh sách cho ngụy quyền. Nhiều nơi có mạng lưới quần chúng và hầu hết các Thánh thất, nhà chùa đều tổ chức che dấu thanh niên; mặc dù địch bố ráp thường xuyên, nhưng kết quả bắt lính rất hạn chế. Nhiều thanh niên trong tuổi quân địch, trong đó có thanh niên tín đồ Cao Đài đã ra vùng giải phóng để cùng tham gia chống Mỹ, cứu nước.

Trong sản xuất, đã hướng dẫn quần chúng đấu tranh bung ra lắp vành đai trắng đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, giải quyết tốt đoàn kết nông thôn, chia sớt ruộng rẫy, giúp đỡ phương tiện sản xuất, cứu đói, bảo vệ mùa màng, hướng dẫn quần chúng dự trữ gạo muối cho chiến trường. Kết hợp công tác dân vận, chăm lo sức khỏe cho đồng bào ấp chiến lược, đồng bào phía sau và nhân dân Campuchia, các cơ quan đơn vị cũng ra sức sản xuất tự túc ba tháng lương thực.

Tại vùng giải phóng, thông qua công tác tuyên truyền phát động, các huyện đã khẩn trương xây dựng chính quyền cách mạng, chăm lo cuộc sống của nhân dân, vừa ổn định, giữ vững vùng giải phóng, vừa động viên sức mạnh chính trị, sức mạnh vật chất cho phía trước, bổ sung lực lượng vũ trang, chính trị cả về số lượng lẫn chất lượng, bảo đảm tiếp tục đẩy mạnh tấn công và nổi dậy giải phóng đại bộ phận nông thôn. Tại Gò Dầu, Trảng Bàng qua nhiều cuộc gom tát dân của địch, quần chúng vẫn kiên quyết bám đất, bám nhà. Đảng, Mặt trận và các đoàn thể đã chăm lo giải quyết đất đai và sản xuất cho dân, cho nên đời sống của một số quần chúng tuy có khó khăn nhưng không bị đói. Các huyện còn tổ chức trường học, trạm xá, đào tạo cán bộ y tế, đoàn thể từng bước được củng cố. Mặt khác, các xã giải phóng còn tăng cường công tác bảo mật phòng gian, phát động nhân dân đề cao cảnh giác đối với những hoạt động phá hoại của bọn gián điệp. Nhiều vùng giải phóng lúc bấy giờ là chỗ dựa cho quần chúng trong ấp chiến lược bung ra sản xuất, xây dựng lại cuộc sống, chính quyền và các đoàn thể tích cực tổ chức giúp đỡ cho thanh niên vùng địch và lính bỏ ngũ ra vùng giải phóng, giáo dục và tạo mọi điều kiện để họ tham gia các công tác cách mạng.

Phối hợp với phong trào đấu tranh chính trị, lực lượng vũ trang trong vùng Tòa thánh Cao Đài đã chuyển phương thức đánh sâu trong lòng địch, đánh đúng đối tượng ác ôn, đồng thời vũ trang tuyên truyền, phá được một số đội phòng vệ dân sự (nhân dân tự vệ), làm cho các đội phòng vệ dân sự khác đấu tranh đòi trả súng, không đi tập quân sự, không canh gác. Đặc biệt ngày 22 – 11-1972, đội biệt động do đồng chí Nguyễn Thị Nghét, đội trưởng; đồng chí Nguyễn Thị Coi, đội phó đã trừng trị tên Trung tướng Nguyễn Văn Thành, nguyên Tổng tư lệnh Quân đội Cao Đài, Tổng thanh tra chính trị đạo (một tổ chức do bọn phản động núp dưới bóng Hội Thánh Cao Đài lập ra, không có tiền lệ trong sử đạo). Nguyễn Văn Thành là tên có nhiều nợ máu với nhân dân; hắn còn là kẻ cầm đầu thực hiện âm mưu của địch trong việc hợp nhất các chi phái Cao Đài và tiến hành tái vũ trang quân đội Cao Đài chống lại cách mạng. Sự kiện Nguyễn Văn Thành bị cách mạng diệt  có tác dụng mạnh cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng và làm phân hóa nội bộ địch.

Đội biệt động này đã được Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, là một người trí thức yêu nước nuôi giấu tại chùa Linh Quang, ngôi chùa do ông xây dựng.[54]

Mặc dù bị thất bại nặng nề về mọi mặt, nhưng giặc Mỹ vẫn chưa từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta. Từ mùa hè năm 1972 đến đầu năm 1973, địch điên cuồng đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược lên mức độ vô cùng ác liệt hơn để chuẩn bị ký Hiệp định Paris có lợi cho chúng. Giặc Mỹ và bọn tay sai đánh quyết liệt vào các vùng căn cứ của quân giải phóng, tiêu diệt hậu phương của cách mạng trên đất Campuchia. Tháng 12-1972, địch đổ quân càn vào rừng Tà Săng (tỉnh Prayveng, Campuchia) . Trên đường hành quân bị pháo bắn, ông Lưu Kiết, Phó chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh bị thương. Đồng chí Lê Hoàng Mai ( Hai Mai), Chánh văn phòng Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh lệnh cho đội bảo vệ cơ quan phải đưa các vị lãnh đạo Mặt trận rút sâu vào rừng và gặp được Quân y tỉnh mới có hầm trú ẩn cho Giáo hữu Thượng Thâu Thanh và ông Lưu Kiết. 

Trước sự tiến công mạnh mẽ của ta trên khắp chiến trường, thế và lực của Mỹ – ngụy suy sụp nặng nề, để góp phần cùng cả nước làm áp lực buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, ngày 26- 1-1973, quân và dân Tây Ninh đã đồng loạt tấn công chiếm lĩnh trên 60 ấp trong tỉnh, nơi cao nhất từ 7 đến 12 ngày, nơi thấp cũng làm chủ một vài đêm. Tại những nơi ta chiếm lĩnh, cờ Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (nửa xanh, nửa đỏ, chính giữa có ngôi sao vàng năm cánh) tung bay.  Sau thời gian này, lực lượng vũ trang lui ra các ấp vùng ven và tiếp tục đánh địch bung ra giữ vùng tranh chấp và từng bước đánh sâu vào quận lỵ Phú Khương (nay là huyện Hòa Thành) và các xã ấp yếu, phá kìm, phát động quần chúng về nội dung Hiệp định. Trong đợt chiếm lĩnh này, chính sách Cao Đài vận được thực hiện nên có ảnh hưởng tốt trong đồng bào đạo. Mặt khác, các cơ sở cách mạng biết sử dụng tổ chức công khai của đạo phát động thành lập mặt trận đấu tranh chống địch dùng bom pháo hủy diệt các ấp ở xã Trường Hòa, Long Thành, đòi bồi thường thích đáng thiệt hại về tính mạng và tài sản. Phong trào đấu tranh được duy trì liên tục đã phá lỏng, phá rã hầu hết phòng vệ dân sự. Đây là một chuyển biến chính trị lớn nhất có tính chất bạo lực của quần chúng giành quyền làm chủ, kết hợp chặt quyền lợi của tôn giáo và quyền lợi thiết thân, kết hợp được tầng lớp chức sắc bên trên với các tổ chức công khai của quần chúng bên dưới, nhờ đó đã vạch trần, đẩy lùi các thủ đoạn vu khống lừa mỵ của địch đối với cách mạng và nhân dân. Những tên tay sai của Mỹ-Thiệu đội lốt đạo bị vạch mặt rõ hơn và bị cô lập hơn.

Song song với phong trào vùng Tòa Thánh, tại thị xã Tây Ninh, các thị trấn và vùng yếu, cũng hình thành nhiều nhóm bàn bạc, trao đổi công khai về Hiệp định, lôi cuốn cả binh sĩ ngụy cũng bàn và nghe Đài phát thanh giải phóng, Đài phát thanh Hà Nội.

Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam kết hợp với chiến thắng đập tan cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B52 của Mỹ ở miền Bắc năm 1972 đánh dấu thất bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris về Việt Nam ngày 27-1-1973 rút quân về nước.

Hiệp định Paris được ký kết, Mỹ cút nhưng ngụy chưa nhào, chúng phản bội Hiệp định ngay từ những ngày đầu và dùng nhiều cánh quân càn quét các địa bàn trọng điểm như Nam Tòa Thánh, Bắc Gò Dầu, Đông Trảng Bàng… với âm mưu đánh chiếm, đóng chốt những vùng ta làm chủ, đi đôi với càn quét, địch tăng cường thực hiện kế hoạch chiến tranh tâm lý tuyên truyền xuyên tạc thắng lợi của ta, ra sức vận động chiêu hồi, chiêu hàng, tung bọn mật thám gián điệp vào vùng giải phóng. Về kinh tế, chúng ráo riết vơ vét, bóc lột quần chúng bằng các loại thuế và phong tỏa kinh tế, phá hoại mùa màng của bà con vùng giải phóng.

Thời gian này, cơ quan Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh trở về trú đóng trên đất Tây Ninh đã ra sức vận động thu mua lúa của đồng bào ở ấp chiến lược, ruộng ở vùng giải phóng như Bàu Cát (xã Mỏ Công), Bàu Cỏ (ấp chiến lược Ninh Thạnh), đồng bào ở Quy Thiện (xã Trường Hòa) cũng tích cực bán lúa cho cách mạng. Nhờ đó, mà hàng năm mua được hàng trăm tấn lương thực để nuôi quân. Đây là vai trò to lớn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh.

Ở vùng giải phóng huyện Tân Biên, dưới sự chỉ đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, huyện Tân Biên được chọn làm thí điểm tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân và bầu chính quyền cách mạng. Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Tây Ninh đã đứng ra tổ chức Hiệp thương bầu cử chính quyền cách mạng, người công dân huyện Tân Biên, trong đó dân có được là đa số bà con Việt kiều ở Campuchia về thực hiện quyền phổ thông đầu phiếu sớm nhất trong tỉnh. Chính quyền cách mạng huyện Tân Biên được củng cố đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Tỉnh ủy liên tiếp mở các cuộc Hội nghị cán bộ nhằm quán triệt tình hình nhiệm vụ mới, đánh giá rõ hành động phản bội Hiệp định của bọn địch và đề ra chủ trương: Tiếp tục phát động toàn Đảng, toàn dân đẩy mạnh tiến công bằng ba mũi: vũ trang, chính trị và binh vận trừng trị bọn lấn chiếm, buộc chúng phải thi hành Hiệp định.

Do liên tục bồi dưỡng về nhận thức và phương thức hoạt động, các lực lượng vũ trang và chính trị của ta có quyết tâm cao, tự lực cánh sinh, đồng loạt chớp thời cơ trên một diện rộng tiến công địch giành những thắng lợi quyết định.

Tháng 4- 1973, cơ quan Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Tây Ninh dời căn cứ từ Gò Tháp (hiện nay thuộc xã Biên Giới, huyện Châu Thành) về xã Thạnh Bình (huyện Tân Biên). Đến tháng 10-1973, Tỉnh uỷ tổ chức đưa Giáo hữu Thượng Thâu Thanh, Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh đi chữa bệnh ở Hà Nội và sau đó Ông đã qua đời do bệnh nặng. Từ đó cơ quan Mặt trận có sự thay đổi về cán bộ, đồng chí Võ Đức Trọng được cử làm Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh kiêm Trưởng ban Cao Đài vận và trực tiếp phụ trách huyện  Tòa Thánh.

Cùng với những thắng lợi trên chiến trường, Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh phát động phong trào đấu tranh chính trị trực diện với địch. Đồng bào dựa vào quyền lợi thiết thân kết hợp với pháp lý Hiệp định đã tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chống địch càn quét lấn chiếm, đòi ngừng bắn, đòi thả người bị bắt, đòi được đi lại làm ăn, đòi miễn thuế như:

Phong trào chống thuế ở huyện Tòa Thánh, đồng bào công khai tố cáo, phản đối địch, huy động mọi tầng lớp có cả cảnh sát và binh lính địch đồng tình tham gia, tổ chức biểu tình trực diện với với bọn cầm quyền tại chỗ, gởi đơn khiếu nại lên Ty Thuế vụ tỉnh yêu cầu giảm thuế, hủy bỏ những loại thuế không hợp lý… nhiều tiệm buôn đóng cửa, trả môn bài hoặc tiếp tục mua bán nhưng giằng co không đóng thuế. Trước áp lực đấu tranh mạnh mẽ đó, bọn cầm quyền tỉnh đã phải nhượng bộ, hứa sẽ can thiệp với cấp trên để giải quyết các yêu cầu của đồng bào.

Ở Lợi Hòa Đông, Cầu Khởi, Bưng Rò, lực lượng chính trị của nhân dân kết hợp với lực lượng vũ trang vây ép, tiêu diệt bọn càn quét lấn chiếm. Đồng bào kêu gọi, rãi truyền đơn, gởi thư tay, tranh thủ binh lính địch: “Hòa bình rồi, các anh đi lấn chiếm, càn quét làm chi cho uổng mạng”,”lấn chiếm càn quét là vi phạm Hiệp định hòa bình, sau không trở về sum họp với gia đình tự làm khổ, làm cực thân mình như vậy…”, bằng lý lẽ và tình cảm, đồng bào đã làm cho binh lính địch hoang mang dao động, thừa nhận việc vi phạm Hiệp định. Nắm được tâm tư của binh lính địch, đồng bào càng tác động mạnh hơn. Thế là phong trào đào, rã ngũ, phản chiến, chống đi càn quét nổi lên khá phổ biến ở nhiều đơn vị địch.

Ở xóm Mồ Côi (Trảng Bàng), đồng bào cũng dùng lời lẽ tình cảm thuyết phục sĩ quan và binh lính địch làm cho một đoàn xe bộc thép của chúng phải quay đầu lại bỏ dở cuộc càn. Đồng bào Gia Tân và An Tịnh đấu tranh bằng pháp lý văn bản Hiệp định Paris buộc địch phải rút bỏ bót Lợi Hòa Đông.

Nhiều nơi của các huyện Gò Dầu, Tòa Thánh, Dương Minh Châu, Trảng Bàng, nhân dân biểu tình đấu tranh trực diện quyết liệt với địch. Nhiều cuộc đấu tranh có hàng trăm, hàng ngàn người xông vào lôi kéo, tố cáo bọn ác ôn đốt nhà, cướp của nhân dân. Các cuộc biểu tình này, tuy thắng lợi ở mức độ nhất định, nhưng cũng đã làm hạn chế đến sức phản kích của địch, tạo thuận lợi cho lực lượng ta bám trụ dài ngày.

Phong trào chống chiến tranh tâm lý của địch hầu như ở huyện nào cũng có phương pháp đấu tranh kết hợp giữa chính trị và binh vận, nhân dân đã biến nhiều cuộc họp tuyên truyền của địch thành những cuộc đấu tranh trực diện đòi địch phải giải quyết đời sống, được tự do đi lại làm ăn… ở huyện Trảng Bàng, Hội Phật giáo yêu nước vận động hàng ngàn phật tử xuống đường với khẩu hiệu: “Yêu cầu thực hiện hòa bình, chấp hành Hiệp định Paris”, bọn cảnh sát không dám đàn áp, nhưng sau đó chúng bắt  ông Ngô và ông Lung là hai người tổ chức cuộc xuống đường này. Đồng bào kéo đến dinh tỉnh trưởng đấu tranh buộc địch phải thả ra. Ở Văn Bon (huyện Châu Thành), đồng bào đấu tranh đòi địch phải giải quyết đời sống, buộc chúng phải dùng trực thăng chở 100 tấn gạo lên để đáp ứng theo yêu cầu của đồng bào. Bên cạnh đó, ta sử dụng những tổ chức công khai của đạo Cao Đài, thông qua việc vận động nòng cốt chức sắc, chức việc tổ chức gần hàng ngàn quần chúng tín đồ cùng ký tên vào bản kiến nghị gởi cho tên Quận trưởng quận Phú Khương và một bản khác với hàng chục chữ ký của các chức sắc đạo Cao Đài gởi Tỉnh trưởng đòi giải quyết nạn đói, ngừng bắn pháo để dân được tự do đi lại làm ăn.

Phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của quần chúng với sức mạnh tổng hợp của nhiều thành phần trong Mặt trận: công nhân, nông dân, tiểu thương, thanh niên, học sinh, tín đồ Cao Đài, Phật giáo và cả gia đình binh sĩ địch, được sự hỗ trợ mạnh mẽ của lực lượng vũ trang đã vươn lên với khí thế mới, tạo thế áp đảo tinh thần địch.

Với những chiến thắng dồn dập trên chiến trường, bọn ngụy quân, ngụy quyền ở Tây Ninh sa sút tinh thần nghiêm trọng, phong trào phản chiến, đào rã ngũ trong binh lính ngày càng cao, bọn tề ác ôn bỏ nhiệm sở chạy vào các trung tâm thị xã, thị trấn để ẩn náo. Các lực lượng vũ trang Tây Ninh đều có sự phát triển về chất lượng để bước vào cuộc chiến đấu góp phần giải phóng miền Nam.

Sau khi giải phóng Núi Bà 7-1-1975, ngày 15-1-1975, Hội Thánh Cao Đài đưa ra thông điệp hòa bình do Hiến pháp Trương Hữu Đức ký và gửi cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh, với lời lẽ bề trên với cách mạng, như đạo đứng ra hòa giải hòa hợp dân tộc, lấy 40 km2 làm   chu vi bất khả xâm phạm của Tòa Thánh, cho mượn Tòa Thánh làm điểm để họp hòa giải, hòa hợp dân tộc hai miền, mở đại lộ Xuyên Á (lộ Chính Môn). Ngoài ra, Hội Thánh còn chỉ thị cho các cơ quan Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài, Phước Thiện, cắm đất giành dân lên tới Cần Đăng, Trại Bí, Đồng Pan, Kà Tum, Bổ Túc. Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh đã tỏ thái độ dứt khoát bác bỏ bản thông điệp hòa bình và vận động quần chúng nhổ bỏ hết những bản cắm đất giành dân, vì đạo không có quyền, không có pháp nhân làm việc này.

Trước sự tiến công vũ bảo của lực lượng vũ trang của ta, một số tỉnh ở Cao Nguyên và miền Trung được giải phóng. Được sự chỉ đạo của Trung ương Cục, Tây Ninh phải tự giải phóng, chấp hành tinh thần này, Tỉnh ủy đề ra nhiệm vụ cụ thể là huyện tự giải phóng huyện, xã tự giải phóng xã, không để địch ở địa bàn này sang cố thủ ở địa bàn khác, nhanh chóng vận động quần chúng đưa con em vào xây dựng lực lượng vũ trang.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh  và các đoàn thể vận động trên 3.000 thanh niên, trung niên tình nguyện lên đường tham gia lực lượng vũ trang. Tỉnh Tây Ninh tổ chức 9 tiểu đoàn mới  (trong đó có hai đại đội là tín đồ Cao Đài), và phát động nhân dân ủng hộ bộ đội, tổ chức đón rước, cho cách mạng mượn tiền, lúa, tài sản… đồng thời nhân dân còn bố trí bảo vệ địa bàn đứng chân của bộ đội, sẵn sàng tạo mọi điều kiện để bộ đội giành chiến thắng.

Lúc này khí thế giải phóng miền Nam rất sôi động, đồng chí Võ Đức Trọng, Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh chỉ đạo cho đồng chí Trang Văn Hải cùng một số đồng chí đến rừng Bàu Dương Lịch (gần Trường Đảng tỉnh, nay là Nhà văn hóa huyện Tân Châu) vào khoảng 2km xây dựng căn cứ, nhưng nơi đây không thuận lợi vì vào mùa mưa thì ngập nước và ở sâu trong vùng giải phóng. Đồng chí Võ Đức Trọng lại chỉ đạo xây dựng căn cứ trong rừng Bàu Cối ( hiện nay thuộc xã Tân Hưng, huyện Tân Châu) làm công tác Mặt trận với một số vị chức sắc Cao Đài trong Tòa Thánh để chiêu hàng Đại tá Bùi Đức Tài, Tỉnh trưởng Tây Ninh là người có gốc đạo Cao Đài. Nhiệm vụ này không thực hiện được, vì đồng chí Võ Đức Trọng, đồng chí Lê Văn Dừa (Ba Dừa), Bí thư huyện ủy Tòa Thánh bị mời về Ban An ninh Miền.[55]

Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn-Gia Định, giải phóng toàn Miền đã đến, lực lượng vũ trang Tây Ninh trút trận bão lửa, buộc Đại tá Bùi Đức Tài, Tỉnh trưởng Tây Ninh tuyên bố đầu hàng và kêu gọi lực lượng địch hạ vũ khí, giao chính quyền cho cách mạng.

Đúng 11 giờ ngày 30-4-1975, tỉnh Tây Ninh được hoàn toàn giải phóng, trước 30 phút khi Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Qua 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy hy sinh gian khổ, Tây Ninh đã cùng cả nước giành được thắng lợi trọn vẹn, vẻ vang.

Dưới ngọn cờ hiệu triệu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh, các giai cấp, tầng lớp nhân dân đã phát huy sức mạnh tổng hợp trong trận quyết chiến cuối cùng. Quân dân Tây Ninh đã tự lực giải phóng tỉnh nhà, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chung của dân tộc, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. 

CHƯƠNG V

VẬN ĐỘNG, ĐOÀN KẾT CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH, ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG; CHIẾN ĐẤU VÀ PHỤC VỤ CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM TỔ QUỐC (4/1975-1/1979)

  1. ĐẶC ĐIỂM VÀ TÌNH HÌNH CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN SAU GIẢI PHÓNG

Sau ngày giải phóng, Tây Ninh có 8 huyện, thị; 73 xã, trong đó có 60 xã bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Dân số khoảng 665.000 người, bao gồm nhiều dân tộc khác nhau, ngoài người Việt chiếm đại đa số, còn có người Hoa, Khơme, Chăm, Tà Mun…; đại bộ phận cư dân Tây Ninh sống ở vùng nông thôn. Trong kháng chiến, Tây Ninh có vùng giải phóng rộng lớn, nhiều căn cứ lõm, nhiều vùng có truyền thống cách mạng lâu đời nên có một bộ phận khá đông người dân gắn bó với cách mạng; có đường biên giới chung với Vương quốc Campuchia khá dài, cư dân hai bên biên giới có quan hệ mật thiết với nhau; sau ngày giải phóng có gần 30.000 dân Campuchia lánh nạn bọn diệt chủng Pôn Pốt chạy sang cư trú trên địa bàn tỉnh.

Tây Ninh có nhiều tôn giáo: Cao Đài, Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo…Đặc biệt, Tây Ninh là nơi xuất phát và là trung tâm của tôn giáo Cao Đài với hàng trăm cơ sở thờ tự khắp nơi trong tỉnh.

Tuy có nhiều dân tộc, tôn giáo khác nhau, nhưng khi Tây Ninh và miền Nam hoàn toàn giải phóng, các tầng lớp nhân dân trong tỉnh hồ hởi, phấn khởi, tích cực tham gia các phong trào cách mạng, góp phần cùng với Đảng, chính quyền nhanh chóng ổn định đời sống, khôi phục sản xuất, xây dựng chính quyền và các đoàn thể cách mạng. Nổi bật nhất trong lúc này là phong trào tháo gở bom mìn, khai hoang phục hoá, làm thuỷ lợi, bài trừ văn hoá lai căng…

Song, tình hình trong nhân dân vẫn còn phức tạp. “…Có quần chúng sợ cán bộ, có quần chúng lo ngại ta mất cảnh giác vì thấy người không tốt hoặc người của địch len được vào một số cơ quan huyện, xã, ấp, vi phạm chính sách, đụng chạm quyền lợi quần chúng, một số cán bộ chưa tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, còn quan liêu hách dịch thoát ly quần chúng, mâu thuẩn với quần chúng, bị quần chúng phản ứng…phần lớn nguỵ quân, nguỵ quyền ra trình diện chính quyền cách mạng và được cải tạo. Còn lại một bộ phận nhỏ lẩn trốn một số nơi, móc nối nhau hình thành một số nhóm chống đối. Bộ máy ngầm của địch chưa ra trình diện hết, phần lớn còn lẩn trốn trong dân, lợi dụng tình hình phức tạp trong tôn giáo bắt đầu cấu kết, tổ chức phá hoại lẻ tẻ một số nơi…” [56].

  1. TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN CÁC CẤP SAU NGÀY GIẢI PHÓNG

Dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ, thực hiện chương trình chính trị “Đoàn kết toàn dân phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa”, ngoài việc cùng chính quyền và các ban, ngành, đoàn thể tiếp quản chính quyền, cơ sở vật chất của chính quyền nguỵ, Mặt trận Tây Ninh còn tiến hành tổ chức một số cuộc tiếp xúc riêng với các thành phần tôn giáo, dân tộc, nhân sĩ, trí thức và sĩ quan chế độ cũ nhằm làm rõ quan điểm, chính sách của Đảng, chính quyền, mặt trận và nhiệm vụ chiến lược của cách mạng trong giai đoạn mới; kêu gọi toàn dân không phân biệt lương giáo, dân tộc, thành phần xã hội cùng nhau đoàn kết xung quanh Mặt trận đóng góp sức người, sức của vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng chế độ mới, đưa đất nước tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa. Hoạt động nổi bật của Mặt trận giai đoạn này là vận động, tập hợp tầng lớp trí thức (bao gồm trí thức cũ và mới) và giới phụ lão. Nhiều trí thức cũ tham gia hoạt động trên các lĩnh vực, nhiều người hoạt động rất tốt, đã góp phần giải quyết việc thiếu hụt cán bộ, vừa từng bước xoá đi mặc cảm của tầng lớp này đối với cách mạng. Trong giới phụ lão, Mặt trận tổ chức học tập và làm theo những thư Bác Hồ gởi các vị phụ lão. Đồng thời, Mặt trận các cấp góp phần hình thành và phát triển bộ máy chính quyền, đoàn thể, trong đó đưa vào hoạt động ngay các tổ chức giáo dục, y tế, chữ thập đỏ…

Trên lĩnh vực tư tưởng, Mặt trận cùng các ban ngành, đoàn thể đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm ổn định tư tưởng trong nhân dân, đánh bạt luận điệu của địch và bọn phản động về sự trả thù giai cấp, xuyên tạc chế độ xã hội chủ nghĩa. Song song đó, Mặt trận và các ban, ngành liên quan giúp chính quyền phá các vụ âm mưu chống phá chính quyền cách mạng; nổi bật là phá tổ chức phản động “Mặt trận thống nhứt toàn lực quốc gia giải phóng Việt Nam” ẩn núp trong Nội ô Toà thánh Cao Đài Tây Ninh. Lịch sữ Đảng bộ tỉnh đã ghi nhận: “Đặc biệt, Mặt trận Tổ quốc tỉnh phối hợp với các đoàn thể phát động được quần chúng trong các tôn giáo Cao Đài, Thiên Chúa và dân tộc thiểu số cùng với chính quyền, với lực lượng vũ trang, bán vũ trang tại chổ tố giác bọn phản động đội lốt tôn giáo, truy quét bọn tàn quân, đưa hàng trăm người lầm đường ra đầu thú, ngăn chặn và đập tan mọi mưu đồ bạo loạn, lật đổ của bọn phản động, đấu tranh với một số chức sắc phải làm đúng theo luật đạo, chấm dứt các hoạt động lợi dụng đạo để làm những điều sai trái” [57]

Sau giải phóng, để tăng cường vận động nhân dân thực hiện nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn mới, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ phân công đồng chí Nguyễn Văn Tốt (Hai Bình), Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ làm Chủ tịch Mặt trận tỉnh từ tháng 4/1975 đến cuối năm 1975.

Ngày 29/3/1976, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 249 về thành lập Ban Dân vận và Mặt trận Trung ương. Theo đó, ngày 19/5/1976, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Thông tri 102 thành lập Ban Dân vận và Mặt trận tỉnh gồm 7 Uỷ viên; Ông Võ Đức Trọng (Võ Văn Linh), Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ làm Trưởng ban; Bà Trần Thị Ẩn, Tỉnh uỷ viên làm Phó Trưởng. Thông tri của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ nêu rõ nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và mối quan hệ giữa Ban Dân vận và Mặt trận tỉnh với các ban chung quanh tỉnh, các đoàn thể quần chúng.

Năm 1977, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thống nhất tên gọi là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ở tỉnh ta, đến giữa năm 1977, Mặt trận được thành lập ở các huyện, thị xã; cuối năm 1980, các phường, xã thành lập xong Mặt trận cơ sở.

Tháng 5/1977, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ phân công Ông Trần Đình Sang (Nguyễn Trọng Cát – Ba Cát), Phó Bí thư Tỉnh uỷ làm Trưởng ban Ban Dân vận và Mặt trận đến năm 1979.

III. GÓP PHẦN KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH VÀ ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN

 Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III (tháng 8/1975) xác định nhiệm vụ chiến lược của cả nước trong giai đoạn mới là “hoàn thành thống nhất nước nhà…miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, miền Nam phải tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ I, nhiệm kỳ 1976 – 1979 (vòng 1 ngày 19/11/1976, vòng 2 từ ngày 19 đến 29/4/1977) đề ra nhiệm vụ chung từ 1977 – 1980 là “…thực hiện triệt để đồng thời 3 cuộc cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của chính quyền chuyên chính vô sản. Trên cơ sở khối liên minh công nông làm nền tảng vững chắc của chuyên chính vô sản, đấu tranh cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá và quốc phòng…”. Quán triệt Nghị quyết Đại hội, tổ chức Mặt trận và các đoàn thể từ tỉnh đến huyện đề ra nhiều biện pháp, phân công cán bộ đi sát cơ sở xã, ấp, tổ chức phát động quần chúng, nâng cao nhận thức tư tưởng, nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa, nhằm làm cho quần chúng nhân dân hiểu rõ trách nhiệm, quyền hạn của mình trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước giàu mạnh; nổi lên các phong trào quần chúng tích cực tham gia lao động sản xuất, phong trào thuỷ lợi, phong trào bảo vệ trị an, bảo vệ xóm làng; phong trào tình nguyện xây dựng kinh tế mới, phong trào xoá mù chữ trong nhân dân.

Thực hiện chủ trương xây dựng vùng kinh tế mới của Trung ương, tỉnh đã xây dựng cơ sở vật chất tiếp nhận hơn 49.000 dân thành phố Hồ Chí Minh lên lập nghiệp và vận động được 39.385 người dân vùng Toà Thánh, thị xã Tây Ninh  về quê cũ làm ăn và đi lập nghiệp vùng kinh tế mới.

Trước tình trạng thiếu lương thực triền miên do hậu quả chiến tranh kéo dài, với truyền thống cách mạng và tinh thần tự lực tự cường, các tầng lớp nhân dân trong tỉnh tích cực khôi phục sản xuất nông nghiệp và sôi nổi tham gia phong trào làm thuỷ lợi để thâm canh, tăng vụ, tăng diện tích và năng suất, sản lượng cây trồng, đặc biệt là cây lúa. Năm 1976, các tầng lớp nhân dân, đa số là thanh niên đã thực hiện 47 vạn ngày công đào đắp, nạo vét kênh mương với khối lượng trên 51 vạn m3, phục vụ tưới tiêu cho 25.000 ha, biến nhiều cánh đồng 1 vụ lên 2-3 vụ lúa; so với năm 1975 – 1976, vụ mùa năm 1976 – 1977 diện tích lúa tăng 18.000 ha, vụ đông xuân tăng khoảng 5.000 ha; năng suất vụ mùa tăng 0,4 tấn/ha, vụ đông xuân tăng 0,5 tấn/ha;  bước đầu giải quyết được nạn thiếu lương thực triền miên của tỉnh. Ngoài ra, còn cung cấp cho Trung ương trên 8.500 tấn bột mì, 4.800 tấn mì củ, trên 1.000 tấn đậu phộng, 12.000 tấn mía cây.

Đi đôi với khôi phục sản xuất, một công việc cấp thiết và nguy hiểm khác là giải phóng các vùng đất còn bom mìn, chất nổ để sản xuất và phục vụ các công trình công ích. Trong năm 1976, cán bộ, chiến sỉ và nhân dân Tây Ninh, mà đa số là thanh niên đã tháo gỡ 154 bãi bom mìn với trên 150.000 trái các loại, giải phóng 81.000 ha đất, trong đó có trên 40.000 ha đất lúa.

Phong trào nhường cơm xẻ áo gắn với tổ chức, xây dựng tập đoàn, hợp tác xã nông nghiệp cũng được đông đảo nhân dân hưởng ứng. Năm 1976-1977 đã thu hồi 2.200 ha ruộng của bọn Việt gian, phản động bỏ chạy ra nước ngoài chia cấp cho hơn 3.000 hộ nông dân nghèo; vận động, tổ chức được 2.355 tổ vần đổi công. Năm 1978-1979 vận động, điều chỉnh trên 2.000 ha chia cấp cho hơn 2.000 hộ. Đến cuối năm 1979, toàn tỉnh xây dựng được 324 tập đoàn sản xuất nông nghiệp, 14 tập đoàn máy nông nghiệp và 3 hợp tác xã nông nghiệp.

Các hoạt động văn hoá, xã hội, giáo dục từng bước được khôi phục bình thường. Mặt trận và các đoàn thể được xây dựng đều khắp, có hệ thống từ tỉnh đến cơ sở đã tập hợp, vận động đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào cách mạng ở địa phương góp phần khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Ngày 25/4/1976, cùng với cả nước, các tầng lớp nhân dân trong tỉnh hăng hái tham gia cuộc bầu cử Quốc hội cả nước, số cử tri đi bầu đạt tỷ lệ 98,48%.

  1. THAM GIA CHIẾN ĐẤU VÀ PHỤC VỤ CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM

Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, tình hình trên biên giới Việt Nam – Campuchia nảy sinh những diễn biến phức tạp, bè lũ Pôn Pốt thường xuyên tổ chức gây hấn (từ tháng 5 đến tháng 12-1975 có 17 vụ, năm 1976 có gần 200 vụ) làm cho tình hình biên giới không lúc nào yên ổn.

Sau một thời gian tăng cường trinh sát, khiêu khích, xâm nhập, đêm 24 rạng ngày 25/9/1977, bọn Pôn Pốt dùng một lực lượng lớn gồm Sư đoàn 3, Sư đoàn 4, Trung đoàn 306 đặc nhiệm và quân địa phương vùng 20, 21, 23 đồng loạt tấn công một số khu vực thuộc huyện Bến Cầu, Châu Thành và Tân Biên (tỉnh Tây Ninh); chúng tàn sát, đốt phá, cướp bóc một cách dã man gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản đồng bào ta. Chỉ tính riêng trong một ngày đêm 25/9/1977, tổn thất về người của nhân dân ta trên từng khu vực như sau:

Huyện Tân Biên: bị giết 592 người, bị thương 282 người, mất tích 105 người.

Huyện Bến Cầu: bị giết 230 người, bị thương 58 người.

Huyện Châu Thành: bị giết 87 người, bị thương 46 người.

Thủ đoạn của chúng vô cùng man rợ như mổ bụng phụ nữ mang thai, chặt đầu, chặt hết chân tay, tung trẻ em lên không rồi dùng lưỡi lê hứng…Tại xã Tân Lập (huyện Tân Biên) chúng tràn vào một trường học hãm hiếp và giết hại dã man 15 thầy cô giáo; tại xã Long Khánh (huyện Bến Cầu) chúng bắt trói toàn bộ 5 gia đình gồm 22 người dính vào nhau ném vào một ngôi nhà và châm lửa đốt cháy.

Lực lượng vũ trang của tỉnh vừa đánh trả, vừa tổ chức lại lực lượng; đồng thời thành lập thêm các đơn vị mới. Mặt trận và các đoàn thể vận động các tầng lớp nhân dân đưa con em tòng quân. Ngoài Trung đoàn bộ binh 201, từ tháng 1 đến tháng 6/1978 lần lượt hình thành 2 Trung đoàn bộ binh, hoàn chỉnh 1 Tiểu đoàn pháo 105mm, 4 đại đội trinh sát, công binh, thông tin và 1 đại đội thiết giáp; 4 huyện biên giới hình thành 11 đại đội, 3 trung đội, 8 tiểu đội; 4 huyện nội địa hình thành 6 đại đội, 1 trung đội và 5 tiểu đoàn.

Trên cơ sở đại đội dân công tập trung tham gia xây dựng các công trình công ích do Tỉnh đoàn quản lý, khi chiến tranh biên giới Tây Nam xảy ra chuyển thành dân công hoả tuyến với nhiệm vụ chính là chuyển thương, tải đạn, chôn cất người chết, thu dọn chiến trường, giúp nhân dân sơ tán…Có hàng ngàn lượt thanh niên tham gia lực lượng này.

Sau khi đẩy lùi kẻ thù qua bên kia biên giới, ngày 28/5/1978 Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành chỉ thị triển khai xây dựng tuyến phòng thủ biên giới. Chủ trương cụ thể như sau:

Huy động lực lượng dân công trong toàn tỉnh, kể cả các ty, ngành, các xí nghiệp, trường học…đi làm nghĩa vụ xây dựng tuyến phòng thủ biên giới mỗi người 10 ngày.

Huy động vật tư, xe máy tập trung cao nhất cho nhiệm vụ này, kể cả của công và tư nhân.

Mỗi người dân vót 200 cây chông, công nhân viên nhà nước mỗi người 100 cây.

Xây dựng hệ thống phòng thủ biên giới gồm 3 tuyến:

Tuyến 1: bờ thành biên giới.

Tuyến 2: xã chiến đấu trong nội địa.

Tuyến 3: thị trấn, thị xã.

Tuyến 1 gồm 2 đoạn: Đoạn 1 từ cánh Tây huyện Trảng Bàng đến Tà Nông (Châu Thành) dài 70 km, đắp bờ thành hình chữ chi chiều cao 2m, rộng 6m, bề mặt rộng 2-3m, có cắm chông, gài mìn, rào kẽm, trồng tre, xây công sự chiến đấu…Đoạn 2 từ bắc Tà Nông (Châu Thành) đến Tống Lê Chân (Tân Biên, nay thuộc Tân Châu) dài 170 km; đoạn này phần lớn là rừng nên không đắp đê mà phát hoang, rào rắp, cắm chông, gài mìn…có chiều rộng từ 100 đến 300m.

Theo dự kiến ban đầu chỉ huy động 17 tiểu đoàn dân công với 10.800 người. Nhưng kết quả đã huy động được 109 tiểu đoàn, 10 đại đội với 45.802 người. Từ ngày khởi công đến khi hoàn thành đã có 54 người hy sinh, 92 người bị thương, phần lớn do nổ trái.

 

CHƯƠNG VI

TĂNG CƯỜNG ĐOÀN KẾT CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN ỔN ĐỊNH TÌNH HÌNH SAU CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM, TIẾP TỤC THAM GIA CẢI TẠO VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH (1/1979-1985)

  1. THAM GIA GIÚP TỈNH KONGPONGCHAM KẾT NGHĨA VÀ ỔN ĐỊNH TÌNH HÌNH SAU CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM

Sau khi đẩy lùi bọn Pôn Pốt ra khỏi biên giới, ngày 20/1/1979 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành nghị quyết xác định: “…giúp bạn hồi sinh dân tộc, giúp bạn xây dựng lực lượng cách mạng, cả về đảng, chính quyền, mặt trận, lực lượng vũ trang từ tỉnh xuống cơ sở xã ấp tạo được các điều kiện về chính trị, quân sự, kinh tế – xã hội…”.

Nhiệm vụ hoàn toàn mới mẻ và cực kỳ khó khăn, phức tạp nên tỉnh đã huy động sức mạnh tổng hợp của các ban, ngành, đoàn thể, lực lượng vũ trang và nhân dân mới đủ sức giúp bạn. Mặc dù Tây Ninh còn khó khăn nhiều mặt, nhất là về lương thực thực phẩm, nhưng nhân dân Tây Ninh vẫn thắt lưng buộc bụng giúp tỉnh Kongpongcham 717 tấn lương thực, 225 tấn muối, 200.000 lít dầu, 4 tấn đường, 15 tấn thuốc trị bệnh, 12.000 m vải, 13 tấn lúa giống. Về quân sự, có 10 đơn vị lực luợng vũ trang tỉnh, huyện và 3 đoàn chuyên gia sang giúp tỉnh Kongpongcham xây dựng hoàn chỉnh 1 trung đoàn, 6 tiểu đoàn, 16 đại đội, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ ở 128/171 xã. Mặt trận tỉnh Tây Ninh cũng tổ chức đào tạo hàng trăm cán bộ giúp bạn xây dựng Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia.

Sau khi kết thúc chiến tranh biên giới Tây Nam, Tây Ninh mới thực sự bắt tay vào khắc phục hậu quả của các cuộc chiến tranh và xây dựng quê hương.

Dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, quân và dân Tây Ninh tập trung vào việc rà phá, tháo gỡ bom mìn, khai hoang phục hoá, mở rộng diện tích đất sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Tỉnh ban hành một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất; trên cơ sở đó, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thực hiện tốt công tác vận động quần chúng, đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến tận xã ấp và người dân; quần chúng góp ý xây dựng Đảng, chính quyền và phát triển sản xuất. Qua các đợt học tập, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể được củng cố một bước, đào tạo được hàng trăm cán bộ các cấp, chất lượng hoạt động của đoàn thể được nâng lên, phát huy được chức năng của mình.

Tuy nhiên, trong công tác vận động quần chúng còn một số mặt yếu, nhất là ở các vùng đông dân, vùng mới giải phóng; công tác vận động còn chung chung, không sát từng đối tượng quần chúng; các cấp chính quyền chưa thật sự quan tâm đến công tác dân vận, vì vậy hiệu quả thực hiện các nghị quyết của Đảng còn hạn chế, chưa phát huy đầy đủ sức mạnh của quần chúng nhân dân.

Một công việc đặc thù trong giai đoạn này là phải tháo gỡ bom mìn do địch và ta gài dọc biên giới và đẩy mạnh phong trào làm phân hửu cơ trong lúc phân bón còn rất thiếu thốn. Các tầng lớp nhân dân, nòng cốt và xung kích là thanh niên, trong năm 1980 đã tháo gỡ 1,5 vạn bom mìn, giải phóng 2.928 ha đất, làm 34.145 tấn phân hửu cơ.

Lúc này lại nổ ra chiến tranh biên giới phía Bắc, hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng và lệnh tổng động viên của Nhà nước, hàng vạn đoàn viên, thanh niên Tây Ninh đã làm đơn tình nguyện gia nhập lực lượng vũ trang, sẵn sàng đi biên giới phía Bắc chiến đấu. Nhiều gia đình dẫn đứa con út cuối cùng trực tiếp giao cho Hội đồng nghĩa vụ quân sự, nhiều thanh niên chưa đến tuổi cũng tình nguyện đăng ký.                                                                   

  1. TIẾP TỤC THAM GIA CẢI TẠO VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

Ông Nguyễn Văn Tài (Hai Bạch), Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ được cử làm Chủ tịch Mặt trận tỉnh từ năm 1979 đến năm 1980.

Đại hội đại biểu lần thứ II Đảng bộ tỉnh Tây Ninh được tiến hành từ ngày 26 – 30/12/1979, Nghị quyết Đại hội đã đánh giá “…Chưa quan tâm đúng mức đến việc tổ chức phát động quần chúng làm chủ, chưa vận dụng tốt 3 cuộc cách mạng trên các lĩnh vực sản xuất, chính trị, đời sống, mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng, quần chúng với Nhà nước chưa gắn bó làm một, nên chưa động viên được phong trào quần chúng phấn khởi lao vào giải quyết mọi khó khăn, tiêu cực…”. Và trong phương hướng, nhiệm vụ năm 1980 – 1981 đã nêu “…Kiện toàn, củng cố và phát triển các đoàn thể quần chúng, giữ vững nội dung sinh hoạt, nắm chắc các tổ chức quần chúng tăng cường giáo dục nâng cao giác ngộ cách mạng Xã hội chủ nghĩa cho quần chúng hiểu rõ tình hình, thấy rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của quần chúng, dấy lên phong trào thi đua đẩy mạnh sản xuất và sẳn sàng chiến đấu, phong trào xây dựng hợp tác hoá nông nghiệp, phong trào nếp sống văn minh, phong trào đóng góp đầy đủ nghĩa vụ cho Nhà nước…”.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội II Đảng bộ tỉnh, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, vận động hàng vạn quần chúng thực hiện các nhiệm vụ phát triển sản xuất, thu mua lương thực, cải tạo nông nghiệp, tuyển quân, giữ gìn an ninh trật tự, chống tiêu cực…Tuy nhiên, trong thời gian này, Mặt trận và các đoàn thể còn nhiều mặt yếu: công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng chưa liên tục, chưa sát đối tượng; phong trào chưa đều, chưa nổi rõ vai trò của mặt trận, đoàn thể.

Từ ngày 6 đến ngày 13/1/1982, Đảng bộ tỉnh Tây Ninh tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ III (vòng 1) và từ ngày 5 – 8/4/1983 tiến hành Đại hội vòng 2. Đại hội đã đề ra 7 nhiệm vụ và giải pháp cụ thể từ năm 1983 – 1985, trong đó, nhiệm vụ phát động phong trào cách mạng của quần chúng là phải phát động cho bằng được phong trào quần chúng lao động làm chủ tập thể qua cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, văn hoá – xã hội; phong trào Nhà nước và nhân dân cùng làm trong sản xuất và văn hoá – xã hội;   phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc nhằm thực hiện thắng lợi phương hướng, nhiệm vụ của Đại hội đề ra.

Năm 1983 tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội vẫn còn diễn biến phức tạp. Một số tên phản cách mạng đội lốt chức sắc trong tôn giáo Cao Đài Tây Ninh và các tôn giáo khác cấu kết với một số nguỵ quân, nguỵ quyền trốn cải tạo nhen nhóm hình thành trên 30 tổ chức chính trị, vũ trang phản động với nhiều danh xưng như “Mặt trận dân quân phục quốc”, “Mặt trận thống nhứt toàn lực quốc gia”, “Đường lối cứu thế”, “Cao Đài phục quốc”, “Bảo sanh dân tộc”…Nổi lên là tổ chức phản động “Hội đồng hoà giải quốc tế” và “Thiên khai Huỳnh đạo” do một số chức sắc, tín đồ Cao Đài cùng với một số tên phản cách mạng khác hình thành âm mưu phối hợp với bọn xâm lược bên ngoài gây bạo loạn, lật đổ chính quyền cách mạng; các tổ chức phản cách mạng này phát triển ở hầu hết các tỉnh Nam bộ và Quảng Nam – Đà Nẵng. Quán triệt Nghị quyết 03, ngày 25/10/1982 của Bộ Chính trị, ngày 10/3/1983 Tỉnh uỷ ban hành Nghị quyết 42-NQ/TU chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai học tập sâu rộng trong toàn Đảng bộ. Qua học tập đã hình thành một phong trào quần chúng rộng khắp trong toàn tỉnh nhằm trấn áp bọn phản cách mạng, chống vượt biên, chống xâm nhập vào nội địa, chống chiến tranh tâm lý và văn hoá phản động đồi truỵ. Nổi bật là phong trào quần chúng lên án các tổ chức phản cách mạng núp bóng tôn giáo, tạo điều kiện cho đông đảo quần chúng tín đồ và đa số chức sắc, chức việc yêu nước yên tâm hoạt động tôn giáo; hình thành tuyến quần chúng bảo vệ biên giới, kéo giãm số lượng vượt biên ra nước ngoài.

Báo cáo tổng kết công tác năm 1983 của Tỉnh uỷ đã đánh giá: Sau khi được củng cố tổ chức, các đoàn thể và Mặt trận đã tạo được một khí thế mới, đoàn kết nhất trí cao, có nhiều chuyển biến mạnh mẽ trong công tác vận động quần chúng. Mặt trận Tổ quốc đã thực sự trở thành trung tâm đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân lao động, lương giáo, già trẻ, gái trai…đồng tâm hiệp lực để thực hiện mục tiêu sản xuất và xây dựng trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, trong mặt trận bảo vệ an ninh Tổ quốc, đặc biệt trong việc đấu tranh đập tan âm mưu bạo loạn của bọn phản cách mạng đội lốt tôn giáo Cao Đài.

III. TỔ CHỨC MẶT TRẬN GIAI ĐOẠN 1981-1985

Ngày 17/3/1981, Ban Bí thư ban hành Quyết định 93-QĐ/TW về việc thành lập Ban Dân vận Trung ương và Đảng đoàn Mặt trận. Theo đó, ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải thể Ban Dân vận và Mặt trận, thành lập Ban Dân vận và Đảng đoàn Mặt trận do đồng chí Phó Bí thư thường trực hoặc Uỷ viên thường vụ làm Trưởng ban. Năm 1981, Ông Võ Đức Trọng được cử trở lại làm Chủ tịch Mặt trận tỉnh. Đến năm 1982 tỉnh ta mới tách Ban Dân vận và Mặt trận thành 2 cơ quan là Ban Dân vận và Mặt trận.

Ngày 5 – 6/7/1983, Mặt trận Tổ quốc tỉnh tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ III, đại hội cử ra Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh khoá III gồm 66 vị. Phiên họp đầu tiên của Uỷ ban Mặt trận tỉnh đã cử Ông Võ Đức Trọng tiếp tục giử chức vụ Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch là Ông Nguyễn Trung Đạo và Ông Trương Ngọc Anh.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội, hoạt động Mặt trận các cấp đã chuyển biến tốt cả về nội dung và phương thức hoạt động. Nổi bật là công tác đào tạo, tập huấn cán bộ, nhất là đối với cán bộ Mặt trận cấp xã, phường và ấp, khu phố; Mặt trận tỉnh hầu như quý nào cũng có mở lớp. Hình thành các tổ chức đối ngoại nhân dân như Hội Hữu nghị Việt Nam – Liên Xô, Việt Nam – Campuchia, Việt Nam – Cuba. Đối với các tôn giáo, Mặt trận cùng các ngành liên quan tham mưu thành lập tổ chức Uỷ ban đoàn kết Công giáo yêu nước tỉnh, giúp tôn giáo Cao Đài thành lập Hội đồng Chưởng quản, giúp Phật giáo tổ chức Đại hội và thành lập Ban Trị sự Phật giáo tỉnh. Phong trào tiết kiệm trong giới phụ lão được Mặt trận Trung ương đánh giá cao và là điển hình của cả nước.

Ngày 29/11/1983, Tỉnh uỷ Tây Ninh báo cáo tổng kết việc thực hiện Chỉ thị 92-CT/TW và Công văn 74-CV/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng lực lượng công an nhân dân trong sạch vững mạnh và đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới.

Thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư, phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tỉnh phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, cả về số lượng và chất lượng, cả trên mặt trận bảo vệ an ninh lẫn mặt trận bảo vệ tài sản và giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Quần chúng được tập hợp khá rộng trong nhiều loại hình tổ chức khác nhau như tổ an ninh nhân dân, thanh niên xung kích an ninh, tổ dân phòng, ban bảo vệ…; đấu tranh với nhiều nội dung phong phú, khá toàn diện, bằng nhiểu hình thức và biện pháp thích hợp. Từ trên 1.000 tổ an ninh nhân dân năm 1980 tăng lên 7.052 tổ năm 1983, trong đó 2.339 tổ hoạt động khá, 900 tổ hoạt động trung bình; năm 1981 có trên 1.000 tổ dân phòng, đến năm 1983 có 3.600 tổ, 82 ban bảo vệ dân phố, 46 tiểu đội và 227 phân đội thanh niên xung kích an ninh. Lực lượng bảo vệ chuyên trách và bán chuyên trách được củng cố và phát triển; các nông, lâm, công trường xây dựng được 127 tiểu đội, 3 đại đội và 1 tiểu đoàn tự vệ.

Thực hiện Nghị quyết 03 của Tỉnh uỷ về công tác tổng kết chiến tranh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh chịu trách nhiệm tổng kết chuyên đề “Công tác Cao Đài vận trong kháng chiến”.

Tháng 6/1984, Mặt trận Tổ quốc tỉnh hoàn thành chuyên đề này với tiêu đề “ĐẢNG BỘ TÂY NINH VỚI NHIỆM VỤ LỊCH SỬ: VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG CAO ĐÀI ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG”. Trong chuyên đề đã khẳng định 70% quần chúng Tây Ninh là người Cao Đài đã góp phần xứng đáng tô thắm danh hiệu “trung dũng, kiên cường” dành cho Tây Ninh và kết luận “Từ khi Tây Ninh có Đảng, Tỉnh Đảng bộ Tây Ninh luôn luôn quan tâm công tác Cao Đài vận, xem đây là công tác hàng đầu trong vận động quần chúng đấu tranh cách mạng. Trong suốt hai cuộc kháng chiến, ta giành được thắng lợi từ thấp đến cao, đi đến thắng lợi hoàn toàn giải phóng tỉnh nhà. Kiểm điểm công tác Cao Đài vận trong thời gian kháng chiến đã qua, cho phép chúng ta rút ra được những bài học quý báu, thiết thực, giúp ta khắc phục những tồn tại và thiếu sót đã qua, đồng thời phát huy những ưu điểm trong công tác đối với tôn giáo Cao Đài trong thời gian tới”.

Chuyên đề đã rút ra 6 bài học kinh nghiệm, trong đó có bài học về coi trọng việc xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất và bài học về chăm lo đời sống quần chúng Cao Đài. Bài học về coi trọng việc xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất viết: Đảng ta nói chung và Tỉnh Đảng bộ Tây Ninh nói riêng luôn coi trọng vấn đề xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất; bởi vì đây là một nhân tố quan trọng, không thể thiếu được trong quá trình vận động cách mạng đối với quần chúng, góp phần quyết định vào thắng lợi chung của cục diện cách mạng. Với điều kiện đặc biệt của Đảng bộ Tây Ninh có trung tâm tôn giáo Cao Đài, với 70% dân số là người Cao Đài, nên quá trình hình thành Mặt trận Dân tộc thống nhất luôn gắn chặt với quá trình vận động cách mạng đối với quần chúng Cao Đài, bằng cả quá trình tổng hợp các phương pháp cách mạng…Bài học về chăm lo đời sống quần chúng Cao Đài viết: Xác định quần chúng Cao Đài là một bộ phận quần chúng nói chung của Đảng, đồng thời cũng do yêu cầu khách quan lúc đó về nắm quần chúng và cải thiện kinh tế, phục vụ hậu cần tại chổ cho kháng chiến, nên ta đã chia cấp ruộng đất cho nông dân, đại bộ phận là quần chúng Cao Đài trên 10 ngàn ha từ kháng chiến chống Pháp đến chống Mỹ, với nhận thức đây là vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc thiết thực chăm lo đời sống quần chúng của ta.

Đến năm 1985, hệ thống Mặt trận từ tỉnh đến cơ sở được củng cố. Đặc biệt, từ khi có Chỉ thị 17-CT/TW ngày 18/4/1983 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn mới, công tác Mặt trận được tăng cường hơn. Mặt trận được mở rộng, chất lượng từng bước được nâng lên, tập hợp được rộng rãi các đối tượng do Mặt trận phụ trách; các tổ chức thành viên Mặt trận phát triển tổ chức ăn sâu trong quần chúng. Tính riêng huyện Hoà Thành, nơi có trung tâm tôn giáo Cao Đài, có 2 chức sắc Cao Đài tham gia Mặt trận Tổ quốc Trung ương khoá I, II và đại biểu Quốc hội khoá VI; có 63 chức sắc, 351 chức việc, 758 tín đồ là thành viên Mặt trận Tổ quốc tỉnh, huyện, xã, Ban Đại diện phụ lão, Ban Cán sự Mặt trận địa bàn dân cư; 10.825 cụ tham gia Hội phụ lão, 40.000 hội viên các đoàn thể. Nhìn chung, thực lực Mặt trận Tổ quốc ngày càng phát triển, bước đầu giúp các tầng lớp nhân dân thực hiện quyền làm chủ, làm chỗ dựa cho Nhà nước.

Nói về mối quan hệ giữa chính quyền và Mặt trận, phát biểu tại hội nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh (mở rộng) ngày 18 – 19/6/1985, Ông Phan Văn, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đã khái quát như sau: quan hệ giữa Uỷ ban nhân dân và Uỷ ban Mặt trận là mối quan hệ quyết định sự tồn tại lẫn nhau, là mối quan hệ nghĩa vụ lẫn nhau có cơ sở quy định của Hiến pháp và pháp luật; vì vậy, Uỷ ban nhân dân cũng như Uỷ ban Mặt trận các cấp, cán bộ chính quyền cũng như cán bộ Mặt trận đều có nhiệm vụ vun đắp cho mối quan hệ ngày càng chặt chẽ vì mục tiêu lợi ích của con người, của nhân dân lao động; cần làm cho mối quan hệ này được chặt chẽ trên thực tế, chứ không phải chỉ trên lời nói. Mối quan hệ giữa Uỷ ban nhân dân và Uỷ ban Mặt trận các cấp về cơ bản là tốt, nhưng còn có chổ chưa hợp lý, còn có chổ chưa công bằng, để giải quyết vấn đề này nên có một hội nghị chuyên đề để ký kết với nhau một bản quy chế về mối quan hệ giữa chính quyền và Mặt trận các cấp trong tỉnh.

 

CHƯƠNG VII

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VÀ CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN TÂY NINH HƯỞNG ỨNG VÀ THAM GIA THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG (1986 – 1995)

  1. MẶT TRẬN THAM GIA THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI (1986-1991)

Bước vào thời kỳ đổi mới, bên cạnh đổi mới tư duy kinh tế, phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân cho phù hợp với tình hình mới. Đại hội lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”, do vậy, phải củng cố và phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể quần chúng, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức quần chúng, hướng mạnh về cơ sở, thu hút đông đảo nhân dân vào các phong trào cách mạng.

Thực hiện Thông tri 14/TT ngày 10/12/1984 của Ban Thư ký Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân tỉnh ngày 15/6/1985 về việc vận động xây dựng “Quỹ vui tuổi già” (năm 1986 đổi thành “Quỹ tiết kiệm toàn dân chăm sóc tuổi già” gọi tắt là “Quỹ chăm sóc tuổi già”), ngày 8/8/1986 Uỷ ban Mặt trận tỉnh và các đoàn thể thành viên ban hành Nghị quyết liên tịch về xây dựng “Quỹ chăm sóc tuổi già” , Uỷ ban Mặt trận tỉnh và Quỹ tiết kiệm xã hội chủ nghĩa tỉnh ban hành Nội quy tổ chức và hoạt động của quỹ. Kết quả đến cuối tháng 11/1985 ở 7 huyện, thị (trừ huyện Trảng Bàng) đã có 4.300 cụ tham gia góp vào quỹ 151.901 đồng. Đến tháng 6/1986 có 60/82 xã, phường, thị trấn vận động 16.535 cụ tham gia với số tiền 796.959 đồng; có 22 xã tiến hành đại hội phụ lão chính thức ra mắt quỹ, bầu Ban quản lý quỹ và bầu Ban đại diện phụ lão.

Tháng 10/1986, Tỉnh uỷ Tây Ninh tiến hành sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 17-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn mới”, báo cáo đã đánh giá việc thực hiện Chỉ thị trên địa bàn tỉnh và đề ra những nhiệm vụ cấp bách trong thời gian tới.

Về đánh giá kết quả việc thực hiện, qua các đợt tổ chức triển khai, trong nội bộ Đảng và cán bộ chuyên trách công tác Mặt trận đã nắm được một số quan điểm cơ bản trong Chỉ thị 17-CT/TW, do đó công tác Mặt trận trong tỉnh từng bước đi vào nền nếp, nhiều mặt có chất lượng khá; nội dung và phương thức công tác ngày càng phong phú, công tác thi đua được chú ý (chia các huyện, thị thành 2 cụm thi đua: cụm I gồm Hoà Thành, Thị Xã, Trảng Bàng, Gò Dầu; cụm II gồm Châu Thành, Dương Minh Châu, Tân Biên, Bến Cầu). Tổ chức bộ máy, cán bộ chuyên trách công tác Mặt trận bước đầu có sự phát triển nhất định. Uỷ ban Mặt trận tỉnh được bổ sung 4 thành viên (Đại hội Mặt trận tỉnh lần thứ III cử ra 66 thành viên, nay tăng lên 70), hình thành các bộ phận chuyên môn. Uỷ ban Mặt trận 8 huyện, thị có 280 thành viên, ngoài 33 vị trong Ban Thường trực còn có 15 cán bộ chuyên trách. Uỷ ban Mặt trận xã, phường có 1.602 thành viên, trong đó có 373 cán bộ chuyên trách. Hình thành được 338 Ban công tác Mặt trận ở địa bàn dân cư với 1.631 thành viên. Có 38/82 xã hình thành Ban Đại diện phụ lão và 1.436 Tổ phụ lão với 36.002 hội viên. Từ năm 1983 đến cuối năm 1986, Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các huyện, thị đã tổ chức 30 lớp bồi dưỡng cho 1.809 lượt cán bộ cốt cán (trong đó, Mặt trận tỉnh mở 6 lớp với 520 cán bộ dự).

Về những nhiệm vụ cấp bách trong thời gian tới, Tỉnh uỷ đề ra 4 nhiệm vụ như sau:

– Giải quyết vấn đề nhận thức, tiếp tục quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, Chỉ thị 53-CT/TW của Ban Bí thư “về tăng cường công tác vận động quần chúng của Đảng”, Chỉ thị 17-CT/TW của Ban Bí thư “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn mới” trong các cấp uỷ. Những nơi chưa tổng kết Chỉ thị 17-CT/TW thì tiến hành sớm, nghiêm túc nhằm rút ra được bài học kinh nghiệm.

– Thực hiện các biện pháp tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đối với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận. Trên cơ sở tổng kết này, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ra quyết định về việc tiếp tục triển khai, thực hiện Chỉ thị 17-CT/TW. Bảo đảm đúng việc phân công 1 cấp uỷ viên chuyên trách công tác Mặt trận, phân công thường vụ phụ trách Khối vận trực tiếp làm Chủ tịch Mặt trận để điều hành thống nhất công tác mặt trận và công tác dân vận. Cấp uỷ bố trí thời gian làm việc với Đảng đoàn và Ban Thường trực Mặt trận; bảo đảm chế độ họp liên tịch cấp uỷ, uỷ ban nhân dân, uỷ ban mặt trận.

– Tăng cường và mở rộng phạm vi, quy mô công tác Mặt trận.

Tạo điều kiện cho Uỷ ban Mặt trận các cấp tham gia quản lý kinh tế, phát triển văn hoá – xã hội, thực hiện nhiệm vụ an ninh – quốc phòng, ổn định và cải thiện đời sống quần chúng; trước hết là tham gia bình ổn giá cả, phát triển sản xuất, thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn của Đảng là sản xuất lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VI).

Tôn trọng thật sự và tạo thuận lợi cho Uỷ ban Mặt trận các cấp làm được vai trò đại diện chung cho quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Các ngành pháp chế phối hợp với Mặt trận đề xuất việc cải tiến nội dung và cách tổ chức các kỳ họp Hội đồng nhân dân.

Các ngành liên quan phối hợp với Uỷ ban Mặt trận các cấp tiến hành công tác vận động các đối tượng tôn giáo, dân tộc, người Hoa, trí thức, người Việt Nam sống ở nước ngoài, sĩ quan, viên chức chế độ cũ và người học tập cải tạo về trên cơ sở thống nhất đánh giá, chủ trương, chính sách đối với từng đối tượng cụ thể.

Mặt trận Tổ quốc các cấp quan hệ chặt chẽ với đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Quốc hội để kiến nghị ý kiến, nguyện vọng cử tri lên Uỷ ban nhân dân và Hồi đồng Chính phủ; ngược lại, đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân gắn bó chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp để hiểu được nguyện vọng quần chúng.

Uỷ ban nhân dân tỉnh và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh phối hợp xây dựng và thực hiện quy chế về mối quan hệ giữa chính quyền với Mặt trận các cấp trong tỉnh trên cơ sở thật sự coi trọng vai trò, vị trí của tổ chức Mặt trận; trước hết, Uỷ ban nhân dân các cấp cần tạo mọi điều kiện về kinh phí và phương tiện cho Mặt trận hoạt động (kể cả kinh phí thi đua, khen thưởng và vấn đề gây quỹ trong hệ thống Mặt trận), chăm lo chế độ lương, phụ cấp cho lực lượng cán bộ chuyên trách Mặt trận và các đoàn thể một cách hợp lý, xoá dần sự xa cách giữa đội ngũ cán bộ hệ chính quyền với đội ngũ cán bộ Mặt trận và các đoàn thể.

– Tăng cường cán bộ cho bộ máy chuyên trách công tác Mặt trận.

Ngoài việc bố trí 1 cấp uỷ viên phụ trách công tác Mặt trận, các cấp uỷ cần điều động một số cán bộ chuyên trách cho Mặt trận, nhất là ở các huyện còn yếu. Ở cấp huyện, thị, ngoài Ban Thường trực, cần có một số cán bộ tăng cường cho bộ phận cơ sở và lo các mặt văn hoá, xã hội. Ở cấp tỉnh, tăng cường Ban Thường trực từ 5 – 7 người, có thêm 5 – 7 cán bộ chuyên trách các bộ môn cơ sở, thi đua, pháp chế, tổ chức, tổng hợp, tuyên huấn, tôn giáo, dân tộc. Ở cơ sở, Ban Thường trực có 3 cán bộ chuyên trách (Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên thư ký).

Về tiêu chuẩn cán bộ chuyên trách Mặt trận, theo tinh thần Chỉ thị 17-CT/TW, Chỉ thị 53-CT/TW và hướng dẫn của Mặt trận Trung ương, cán bộ chuyên trách công tác Mặt trận cần có năng lực và uy tín vận động quần chúng, còn sức khoẻ, trưởng thành từ cơ sở và thực tiễn công tác ở cơ sở, có hiểu biết nhất định về khoa học xã hội.

Về tiêu chuẩn lương, phụ cấp, Ban Tổ chức Tỉnh uỷ nghiên cứu cải tiến chế độ lương và phụ cấp đối với Mặt trận và các đoàn thể nói chung. Đặc biệt quan tâm thực hiện thống nhất chế độ phụ cấp cho cán bộ cơ sở có xét tới mối tương quan chung của cán bộ chính quyền cơ sở.

Chính quyền các cấp cần tạo điều kiện giúp vốn ban đầu cho Mặt trận sản xuất kinh doanh trong điều kiện cho phép để gây quỹ cải thiện đời sống cho cán bộ, công nhân viên và góp phần vào kinh phí hoạt động.

Đặc biệt, tập trung đẩy mạnh công tác Mặt trận ở cơ sở xã, phường, thị trấn. Chú trọng công tác sơ, tổng kết rút bài học kinh nghiệm, nhất là các hoạt động có sự phối hợp với chính quyền và thống nhất hành động với các đoàn thể thành viên.

Do tình hình mất đoàn kết nội bộ kéo dài nên Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV chỉ tiến hành được vòng 1(từ ngày 10 đến ngày 13-11-1986), không tổ chức được vòng 2. Sau khi được củng cố, Tỉnh uỷ kêu gọi mọi ngành, mọi cấp quyết tâm vượt qua khó khăn, thử thách hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, động viên nhân dân ra sức thi đua lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm, quyết tâm hoàn thành vượt mức nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 1988 và 3 năm 1988-1990.

Về phía Mặt trận tỉnh, Ông Nguyễn Thống được điều động từ huyện Hoà Thành lên và tháng 12-1988 được cử làm Chủ tịch Mặt trận tỉnh.

Từ ngày 8-9/9/1989, Mặt trận tỉnh tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ IV, đại hội cử Uỷ ban Mặt trận tỉnh gồm 63 vị. Ông Nguyễn Thống được tiếp tục cử làm Chủ tịch Mặt trận tỉnh; các Phó Chủ tịch gồm các Ông Nguyễn Văn Bênh, Phạm Văn Lợi, Nguyễn Trung Đạo, Hồ Ngọc Thơ (không chuyên trách) và Bà Nguyễn Thị Minh Phương.

Ngày 27/3/1990, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) ban hành Nghị quyết 8B “Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”. Nghị quyết đã nêu “Từ khi Đảng ta lãnh đạo chính quyền trong phạm vi cả nước, mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân bị giảm sút, có lúc có nơi khá nghiêm trọng…một bộ phận cán bộ, đảng viên mang nặng bệnh quan liêu, xa rời quần chúng, chuyên quyền độc đoán, ức hiếp nhân dân, tham ô, hối lộ, sống xa hoa, lãng phí…”. Từ thực trạng đó, Nghị quyết Trung ương 8B đưa ra 4 quan điểm về công tác dân vận hết sức sâu sắc, có ý nghĩa như kim chỉ nam trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, đó là:

Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân;

Động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thân của nhân dân và kết hợp hài hoà các lợi ích, thống nhất quyền lợi và nghĩa vụ công dân;

Trong giai đoạn mới của cách mạng nước ta, các hình thức tập hợp của nhân dân phải đa dạng;

Công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể.

Thực hiện Nghị quyết 8B, ngày 26/9/1990, Uỷ ban Mặt trận tỉnh thông qua tập thể khối Dân vận tỉnh Chương trình công tác Mặt trận theo tinh thần Nghị quyết 8B.

Chương trình đề ra 3 phương hướng tăng cường và đổi mới công tác Mặt trận, tóm tắt như sau:

Tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, mở rộng Mặt trận Tổ quốc để thực hiện mục tiêu cách mạng.

Thực hiện một cách thiết thực những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của đất nước.

Phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, tự lực vươn lên.

Để thực hiện phưong hướng trên, Chương trình đã đề ra 7 nhiệm vụ chung và 5 nhiệm vụ cụ thể. Đồng thời, Chương trình cũng tập trung nêu Đổi mới phương hoạt động và củng cố tăng cường tổ chức Mặt trận Tổ quốc. Theo đó, về Phương thức hoạt động có 5 nội dung chính là: Phối hợp, thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên; phối hợp giữa Mặt trận với chính quyền; đi sâu vận động một số thành phần kinh tế, xã hội; trực tiếp vận động từng gia đình ở địa bàn dân cư; vừa vận động nhân dân đóng góp vừa tích cực tham gia giải quyết lợi ích chính đáng của từng người dân. Về nguyên tắc và chế độ làm việc, thực hiện theo Điều lệ Mặt trận là “dân chủ, bình đẳng; hợp tác, thống nhất hành động; tôn trọng tính độc lập của các tổ chức thành viên; thân ái phê bình và tự phê bình”. Về công tác tổ chức, cán bộ, trước hết cần kiện toàn và mở rộng Uỷ ban Mặt trận các cấp; chú trọng kiện toàn bộ phận thường trực; thành lập các ban chuyên môn giúp việc ở cấp tỉnh, chú trọng xây dựng bộ máy chuyên trách; lựa chọn, sắp xếp, quy hoạch lại đội ngũ cán bộ. Chương trình cũng đề cập đến việc xây dựng cơ sở vật chất và tài chính của Mặt trận theo hướng mở ra các hoạt động sản xuất, dịch vụ… từ ít đến nhiều để tăng thêm kinh phí hoạt động.

Thực hiện nghị quyết của Đảng và Chương trình của Mặt trận, nhiều phong trào thi đua và các cuộc vận động đã thu hút đông đảo đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân tham gia. Nổi bật là phong trào tương trợ giúp đở vốn trong nhân dân, xoá đói giãm nghèo, “Thanh niên lập nghiệp”, “Tuổi trẻ giữ nước”, “Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi”, “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, nuôi dạy con tốt”, “Thi đua làm nhiều việc thiện”, “Ông bà mẫu mực, con cháu thảo hiền”…

  1. ĐOÀN KẾT VƯỢT QUA KHÓ KHĂN, MẶT TRẬN VÀ CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN TÂY NINH TIẾP TỤC THAM GIA THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI (1991-1995)

Đây là một giai đoạn hết sức đặc biệt của cách mạng nước ta và của cả thế giới, sự tan rã của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô, kinh tế – xã hội trong nước lâm vào khủng hoảng đã có tác động mạnh mẽ đến nhận thức, niềm tin, tình cảm của các tầng lớp nhân dân nước ta, các thế lực thù địch trong và ngoài nước tập trung đánh phá ta toàn diện về mọi mặt.

Trước tình hình đó, để chuẩn bị cho Đại hội Đảng bộ các cấp và Đảng bộ tỉnh lần thứ V (vòng 2), ngày 22/5/1991 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Chỉ thị 99-CT/TU chỉ đạo các cấp, các ngành tổ chức thực hiện tốt những nhiệm vụ cấp bách ở địa phương; Chỉ thị nêu rõ vai trò của Mặt trận và các đoàn thể trong việc tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, dấy lên phong trào hành động cách mạng sôi nổi để lập thành tích chào mừng đại hội.

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ V được tiến hành từ ngày 24-27/4/1991 (vòng 1) và từ ngày 14-16/11/1991 (vòng 2). Về vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tại Đại hội đã đánh giá, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể một số nơi, một số cấp từng bước được củng cố, có đổi mới, đa dạng hoá nội dung, phương thức hoạt động phù hợp với đổi mới kinh tế – xã hội, thiết thực với đời sống các tầng lớp quần chúng, có phong trào được quần chúng hưởng ứng rộng rãi, kết quả tốt. Các chủ trương, chính sách tôn giáo, dân tộc được từng bước cụ thể hoá và vận dụng thực hiện tốt. Đồng bào có đạo và đồng bào dân tộc ít người cởi mở hơn và yên tâm sinh sống trong cộng đồng xã hội; đoàn kết, gắn bó hơn với các tầng lớp khác và chính quyền địa phương. Song, nhiều cơ sở và cả một số cấp trên cơ sở, tổ chức đoàn thể chỉ còn trên danh nghĩa, không hoạt động được hoặc hoạt động không hiệu quả. Vai trò, tác dụng của các đoàn thể sa sút, không thực hiện được chức năng là người đại diện cho các tầng lớp quần chúng.

Về phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 1991 – 1995, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng phải kịp thời đổi mới tổ chức bộ máy, nội dung, phương thức hoạt động để tập hợp và vận động quần chúng thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước. Nhiệm vụ chủ yếu là phải trở về nắm dân và chăm lo, bảo vệ các lợi ích thiết thân, chính đáng của nhân dân; thường xuyên tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; vận động quần chúng thực hiện các nhiệm vụ chính trị, mục tiêu kinh tế – xã hội của địa phương; giữ vững và tăng cường vai trò cầu nối giữa Đảng và nhân dân. Công tác quần chúng phải được đa dạng hoá, phương thức hoạt động phải phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, sinh hoạt và đặc điểm từng đối tượng, ngành nghề và địa bàn. Tổ chức bộ máy phải được sắp xếp tinh gọn; lựa chọn bố trí cán bộ có uy tín, năng lực và nhiệt tình. Từng bước xã hội hoá hoạt động theo đúng tính chất của tổ chức quần chúng.

Tháng 6/1992, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) ban hành Nghị quyết “Về đổi mới và tăng cường công tác vận động nhân dân củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”, Nghị quyết yêu cầu các cấp uỷ Đảng tiến hành sơ kết việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 8B (khoá VI) “Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”, khảo sát tình hình đời sống và tâm trạng các tầng lớp nhân dân, đề ra những nhiệm vụ tiếp tục thực hiện nghị quyết về công tác vận động nhân dân của địa phương và ngành mình. Nghị quyết nêu rõ “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân cho phù hợp với quá trình đổi mới kinh tế – xã hội. Mặt trận thực hiện tốt phương thức hiệp thương chính trị, phối hợp hành động giữa các tổ chức thành viên nhằm củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Thực hiện Nghị quyết, tháng 1/1993, Tỉnh uỷ Tây Ninh tiến hành sơ kết 2 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8B (khoá VI) về “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”.

Thực hiện Nghị quyết 07-NQ/TW ngày 17/11/1993 của Bộ Chính trị về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận thống nhất, Chương trình hành động do Đại hội IV Mặt trận tỉnh đề ra, năm 1994 hoạt động của mặt trận hướng vào 3 vấn đề lớn là:

– Góp phần cùng với Đảng xây dựng mối liên minh Công-Nông-Trí ngày càng vững mạnh.

– Động viên các tầng lớp nhân dân hành động cách mạng trên cơ sở những thành tựu đạt được của tỉnh nhà, của công tác Mặt trận.

– Phát huy quyền dân chủ của nhân dân trong việc xây dựng chính quyền vững mạnh, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa hướng đến việc tham gia bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 3 cấp đạt thắng lợi.

Với định hướng nêu trên, hoạt động của mặt trận năm 1994 đạt kết quả khả quan, góp phần vào thắng lợi chung của tỉnh nhà, giử vững và phát huy sự đoàn kết các giai tầng trong xã hội; hệ thống tổ chức Mặt trận được củng cố ổn định, cán bộ mặt trận các cấp nắm bắt và tổ chức thực hiện được các yêu cầu chỉ đạo; duy trì được các nội dung hoạt động thường xuyên, một số chỉ tiêu hoạt động cơ bản tăng 25% so với năm 1993.

Một số kết quả nổi bật là:

Về tham gia xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa: Ngày 7/7/1994, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành quy chế “Tổ chức và hoạt động Tổ nhân dân tự quản” tạo thuận lợi cho tổ tự quản hoạt động, năm 1994 phát triển được 1.517 tổ, nâng tổng số tổ trong toàn tỉnh lên 3.091 tổ. Thực hiện đúng luật, dân chủ và đầy đủ các bước trong quy trình hiệp thương giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân 3 cấp, tham gia vận động cử tri đi bầu đạt tỷ lệ 99,18%

Thực hiện các chính sách văn hoá – xã hội: Tiếp tục thực hiện phương châm “Xã hội hoá công tác xã hội”, đã phối hợp vận động nhân dân tương trợ nhau lúc khó khăn, hoạn nạn số tiền là 4.333.000.500 đồng (tăng 69,58% so năm 1993); vận động 954.280.000 đồng giúp 2.282 đối tượng trong chương trình xoá đói giãm nghèo (tăng  hơn 333% so năm 1993); vận động nhân dân góp 4.015.598.402 đồng trong phong trào Nhà nước và nhân dân cùng làm (tăng 89% so năm 1993).

Thực hiện các chính sách về dân tộc và tôn giáo: Thực hiện tốt việc thăm hỏi, vận động cứu trợ, giúp đở đồng bào dân tộc thiểu số từng bước ổn định đời sống. Quan tâm giúp đở các tôn giáo hoạt động đúng theo chương trình đã đăng ký, giải quyết kịp thời các yêu cầu chính đáng của các giáo hội. Tổ chức tiếp xúc định kỳ với các tôn giáo, dân tộc, nhân sĩ, trí thức để thông báo chủ trương, chính sách và tình hình; ghi nhận những ý kiến đóng góp và nguyện vọng của tôn giáo, dân tộc và các tầng lớp nhân dân.

Song, hoạt động của mặt trận cũng còn nhiều mặt hạn chế. Nổi lên là, sự mở rộng và tăng cường thực hiện chức năng của Mặt trận Tổ quốc đối với các giai tầng do mặt trận phụ trách chưa thực hiện đầy đủ, thiếu hình thức tổ chức thích hợp để tập hợp; đặc biệt là chưa có nội dung, hình thức thiết thực tăng cường và phát triển liên minh Công-Nông-Trí. Sự phát triển chưa đồng đều ở cơ sở, chưa đa dạng hoá loại hình để nâng cao việc mở rộng đoàn kết thông qua tổ chức và hành động; chậm sơ kết rút kinh nghiệm, nhân điển hình một số hoạt động.

III. ĐẠI HỘI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TỈNH TÂY NINH LẦN THỨ V (NHIỆM KỲ 1994-1999)

Được tiến hành từ ngày 28 đến 29/9/1994, đến dự đại hội có Ông Nguyễn Văn Hanh, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quôc Việt Nam; Ông Nguyễn Văn Rốp, Bí thư Tỉnh uỷ Tây Ninh;  Ông Đặng Văn Lý, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh;  Bà Nguyễn Thị Minh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Với khẩu hiệu CỦNG CỐ VÀ MỞ RỘNG ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC. ĐỒNG TÂM, HIỆP LỰC, XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG TÂY NINH GIÀU MẠNH, CÔNG BẰNG VĂN MINH, Đại hội đã thảo luận và thông qua Báo cáo tổng kết  nhiệm kỳ IV (1989-1994) và phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ V ( 1994-1999).

+ Về đánh giá tình hình các tầng lớp nhân dân và công tác Mặt trận 5 năm (1989-1994), Đại hội đã nhận định:

Nhìn chung đời sống nhân dân ngày càng ổn định và có một bộ phận được cải thiện rõ rệt, nhưng số nghèo còn đông, nhất là trong đồng bào dân tộc thiểu số; các mặt văn hoá, xã hội có bước phát triển; an ninh quốc gia được giử vững, chính trị được ổn định. Tuy vậy, nhân dân vẫn còn nhiều tâm tư, lo lắng về cuộc sống, về sản xuất, về kỷ cương phép nước, về quyền dân chủ, về đạo đức gia đình và xã hội, còn bất bình về những tệ nạn, tệ đoan xã hội. Khối đại đoàn kết dân tộc trong tỉnh tuy đã được củng cố nhưng chưa thật vững chắc và chưa thật mở rộng như mong đợi của các tầng lớp nhân dân, những nhân tố gây mất ổn định vẫn còn, ý thức cảnh giác trước sự chống phá của các thế lực thù địch thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình chưa đúng mức.

Công tác mặt trận từng bước được đổi mới và góp phần tích cực vào thành tựu chung của tỉnh nhà. Mặt trận các cấp trong tỉnh đã phối hợp tổ chức tốt cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp (tháng 11/1989) và bầu cử Quốc hội khoá 9 (tháng 7/1992); tổ chức các cuộc tiếp xúc cử tri, thực hiện quyền giám sát đối với chính quyền và đại biểu dân cử, đã đề nghị khen thưởng 138 vị và tham gia kiến nghị bãi miển 314 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã và 18 đại biểu cấp huyện; phối hợp xây dựng 9 Ban thanh tra nhân dân ở các xã điểm. Tổ chức nhiều cuộc toạ đàm với giới công thương, tiểu thương, tiểu chủ, gia đình có thân nhân ở nước ngoài để vừa phổ biến chủ trương, chính sách, vừa lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, những ý kiến đóng góp của họ. Phối hợp với các ngành, đoàn thể triển khai nhiều hoạt động thiết thực như khuyến nông, đưa tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản xuất, hỗ trợ vốn…Thực hiện chủ trương xoá đói giảm nghèo, ngoài vốn nhà nước 10 tỷ 247 triệu trợ giúp cho 8.271 hộ; Mặt trận phối hợp vận động được trên 4,7 tỷ đồng, trong đó 4 tỷ tương trợ cho trong và ngoài tỉnh, 700 triệu lập quỷ trợ vốn giúp 2.000 hộ nghèo thay phiên mượn không tính lãi. Trong phong trào đền ơn đáp nghĩa, đã vận động nhân dân đóng góp 383 căn nhà tình nghĩa trị giá 1,3 tỷ đồng, góp 268 triệu đồng tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa.

Mặt trận các cấp có nhiều cố gắng đổi mới phương thức hoạt động, hướng mạnh công tác mặt trận về địa bàn dân cư. Ngoài việc vận động gây quỹ để chăm lo cho phụ lão, đã xây dựng được 7 câu lạc bộ và 15 tụ điểm sinh hoạt cho các cụ phụ lão. Phối hợp với ngành công an tổ chức thí điểm xây dựng “Tổ nhân dân tự quản”; tổ chức hoà giải có kết quả 7.475 cuộc. Mở 38 lớp tập huấn cho 1.227 cán bộ chuyên trách công tác mặt trận huyện, thị, xã, phường… Trong nhiệm kỳ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã khen tặng 36 bằng khen, Uỷ ban Mặt trận tỉnh khen tặng 656 bằng khen và 124 giấy khen cho các tập thể và cá nhân có công lao và thành tích xuất sắc trong công tác mặt trận.

Song, hoạt động của Mặt trận các cấp trong tỉnh vẫn còn những yếu kém. Đội ngủ cán bộ có nơi chưa chuyên sâu, việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ mặt trận về chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức về kinh tế, pháp luật, văn hoá, tâm lý xã hội chưa theo kịp yêu cầu, nhiệm vụ mới; các chế độ, chính sách đối với cán bộ mặt trận cơ sở chưa thoả đáng; cơ sở vật chất, điều kiện hoạt động còn thiếu thốn; việc quy hoạch cán bộ chủ chốt, chuyên trách của mặt trận cấp huyện thị và cơ sở chưa được chú trọng đúng mức. Việc sơ tổng kết nhân rộng các điển hình tuy có chú ý và thực hiện được một số nội dung, nhưng từng lúc từng nơi, nhất là ở cơ sở và một số huyện, thị còn chậm trể, chưa thật sự chủ động phát hiện, giúp cơ sở đúc kết, trao đổi rút kinh nghiệm kịp thời. Việc thực hiện chức năng phối hợp thống nhất hành động tuy có tiến bộ nhất định nhưng vẫn còn nhiều nơi mối quan hệ với các hội, đoàn thành viên, các ngành chức năng chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ. Chưa có biện pháp tốt để phát huy và tạo điều kiện cho các thành viên Uỷ ban Mặt trận đóng góp hết trí tuệ và tâm huyết vào các vấn đề chung của đất nước và của địa phương; mặt khác, một số Ủy viên Uỷ ban Mặt trận cũng chưa mạnh dạn, có vị ít tham dự các cuộc họp, thậm chí có vị chỉ họp 1-2 lần trong suốt nhiệm kỳ. Các kỳ họp của Uỷ ban Mặt trận nội dung chưa phong phú, chưa phản ánh đầy đủ, kịp thời các tâm tư, nguyện vọng, các vấn đề bức xúc trong đời sống của các tầng lớp nhân dân. Mặt trận các cấp chưa có hình thức tốt để thu hút các chuyên gia và cộng tác viên nghiên cứu, đề xuất với cấp uỷ, chính quyền về những chủ trương lớn liên quan đến quốc kế dân sinh hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung chủ trương, chính sách.

Trên cơ sở đánh giá những mặt được và chưa được, đại hội đã rút ra 4 nguyên nhân cơ bản và cũng là bài học kinh nghiệm, khái quát như sau:

Một là, sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác mặt trận là yếu tố rất quan trọng. Các nghị quyết, chủ trương của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 8B (khoá VI) về công tác vận động quần chúng, Nghị quyết 07 Bộ Chính trị (khoá VII) về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường mặt trận dân tộc thống nhất đã soi sáng và chỉ rõ quan điểm, nội dung, phương thức đổi mới công tác quần chúng nói chung và công tác mặt trận nói riêng.

Hai là, tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, giử vững ổn định chính trị. Thông qua việc tập hợp, mở rộng đoàn kết đã huy động mọi lực lượng xã hội, thúc đẩy mọi người vào cuộc, tham gia thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước, lấy mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội làm mẫu số chung.

Ba là, các cấp mặt trận cố gắng triển khai thực hiện đổi mới phương thức, nội dung hoạt động, tập trung hướng về địa bàn dân cư cùng với mô hình “Tổ nhân dân tự quản”…giải quyết các vấn đề bức xúc…trong thời kỳ đổi mới, mặt trận đã chọn lĩnh vực văn hoá – xã hội làm đòn bẩy thúc đẩy các phong trào.

Bốn là, củng cố tổ chức, tăng cường cán bộ bảo đảm thực hiện tốt vai trò, chức năng, vị trí mặt trận đáp ứng nhu cầu tình hình, nhiệm vụ mới…tích cực đổi mới lề lối, tác phong làm việc…tăng cường bồi dưỡng trình độ đội ngũ cán bộ, ưu tiên tập trung cho cơ sở…kịp thời động viên, khen thưởng, rút kinh nghiệm, nhân các mô hình, điển hình mới.

+ Về phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ V (1994-1999), Đại hội đã nhất trí thông qua nhiệm vụ chung nhiệm kỳ V (1994-1999) là “ Phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường, đoàn kết mọi người Việt Nam trong tỉnh và kiều bào quê ở Tây Ninh đang định cư ở nước ngoài tán thành công cuộc đổi mới. Nhằm mục tiêu góp phần giử vững độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Phấn đấu đưa tỉnh Tây Ninh sớm thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, cùng cả nước tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, thực hiện di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập. dân chủ và giàu mạnh”.

Để cụ thể hoá nhiệm vụ chung nêu trên, Đại hội đã đề ra 5 nhiệm vụ chủ yếu, những nội dung cơ bản là:

Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia xây dựng, giám sát và bảo vệ Nhà nước: Mặt trận và các tổ chức thành viên có trách nhiệm tham gia và củng cố chính quyền nhân dân, giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước, bảo vệ vững chắc chế độ và uy quyền pháp lý của Nhà nước trên mọi lĩnh vực. Các công việc chủ yếu là cùng với chính quyền tổ chức tốt các cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đúng luật định; tổ chức, tập hợp ý kiến đóng góp của các cuộc tiếp xúc cử tri; tổ chức cho các tầng lớp nhân dân góp ý kiến xây dựng các dự thảo luật, tuyên truyền rộng rãi chủ trương, chính sách, pháp luật trong nhân dân; củng cố và mở rộng tổ chức Ban Thanh tra nhân dân, phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của Tổ nhân dân tự quản. Phấn đấu đến hết năm 1995 xây dựng 100% Tổ dân cư tự quản trên địa bàn và 100% Ban Thanh tra nhân dân ở cơ sở.

Vận động nhân dân đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, tự mình vươn lên và giúp đở lẫn nhau cải thiện đời sống, làm giàu hợp pháp, xoá đói giãm nghèo: Vận động nhân dân thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuyên canh hoá; đẩy mạnh phong trào xoá đói giãm nghèo, phối hợp với chính quyền thực hiện tốt chương trình trợ vốn, kỹ thuật, vật chất để phát triển sản xuất; vận động phong trào tiết kiệm trong dân và các cơ quan Nhà nước, lên án tệ hoang phí của công.

Vận động nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các chính sách văn hoá – xã hội và xã hội hoá công tác xã hội: Những vấn đề xã hội rất lớn, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình, Mặt trận chú trọng thực hiện và tham gia thực hiện việc giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ; thực hiện chính sách đối với các đối tượng chính sách, củng cố tổ chức phụ lão, cán bộ hưu trí ở cơ sở, phát triển “Quỹ toàn dân chăm sóc tuổi già”, đẩy mạnh các hoạt động đền ơn đáp nghĩa và hậu phương quân đội; vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá mới, lên án các tệ nạn xã hội; tham gia giữ gìn và phát huy văn hoá truyền thống dân tộc; phối hợp vận động nhân dân đóng góp xây dựng các nhà rạp, xe tang, nhạc tang, đội mai táng ở hầu hết các ấp. Chủ động đề xuất và phối hợp với các tổ chức thành viên chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số; cùng các cơ quan chức năng thực hiện tốt chính sách tự do tín ngưỡng, bình đẳng giữa các tôn giáo.

Vận động nhân dân tăng cường công tác bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố quốc phòng: Mặt trận phối hợp với các ngành liên quan vận động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố quốc phòng thông qua công tác tuyển quân, hậu phương quân đội, xây dựng lực lượng vũ trang, tăng cường tình đoàn kết quân dân. Thực hiện nghị quyết liên tịch thông qua xây dựng “Tổ dân cư tự quản”.

Củng cố tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động: Hoạt động của Uỷ ban Mặt trận phải thể hiện đầy đủ tính liên minh chính trị, tính liên hiệp rộng rãi về tổ chức, tính quần chúng sâu sắc trên cơ sở liên minh “Công – Nông – Trí”. Bảo đãm nguyên tắc của Mặt trận hiệp thương, dân chủ, hợp tác bình đẳng, đoàn kết chân thành, tôn trọng lẫn nhau, phối hợp và thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên theo chương trình hành động chung. Kiện toàn Uỷ ban Mặt trận các cấp theo hướng tăng thêm những người tiêu biểu có tín nhiệm và năng lực; bảo đảm người ngoài Đảng tham gia Uỷ ban Mặt trận khoảng 50%; bộ máy giúp việc Mặt trận phải gọn nhẹ, xem trọng chất lượng, hiệu quả. Xây dựng quy chế hoạt động giữa Mặt trận với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và các đoàn thể. Mặt trận các cấp tăng cường tìm thêm kinh phí ngoài ngân sách để tăng thêm điều kiện hoạt động và cải thiện đời sống cho cán bộ.

Đại hội đã tán thành và ủng hộ Chương trình hành động “Đại đoàn kết dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” gồm 12 điểm bao quát những nội dung trong phương hướng, nhiệm vụ nêu trên.

Đại hội đã nghe Báo cáo kiểm điểm của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh khoá IV (nhiệm kỳ 1989-1994) và Báo cáo kết quả hiệp thương, giới thiệu uỷ viên Uỷ ban Mặt trận tỉnh khoá V (nhiệm kỳ 1994-1999). Trên cơ sở đó, Đại hội đã thảo luận và nhất trí tán thành Uỷ ban Mặt trận tỉnh khoá V (nhiệm kỳ 1994-1999) gồm 63 vị, trong đó có 9 vị đại biểu người dân tộc thiểu số (chiếm 30%), 4 vị đại diện các tôn giáo (chiếm 13,33%), 6 vị đại biểu trí thức (chiếm 20%), 2 vị đại biểu giới công – thương gia (chiếm 6,67%), 9 vị đại biểu các giới khác (chiếm 30%). Ông Nguyễn Thống được cử làm Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận tỉnh khoá V (nhiệm kỳ 1994-1999), các Phó Chủ tịch là Ông Phạm Văn Lợi, Nguyễn Văn Bênh, Phan Văn Thái và Bà Trương Thị Trạng.

Năm 1995, các tầng lớp nhân dân trong tỉnh tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn đã góp phần tích cực đưa sự nghiệp đổi mới tỉnh nhà phát triển, đạt thành tựu cao nhất về kinh tế – xã hội so với 5 năm trước đó. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm xã hội trong toàn tỉnh (GDP) tăng 12,55% (vượt chỉ tiêu kế hoạch 0,55%), trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 27,1%, nông nghiệp tăng 7,7%, thương nghiệp – dịch vụ tăng 14,8%.

Hoạt động của mặt trận năm 1995 tiếp tục đạt nhiều kết quả:

Về xây dựng và phát huy nền dân chủ: Các Tổ tự quản tổ chức hoà giải có kết quả 5.771/6.019 vụ (đạt 94,8%); giám sát, phối hợp giải quyết có kết quả 813/972 đơn (đạt 83,65%); đề nghị bãi miễn 11 đại biểu Hội đồng nhân dân (9 đại biểu cấp xã, 2 cấp huyện); phối hợp Hội đồng nhân dân tổ chức 1.774 cuộc tiếp xúc cử tri; hoàn thành việc xây dựng Tổ dân cư tự quản ở 86/86 xã, phường, thị trấn.

Thực hiện Thông tri 04/TT-MTTW ngày 3/5/1995 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc hướng dẫn Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”, Mặt trận phối hợp với các ngành tham mưu cho Tỉnh uỷ ban hành Công văn 198-CV/TU ngày 8/7/1995, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Chỉ thị 23-CT/UB ngày 22/11/1995 và Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” (gọi tắt là Ban Chỉ đạo 04) do Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận tỉnh làm Trưởng ban, Kỳ họp thứ III Hội đồng nhân dân tỉnh đã đưa nội dung này vào nghị quyết kỳ họp.

Về tham gia thực hiện các chính sách văn hoá – xã hội: Vận động đoàn kết tương trợ 8.610.110.000 đồng, tăng gấp 2 lần năm 1994; vận động tương trợ vốn trong dân 2.502.691.000 đồng, tăng 2,6 lần năm 1994; vận động phong trào Nhà nước và nhân dân cùng làm 11.723.721.000 đồng, tăng 2,9 lần so năm 1994.

CHƯƠNG VIII

ĐOÀN KẾT VƯỢT QUA KHÓ KHĂN, MẶT TRẬN VÀ CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH VỮNG TIN VÀ TIẾP TỤC THAM GIA THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG (1996-2010)

Tháng 4/1996, Đảng bộ tỉnh tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ VI, nhiệm kỳ 1996 – 2000. Đại hội đã đánh giá, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể được từng bước đổi mới; một số nội dung hoạt động đã đáp ứng được những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng, thiết thực của quần chúng, gắn được mục tiêu chính trị với mục tiêu kinh tế – xã hội nên hoạt động của đoàn thể gắn bó, gần gũi với quần chúng hơn, tạo ra được những phong trào mang lại lợi ích thiết thực cho đời sống quần chúng và góp phần thực hiện các nhiệm vụ chính trị địa phương, tổ chức đoàn thể được củng cố và phát triển. Đồng bào các dân tộc, tín đồ các tôn giáo ngày càng gắn bó với cộng đồng, tin tưởng và tích cực tham gia thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, nhận thức về công tác vận động quần chúng và quan điểm công tác dân vận của Đảng chưa thật sự thấm nhuần trong một số cán bộ, đảng viên. Tổ chức bộ máy và cán bộ Mặt trận, đoàn thể các cấp chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới; nhiều nơi thiếu cán bộ mà không có nguồn để bổ sung, kế thừa; còn biểu hiện lúng túng về nội dung, phương thức hoạt động; những mô hình, phong trào tốt chưa được nhân rộng kịp thời. Về phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 1996 – 2000, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận, đoàn thể và thường xuyên củng cố tổ chức, nhất là ở cơ sở để “nắm dân và chăm lo, bảo vệ các lợi ích thiết thân, chính đáng của nhân dân”. Mặt trận Tổ quốc tiếp tục thực hiện tinh thần Nghị quyết 07 Bộ Chính trị, củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết; tập hợp và phát huy tiềm năng, trí tuệ của các tầng lớp nhân dân, đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân  đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, tổ tự quản; làm tốt hơn nữa công tác dân tộc, tôn giáo; xây dựng Mặt trận các cấp thể hiện đầy đủ là tổ chức chính trị – xã hội rộng rãi nhất.

Trong năm 1997, Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các ban, ngành liên quan tập trung giúp tôn giáo Cao Đài Tây Ninh tổ chức Đại hội Nhơn sanh, Đại hội Hội thánh lần thứ I (nhiệm kỳ 1997 – 2002),  xây dựng Hiến chương của đạo. Kết quả là Cao Đài Tây Ninh tổ chức thành công các đại hội, được Nhà nước công nhận Pháp nhân và phê duyệt Hiến chương Đại đạo tam kỳ phổ độ Toà thánh Tây Ninh. Đó là cơ sở để Cao Đài Tây Ninh tổ chức thành công đại hội các nhiệm kỳ tiếp theo (2002 – 2007, 2007 – 2012) và sửa đổi, bổ sung Hiến chương của đạo.

Tháng 10/1998, Ông Nguyễn Thống, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận tỉnh khoá V từ trần. Ông Huỳnh Trung Chánh, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng ban Ban Dân vận Tỉnh uỷ được cử kiêm nhiệm Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đến tháng 7/1999.

  1. ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TỈNH TÂY NINH LẦN THỨ VI (NHIỆM KỲ 1999-2004)

Đại hội được tiến hành trong các ngày 16 và 17/7/1999. Đại hội diễn ra trong bối cảnh quân và dân cả nước nói chung, tỉnh nhà nói riêng, đang phấn khởi và hưởng ứng thực hiện các phong trào hành động ở địa phương, thiết thực lập thành tích chào mừng Đại hội V Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chào mừng liên hoan toàn quốc các đơn vị, cá nhân tiên tiến trong phong trào xây dựng Khu dân cư – Ấp văn hoá, tiến tới Đại hội liên hoan các anh hùng, chiến sĩ thi đua cấp tỉnh và toàn quốc.

Đến dự đại hội có Ông Trần Đông Phong, Uỷ viên thường trực Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bà Nguyễn Thị Minh, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; Ông Hồ Thanh Tuyên, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội (khoá X) tỉnh Tây Ninh; đại diện Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tiền Giang, Lâm Đồng.

Đại hội có mặt 300/303 đại biểu chính thức được triệu tập đại diện cho khối đại đoàn kết các tầng lớp nhân dân tỉnh nhà.

Đại hội đã tập trung thảo luận và thông qua Báo cáo của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh nhiệm kỳ V (1994-1999) và phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 1999-2004.

+ Về tình hình khối đại đoàn kết toàn dân và kết quả đổi mới phương thức hoạt động, củng cố tăng cường tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh nhiệm kỳ 1994-1999, Đại hội đã thống nhất nhận định, đánh giá như sau:

Đời sống các tầng lớp nhân dân từng bước được cải thiện, có bộ phận vươn lên khá giàu. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong nội địa và trên tuyến biên giới được đảm bảo ổn định. Đồng bào tín đồ Cao Đài Tây Ninh rất phấn khởi tiếp nhận pháp nhân của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận và cho phép hoạt động trong phạm vi cả nước, bầu lại Hội đồng Chưởng quản Hội thánh Cao Đài Tây Ninh nhiệm kỳ mới, được phép công cử chức sắc để bổ sung hàng ngũ giáo phẩm. Uỷ ban Đoàn kết Công giáo tỉnh, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh tổ chức đại hội nhiệm kỳ mới; Ban Chỉnh đạo Cao Đài Bến Tre thành lập Ban Đại diện tỉnh. Những sự kiện trên là điều kiện cơ bản để các tôn giáo yên tâm tu hành và hưởng ứng thực hiện các mục tiêu kinh tế – văn hoá – xã hội, quốc phòng – an ninh. Đồng bào dân tộc ít người được quan tâm chăm sóc, nâng dần đời sống vật chất lẫn tinh thần. Người Tây Ninh định cư ở nước ngoài ngày càng về thăm quê nhiều hơn, đã am hiểu và thấy rõ những chuyển biến tích cực và những thành tựu đổi mới của tỉnh nhà.

Song, trong nhân dân cũng còn nhiều băn khoăn, lo lắng. Việc cải cách hành chính trong hệ thống chính quyền tiến hành còn chậm, thiếu đồng bộ, gây phiền hà cho nhân dân. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân còn tồn đọng; việc chấp hành và tổ chức thực hiện pháp luật chưa nghiêm. Vấn đề suy thoái đạo đức trong xã hội, tệ tham nhũng, quan liêu và các tệ nạn khác đã tác động không tốt đến tâm tư, tình cảm của các tầng lớp nhân dân. Một số lĩnh vực xã hội như y tế, giáo dục chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.

Trong nhiệm kỳ, hoạt động của Mặt trận các cấp đạt kết quả trên nhiều lĩnh vực. Phối hợp tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp nhiệm kỳ 1994-1999 và bầu cử Quốc hội khoá X (nhiệm kỳ 1997-2002), đảm bảo dân chủ, đúng luật, số cử tri đi bầu đạt tỷ lệ cao (bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp đạt 98,18%, bầu cử Quốc hội đạt 99,68%). Mối quan hệ giữa Mặt trận với Hội đồng nhân dân có bước chuyển biến mới, đó là việc ban hành và thực hiện tốt quy chế phối hợp hoạt động, tạo ra hiệu quả tích cực. Phối hợp tổ chức tiếp xúc cử tri 8.081 cuộc, có 493.120 lượt cử tri dự, gấp rưỡi nhiệm kỳ trước. Tổ chức nhiều đợt giám sát trên các lĩnh vực góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; qua giám sát, Mặt trận đã đề nghị miễn nhiệm 2 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, 39 đại biểu cấp xã và khen thưởng 63 cá nhân, 10 tập thể Hội đồng nhân dân các cấp. Mặt trận và các Ban Thanh tra nhân dân tham gia hoà giải, góp phần giải quyết có kết quả các đơn khiếu nại, tố cáo của công dân, đã kiến nghị xem xét lại nhiều quyết định chưa phù hợp được Uỷ ban nhân dân ghi nhận, xử lý thu hồi. Phối hợp triển khai phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở Khu dân cư – Ấp văn hoá”. Thực hiện Thông tri 04-TT/MTTW ngày 3/5/1995 của Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Trung ương về việc hướng dẫn cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”, Mặt trận tỉnh đã tham mưu Tỉnh uỷ ban hành công văn 198-CV/TU, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Chỉ thị 23-CT/UB và quyết định thành lập Ban Chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”, gọi tắt là “Ban Chỉ đạo 04” (đến năm 1998, gắn với việc xây dựng Ấp văn hoá theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII) ngày 16/7/1998 về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nên phong trào này có tên là “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư – ấp văn hoá”). Thực hiện phong trào này, trong nhiệm kỳ đã vận động các tầng lớp nhân dân đóng góp được trên 31 tỷ đồng tương trợ nhau giải quyết khó khăn trong cuộc sống; huy động trên 20 tỷ đồng giúp cho 33.604 đối tượng không tính lãi để sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho 12.942 người; vận động cứu trợ thiên tai trong và ngoài tỉnh 4,2 tỷ đồng, giúp nhân dân Cu ba 1,4 tỷ đồng; thực hiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, đã xây dựng các công trình phúc lợi công cộng trị giá trên 46 tỷ đồng. Phối hợp vận động và cùng với Nhà nước tặng 84 sổ tiết kiệm tình nghĩa trị giá 88,5 triệu đồng, xây tặng 672 căn nhà tình nghĩa trị giá gần 11 tỷ đồng, sửa chữa 221 căn trị giá trên 1,1 tỷ đồng, phụng dưỡng 109 mẹ Việt Nam anh hùng, thực hiện chính sách hậu phương quân đội trên 4,3 tỷ đồng. Phong trào “Ông bà cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền” được hưởng ứng rộng rãi. Đã bình chọn và công nhận 2.952 “Ông bà cha mẹ mẫu mực”, 1.961 “Con cháu thảo hiền”, 872 “gia đình mẫu mực”.

Phối hợp với các ngành liên quan tổ chức hội nghị tiếp xúc định kỳ với chức sắc các tôn giáo để triển khai chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; đồng thời, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các tôn giáo để đề xuất giải quyết và tham gia giải quyết. Trong dịp Tết Nguyên đán và các ngày lễ hội tôn giáo, Mặt trận tham mưu thành lập các đoàn gồm lảnh đạo Đảng, chính quyền, các đoàn thể…thăm các chức sắc tiêu biểu, dự lễ, phát biểu chúc mừng; các tôn giáo tham dự các cuộc mít tinh do Đảng, chính quyền tổ chức và tổ chức các đoàn đến chúc mừng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đơn vị lực lượng vũ trang… nhân các ngày lễ lớn của dân tộc.

Tổ chức họp mặt đầu xuân với các nhân sĩ, trí thức, công-nông-thương gia, Việt kiều và thân nhân để thông báo tình hình tỉnh nhà và nắm bắt tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Lực lượng người cao tuổi được Mặt trận quan tâm hướng dẫn, tạo điều kiện hoạt động. Đã có 86/89 (96,62%) xã thành lập Hội Người Cao tuổi, phát triển 61.230/85.355 (71,73%) cụ vào Hội; vận động quỹ “Toàn dân chăm sóc phụ lão” được trên 747 triệu, đã chi chăm sóc cho 20.463 cụ, phối hợp địa phương tổ chức cho 189 cụ tham quan trong và ngoài tỉnh; thành lập 21 câu lạc bộ dưỡng sinh, cờ tướng, cây cảnh, thơ ca, văn nghệ và 99 tụ điểm sinh hoạt giải trí. Nhân kỷ niệm Ngày Quốc tế Người Cao tuổi (1/10) hằng năm, Ban Đại diện Người Cao tuổi tỉnh phối hợp với Sở Thể dục thể thao tổ chức cho các Câu lạc bộ dưỡng sinh các huyện thi đấu, biểu diễn, tổ chức giao lưu với các tỉnh bạn.

Thực hiện phương châm chuyển công tác Mặt trận hướng về cơ sở, Mặt trận thường xuyên củng cố, nâng chất các Ban Công tác Mặt trận, xây dựng các Tổ dân cư tự quản, Khu dân cư và tăng cường các Ban Thanh tra nhân dân; công tác chỉ đạo, hướng dẫn và thông tin 2 chiều được thực hiện tốt, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh. Công tác tập huấn, bồi dưỡng cán bộ Mặt trận hằng năm đạt kết quả tốt.

Phương thức hoạt động được đổi mới tạo sự chuyển biến về phối hợp thống nhất hành động giữa Mặt trận với các tổ chức thành viên, các ngành, chính quyền; thực hiện một bước mở rộng, đi sâu vào từng giai tầng, từng cá nhân tiêu biểu, qua đó đã tập hợp, vận động phát huy tiềm năng, huy động các nguồn lực ở địa phương.

Tổ chức Mặt trận ở cơ sở từng bước được củng cố, nâng chất lượng hoạt động, các xã (phường, thị trấn) đạt loại khá, mạnh tăng, thu hẹp diện xã trung bình, yếu kém. Hằng năm đều bổ sung, điều chỉnh thang điểm thi đua, tổ chức ký giao ước thi đua và tiến hành kiểm tra, xếp loại, rút kinh nghiệm hoạt động.

Với những thành tích hoạt động nêu trên, Mặt trận Trung ương đã tặng 107 bằng khen, Mặt trận tỉnh tặng 576 bằng khen cho tập thể và cá nhân, có 218 cá nhân được trao tặng huy chương “Vì sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc”. Đặc biệt, Mặt trận tỉnh Tây Ninh được Hội đồng nhà nước trao tặng Huân chương lao động hạng II.

Song, công tác Mặt trận chưa đáp ứng yêu cầu tình hình mới. Nổi lên là việc phối hợp thống nhất hành động với chính quyền, các ngành, các tổ chức thành viên một số nơi chưa thường xuyên, thiếu đồng bộ; hoạt động giám sát chưa được phát huy tốt. Cơ cấu Uỷ ban Mặt trận chưa thu hút được nhiều người tiêu biểu tham gia, chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ. Công tác vận động các tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào chưa đồng bộ; chưa có biện pháp phù hợp để phát huy trí tuệ, huy động các nguồn lực; một số địa phương chưa tham gia giải quyết tốt các nguyện vọng chính đáng, những băn khoăn của nhân dân.

Nguyên nhân của những yếu kém nêu trên, trước hết là từng nơi, từng lúc chính sách và công tác Mặt trận chưa được sự quan tâm đúng mức, chưa trở thành nhiệm vụ thường xuyên của các tổ chức trong hệ thống chính trị; một bộ phận trong cộng đồng xã hội chưa hiểu hết vai trò Mặt trận, chưa hiểu sâu chính sách đại đoàn kết toàn dân. Một số chủ trương, chính sách chưa phù hợp chậm được sửa đổi; cơ sở pháp lý cho Mặt trận chưa đảm bảo nên từng lúc có biểu hiện chưa thống nhất cao trong thực hiện chương trình hành động của Mặt trận. Năng lực, trình độ cán bộ Mặt trận chưa đáp ứng yêu cầu, một số còn tự ti, thụ động; một số nơi cán bộ chuyên trách luôn thay đổi, chưa xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên sâu, chưa quan tâm đúng mức lực lượng cộng tác viên, chuyên gia trên các lĩnh vực. Điều kiện, phương tiện hoạt động còn hạn chế; chế độ, chính sách có chỗ chưa hợp lý.

Đại hội đã đúc kết 4 bài học kinh nghiệm, khái quát lại là:

Một là, không ngừng củng cố, mở rộng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo sự nhất trí cao giữa các thành viên Mặt trận cùng thống nhất chương trình hành động, phát huy sức mạnh tổng hợp và tinh thần làm chủ của các tầng lớp nhân dân.

Hai là, không ngừng mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất trên nền tảng liên minh công nhân – nông dân và tầng lớp trí thức. Đây là nguyên tắc quan trọng tạo nòng cốt vững chắc để thu hút mọi giai tầng trong xã hội, hình thành khối đại đoàn kết rộng lớn, đa dạng. Đi đôi với hướng về cơ sở và khu dân cư, cần coi trọng vai trò các cá nhân tiêu biểu, có uy tín trong xã hội; xây dựng lực lượng không chuyên trách, cộng tác viên. Thường xuyên chăm lo bộ máy tổ chức và cán bộ; bồi dưỡng, huấn luyện, hướng dẫn cho đội ngũ cán bộ Mặt trận biết việc và biết cách làm, kịp thời phản ánh và đề xuất giải pháp để Đảng, chính quyền giải quyết những khó khăn, bức xúc và nguyện vọng của nhân dân.

Ba là, vận dụng hợp lý chức năng phối hợp thống nhất hành động vào điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương. Công tác phối hợp phải đồng bộ, thống nhất xuyên suốt từ tỉnh đến cơ sở và khu dân cư, giữa Mặt trận với chính quyền và giữa Mặt trận với các tổ chức thành viên trên cơ sở xây dựng quy chế hoạt động, chương trình liên tịch; định kỳ sơ tổng kết, rút kinh nghiệm, kịp thời động viên khen thưởng, nhân điển hình. Các ngành, các cấp, các tổ chức thành viên phải có sự chỉ đạo, hướng dẫn cấp dưới thực hiện nội dung chương trình phối hợp.

Bốn là, tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng về công tác Mặt trận; nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên về vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận dân tộc thống nhất trong giai đoạn mới. Mặt trận các cấp góp phần tham gia xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân, tham gia xây dựng các chủ trương, chính sách phù hợp lòng dân và phối hợp triển khai, vận động nhân dân thực hiện.

+ Về phương hướng, nhiệm vụ công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh nhiệm kỳ VI (1999-2004).

Đại hội đã nhận định những thuận lợi trong giai đoạn 1999-2004 là, khối đoàn kết toàn dân luôn được củng cố và tăng cường dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh. Nhà nước pháp quyền của nhân dân ngày càng vững mạnh, hiệu quả quản lý  Nhà nước trên các lĩnh vực được nâng cao. Các tầng lớp nhân dân cần kiệm, sáng tạo, chịu khó khắc phục khó khăn để vươn lên. Cơ cấu kinh tế phát triển đúng hướng, có tiềm năng lao động, đất đai, các cây con thế mạnh là những cơ sở quan trọng để phát triển kinh tế.

Mặt hạn chế là, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng kịp với nhu cầu phát triển, quá trình chuyển đổi kinh tế còn nhiều vấn đề cần khắc phục. Các tệ nạn xã hội, buôn lậu, tham nhũng, suy thoái đạo đức, khiếu nại,tố cáo của dân còn nhiều vụ việc chậm giải quyết đã tác động không ít đến tâm tư, tình cảm của nhân dân.

Từ những nhận định trên, Đại hội đã xác định nhiệm vụ chung cho giai đoạn 1999-2004 như sau:

Bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân trên nền tảng liên minh công nhân – nông dân và tầng lớp trí thức thành khối đại đoàn kết toàn dân, tạo ra phong trào thi đua yêu nước sôi nổi phấn đấu hoàn thành các chương trình kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh nhà, tiến tới mừng công năm 2000.

Mở rộng đại đoàn kết toàn dân phát huy các nguồn lực, tạo điều kiện để mọi người đem hết khả năng, trí tuệ làm giàu chính đáng cho gia đình và xã hội.

Nâng cao ý chí tự lực, tự cường, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đảm bảo thực hiện tốt quy chế dân chủ, tập trung xây dựng Khu dân cư – Ấp văn hoá. Giử vững ổn định chính trị, nâng cao ý thức pháp luật, làm tốt vai trò cầu nối giữa nhân dân với Đảng và chính quyền.

Tập trung xây dựng, củng cố bộ máy Mặt trận đủ sức thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ trong tình hình mới. Phát huy những thành tựu, kinh nghiệm trong quá trình đổi mới, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả nội dung, phương thức hoạt động ngày càng thoả mãn hơn nữa những nhu cầu chính đáng về dân sinh, dân trí, dân chủ.

Để thực hiện nhiệm vụ chung đạt hiệu quả, cần tập trung vào những nhiệm vụ cụ thể sau:

– Tiếp tục giữ vững và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi mục tiêu chung “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”.

Tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; nghiêm chỉnh thi hành hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, chính quyền; tham gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước.

Đoàn kết chăm lo đời sống nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số về vật chất lẫn tinh thần bằng những chủ trương, chính sách phù hợp, nâng cao chất lượng cuộc sống, khắc phục dần tình trạng lạc hậu, nghèo khó, xây dựng xã hội lành mạnh, lối sống văn minh, hạnh phúc.

Tăng cường đoàn kết lương giáo, vận động và hướng dẫn các tôn giáo hoạt động đảm bảo đúng luật, thực hiện những việc làm tốt đời đẹp đạo, phê phán những hoạt động mê tín dị đoan; lắng nghe những nguyện vọng chính đáng để phản ánh với Đảng và chính quyền kịp thời xem xét giải quyết.

Tạo điều kiện để người cao tuổi “sống vui, sống khoẻ, sống có ích cho xã hội”. Tiếp tục nhân điển hình “Ông bà cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền”, tuyên truyền truyền thống “Kính lão đắc thọ” của nhân dân ta. Phối hợp với các ngành chức năng kịp thời phát huy có hiệu quả năng lực của các vị nhân sĩ, trí thức, công-nông-thương gia đóng góp xây dựng tỉnh nhà. Phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đề ra các nội dung xây dựng Khu dân cư – Ấp văn hoá, phong trào bảo vệ trật tự trị an và xây dựng quốc phòng toàn dân. Tuyên truyền, giải thích chủ trương, chính sách để người Việt Nam quê Tây Ninh đang định cư ở nước ngoài hiểu rõ và yên tâm góp phần xây dựng quê hương.

– Phát động phong trào thi đua yêu nước, cần kiệm xây dựng, bảo vệ đất nước và tỉnh nhà.

Vận động các cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ cải tiến kỹ thuật, áp dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm. Tiếp tục cơ giới hoá nông nghiệp, sữ dụng giống mới, bảo vệ cây trồng vật nuôi, đẩy mạnh công tác khuyến nông, tập trung vào những cây con thế mạnh, đảm bảo sản xuất có hiệu quả.

Thực hành tiết kiệm để tập trung vốn cho sản xuất, phát động thành phong trào rộng rãi “Cơ quan tiết kiệm, nhà nhà tiết kiệm, người người tiết kiệm”.

– Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong việc tham gia xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.

Mặt trận thể hiện tốt vai trò, chức năng trong công tác bầu cử đại biểu dân cử, đảm bảo dân chủ, đúng luật, đúng quy trình hiệp thương, quyền tự do ứng cử và bầu cử của nhân dân; giám sát, đề nghị bãi miễn những đại biểu không còn đủ tư cách; tổ chức các cuộc tiếp xúc cử tri, tập hợp, phản ánh và trả lời đầy đủ, có trách nhiệm đối với các ý kiến của cử tri. Trước mắt, tổ chức tốt cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp vào cuối năm 1999.

Tổ chức tốt các cuộc lấy ý kiến đóng góp các dự án luật, chủ trương, chính sách và vận động nhân dân tham gia thực hiện. Tiếp tục củng cố, đẩy mạnh hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân. Tổ chức triển khai, thực hiện tốt Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị và Nghị định 29-NĐ/CP, Nghị định 71-NĐ/CP, Nghị định 07-NĐ/CP về thực hiện Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở; phát huy tinh thần làm chủ của nhân dân, thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trên các mặt; tạo thành phong trào quần chúng mạnh mẽ đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu và bài trừ các tệ nạn xã hội.

– Tăng cường mở rộng hoạt động đối ngoại nhân dân.

Đoàn kết với nhân dân các nước là nội dung quan trọng trong chủ trương đại đoàn kết của Mặt trận. Thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân củng cố tình đoàn kết, hoà bình, hữu nghị với nhân dân các nước, nhất là với Campuchia.

– Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở Khu dân cư – Ấp văn hoá” theo 6 nội dung của Mặt trận Trung ương đề ra  gắn với những nội dung của Nghị quyết V Ban Chấp hành Trung ương về cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá.

Đoàn kết giúp đở lẫn nhau phát triển kinh tế, phấn đấu kéo giãm tỷ lệ hộ nghèo, tăng hộ khá, hộ giàu; huy động mọi thành phần kinh tế, nhiều nguồn lực để phát triển kinh tế làm giàu cho gia đình và góp phần làm giàu cho đất nước.

Đoàn kết phát huy truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, bằng chính sách của Nhà nước và xã hội hoá tham gia thực hiện “Đền ơn đáp nghĩa” đảm bảo các đồi tượng chính sách đều được chăm lo; phát huy hữu hiệu hoạt động của các tổ chức từ thiện xã hội, của các tôn giáo thực hiện phong trào đoàn kết tương trợ giúp các gia đình khó khăn.

Đoàn kết phát huy dân chủ, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, vận động phong trào toàn dân “Sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật”, hoà giải tốt những mâu thuẩn ở khu dân cư trên tinh thần tình làng nghĩa xóm. Thực hiện tốt Nghị quyết 09-NQ/CP của Chính phủ về tăng cường công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới, Quyết định 138-QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình quốc gia phòng chống tội phạm và đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân tham gia quản lý, giáo dục, cảm hoá những người lầm lỗi ở cộng đồng dân cư.

Đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá lành mạnh, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, tiếp thu có chọn lọc nền văn hoá các dân tộc trên thế giới. Đặc biệt, lưu tâm đến việc khôi phục, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc ít người. Đảm bảo thực hiện 3 công trình vệ sinh, bảo vệ môi trường, hỗ trợ phương tiện nghe nhìn và sinh hoạt văn nghệ – thể thao ở các cụm dân cư đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu, biên giới. Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh tại các công trình tín ngưỡng tôn giáo.

Đoàn kết chăm lo sự nghiệp giáo dục, đảm bảo các em đến tuổi được huy động ra lớp và duy trì sỉ số cuối năm; nâng trình độ học vấn con em dân tộc ít người lên trung học, đại học. Mọi trẻ em được uống và tiêm phòng đúng lịch; thường xuyên chăm sóc sức khoẻ cho các đối tượng chính sách, người cao tuổi, dân nghèo; đảm bảo các khu dân cư đồng bào dân tộc ít người không có dịch bệnh xãy ra, vận động thực hiện kế hoạch hoá gia đình, không sinh con thứ 3.

Đoàn kết xây dựng chính quyền vững mạnh, xây dựng cán bộ gương mẫu “cần – kiệm – liêm chính – chí công – vô tư”. Phát động nhân dân phát huy tinh thần làm chủ trong bầu cử đại biểu dân cử, giám sát các hoạt động của đại biểu dân cử. Đẩy mạnh hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân trong chống tiêu cực, quan liêu, ức hiếp quần chúng; xã hội hoá toàn dân chống buôn lậu, bài trừ tệ nạn xã hội.

– Tiếp tục củng cố tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động, đẩy mạnh, đổi mới phương thức hoạt động Mặt trận.

Mở rộng Uỷ ban Mặt trận theo hướng tăng thêm cá nhân tiêu biểu, thiết thực trong các giai tầng xã hội; củng cố, kiện toàn các ban chuyên môn, bộ máy mặt trận cơ sở, khu dân cư; xây dựng lực lượng cộng tác viên, chuyên gia tư vấn các lĩnh vực. Tăng cường công tác bồi dưỡng cán bộ mặt trận, nhất là cấp huyện, thị, cơ sở, khu dân cư. Thường xuyên kiểm tra, kịp thời chấn chỉnh công tác chỉ đạo cho sát thực tế.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện quy chế hoạt động giữa Mặt trận với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân. Nâng cao công tác phối hợp giữa Mặt trận với các ngành chức năng, các tổ chức thành viên. Kịp thời sơ tổng kết rút kinh nghiệm, nhân rộng điển hình; đẩy mạnh phong trào thi đua, biểu dương, khen thưởng người tốt, việc tốt.

Tiếp tục hướng công tác Mặt trận về cơ sở, khu dân cư và hộ gia đình. Tăng cường đổi mới phương thức hoạt động; Uỷ ban Mặt trận và các tổ chức thành viên đề ra chương trình, kế hoạch thống nhất hoạt động tạo thành phong trào các mạng rộng rãi của quần chúng.

Phấn đấu đến năm 2004 số hộ đăng ký thực hiện gia đình văn hoá từ 70% trở lên, được xét công nhận 80% số đăng ký; xây dựng 3 khu dân cư dân tộc, 6 khu dân cư vùng tôn giáo xuất sắc, tiên tiến có nếp sống văn minh, đời sống khá; toàn tỉnh xây dựng 100 khu dân cư, trong đó, 50% khu dân cư xuất sắc (10% trong số đó đạt tiêu chuẩn ấp văn hoá), 30% khu dân cư tiên tiến, 20% khu dân cư đạt yêu cầu.

Phát biểu trước Đại hội, ông Trần Đông Phong, Uỷ viên thường trực Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đánh giá “…Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh đã phát huy tốt vai trò là tổ chức chính trị rộng lớn, liên hiệp tự nguyện của các đoàn thể nhân dân, các hội quần chúng, các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và đã có nhiều đóng góp to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở tỉnh nhà…”. Đồng thời, ông cũng nêu một số điểm cần quan tâm khi xây dựng phương hướng, nhiệm vụ cho nhiệm kỳ mới.

Phát biểu chỉ đạo Đại hội, bà Nguyễn Thị Minh, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh đã đánh giá cao những hoạt động của Mặt trận nhiệm kỳ qua và tán thành phương hướng, nhiệm vụ mà Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh đề ra cho nhiệm kỳ 1999-2004. Bà nêu lên một số vấn đề cần quan tâm:

Tôn chỉ và mục đích cao nhất của Uỷ ban Mặt trận các cấp đều phải hướng vào việc tập hợp và vận động các giai cấp, mọi tầng lớp trong toàn xã hội ra sức tổ chức thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, từng bước đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, chuyên quyền, độc đoán, hách dịnh, xa rời quần chúng, tạo ra động lực mạnh mẽ trong nhân dân, góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới trên địa bàn tỉnh thành công.

Mặt trận Tổ quốc các cấp cần không ngừng đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, ra sức phấn đấu nhiều hơn nữa nhằm đưa khối đại đoàn kết toàn dân trong tỉnh lên tầm cao và chiều sâu mới, góp phần phục vụ đắc lực công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá của địa phương.

Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư – ấp văn hoá” gắn với những nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) là chủ trương hoàn toàn đúng và hết sức thiết thực trong công cuộc đổi mới và phát huy dân chủ. Một trong những biện pháp quan trọng giúp cuộc vận động thành công chính là phải thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.

Mặt trận Tổ quốc các cấp cần phối hợp các ngành hữu quan thực hiện tốt hơn nữa các chủ trương của Đảng về tôn giáo, luật pháp và chính sách cụ thể của Nhà nước về tôn giáo, đảm bảo thực hiện tốt quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng; tôn trọng và khuyến khích phát huy những giá trị văn hoá đạo đức tốt đẹp của tôn giáo, chống mọi biểu hiện, hành vi vi phạm tự do tín ngưỡng hoặc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.

Nhiệm vụ của nhiệm kỳ mới hết sức nặng nề và đầy khó khăn, phức tạp, nó đòi hỏi các thành viên trong Ủy ban – nhất là các vị trong Ban Thường trực phải nêu cao tinh thần đoàn kết, phát huy dân chủ, đồng tâm hiệp lực, toàn tâm toàn ý vì sự nghiệp chung – tất cả vì khối đại đoàn kết toàn dân – thì mới có thể hoàn thành tốt trọng trách.

Nhân dịp này, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tây Ninh trân trọng trao tặng Đại hội bức trướng mang dòng chữ “ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHÁT HUY CÁC NGUỒN LỰC, CẦN KIỆM XÂY DỰNG TÂY NINH GIÀU ĐẸP, VĂN MINH, HẠNH PHÚC”.

Đại hội đã nghe 12 bài tham luận của các đại biểu đại diện cho các ngành, lĩnh vực, tôn giáo, dân tộc nhằm làm sáng tỏ thêm những vấn đề trong Báo cáo nhiệm kỳ của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh khoá V.

Đại hội đã nghe Báo cáo kiểm điểm của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh khoá V (nhiệm kỳ 1994-1999) và hiệp thương thống nhất cử ra 59 vị uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh khoá VI (nhiệm kỳ 1999-2004). Ông Dương Thanh Hồng, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ được cử làm Chủ tịch; các Phó Chủ tịch gồm Ông Nguyễn Văn Bênh, Huỳnh Văn Đẹp, Phan Văn Thái, Bà Trương Thị Trạng, Bà Nguyễn Thị Bạch Mai và Ông Hồ Ngọc Thơ (không chuyên trách).

Ngày 17/5/2000, hội nghị lần thứ 3 Uỷ ban Mặt trận tỉnh khoá VII bầu Ông Nguyễn Văn Bênh, Phó Chủ tịch Mặt trận tỉnh giữ chức vụ Chủ tịch do Ông Dương Thanh Hồng chuyển sang công tác khác.

Tháng 1/2001, Đảng bộ tỉnh tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2001 – 2005. Đại hội đánh giá, Mặt trận và các đoàn thể có nhiều cố gắng trong đổi mới nội dung, phương thức hoạt động nên củng cố được tổ chức, tập hợp được quần chúng, phát triển các phong trào, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, đời sống nhân dân được nâng lên, dân chủ được phát huy. Khối đại đoàn kết toàn dân được mở rộng, khối liên minh công nông và trí thức được củng cố. Bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của công dân. Đồng bào các dân tộc ít người được quan tâm chăm sóc, hoà nhập tốt hơn vào cộng đồng. Tuy nhiên, các phong trào quần chúng chưa có sức bền và chưa vận động được đông đảo quần chúng tham gia; chưa kết hợp tốt mục tiêu chính trị và mục tiêu kinh tế trong một số chương trình, dự án.

Nhiệm vụ trọng tâm công tác vận động quần chúng thời kỳ 2001 – 2005 là củng cố, mở rộng đoàn kết các tầng lớp nhân dân. Bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, Mặt trận Tổ quốc tăng cường mở rộng đoàn kết toàn dân, phát huy các nguồn lực tạo ra phong trào thi đua yêu nước, hoàn thành các chương trình kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng tỉnh nhà và làm giàu chính đáng cho gia đình, bản thân. Xây dựng, củng cố bộ máy Mặt trận các cấp đủ sức thực hiện vai trò, nhiệm vụ trong xu thế phát triển chung.

Đến giữa tháng 7/2001 Uỷ ban Mặt trận tỉnh khoá VI thay đổi 11 trường hợp: 1 Phó Chủ tịch chuyển sang Hội Người Cao tuổi, 1 Phó Chủ tịch không chuyên trách đại diện Cao Đài Tây Ninh và 1 uỷ viên từ trần, 1 uỷ viên đại diện Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh nghỉ hưu, 7 Uỷ viên là Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận huyện, thị chuyển công tác khác. Ngày 16/7/2001, hội nghị lần thứ 5 Uỷ ban Mặt trận tỉnh thống nhất bầu bổ sung 10 uỷ viên (1 đại diện tôn giáo Cao Đài Tây Ninh, 7 uỷ viên là Chủ tịch Mặt trận huyện, thị và 1 uỷ viên Ban Thường trực).

Ngày 24/7/2001, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận tỉnh báo cáo tổng kết 10 năm công tác thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn. Thực hiện Thông tri 08/TT/MTTW ngày 25/11/1991 của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận các cấp trong tỉnh tiến hành thành lập Ban Thanh tra nhân dân; Mặt trận tỉnh phối hợp với Thanh tra Nhà nước tỉnh hướng dẫn tổ chức ở mỗi huyện, thị thành lập 1 Ban Thanh tra nhân dân cấp xã làm điểm, sau đó triển khai ra diện rộng. Đến năm 1996, toàn tỉnh đã thành lập được 65/86 Ban Thanh tra nhân dân, đạt 75,5%, có 5% Ban hoạt động khá, 50% Ban trung bình, còn lại hoạt động yếu. Đến năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định 29 về việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn, Mặt trận tỉnh phối hợp Thanh tra tỉnh tập huấn, hướng dẫn Ban Thanh tra nhân dân hoạt động giám sát theo 10 nội dung Nghị định 29. Việc thường xuyên củng cố, tổ chức tập huấn, hoạt động của các Ban Thanh tra nhân dân từng bước được nâng lên. Năm 2000, các Ban Thanh tra nhân dân đã giám sát 1.278/2.225 đơn khiếu nại, tố cáo của nhân dân (chiếm 57,4%); tiến hành hoà giải 914/1.278 vụ (chiếm 71%) góp phần kéo giãm đơn thư khiếu tố vượt cấp; tiến hành giám sát 2.225 vụ việc, phát hiện và kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét 836 vụ việc có dấu hiệu vi phạm. Tuy nhiên, hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân chưa đều, chưa đủ mạnh để hoàn thành nhiệm vụ.

Ngày 4/9/2001, Ban Thường trực Mặt trận tỉnh báo cáo kết quả phối hợp thực hiện Kế hoạch 30-KH/TU ngày 21/6/1994 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ thực hiện Nghị quyết 07-NQ/TW ngày 17/11/1993 của Bộ Chính trị về “Đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất”. Các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo tỏ ra hết sức phấn khởi sau khi học tập Nghị quyết của Bộ Chính trị và Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, nhất là giới trí thức, Việt kiều, người tham gia chế độ cũ, qua đó đã tích cực tham gia các phong trào hành động cách mạng.

Người Hoa ở Tây Ninh chiếm khoảng 0,65% dân số toàn tỉnh, sống rải rác khắp các huyện, thị, hoà nhập tốt với cộng đồng dân cư. Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, Mặt trận các cấp rất chú trọng công tác người Hoa. Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 62-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VII) về tăng cường công tác người Hoa trong tình hình mới ngày 19/11/2001 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã nhận định, các cấp uỷ, chính quyền, mặt trận, đoàn thể có sự chuyển biến về nhận thức đối với người Hoa và công tác người Hoa; có nhiều người Hoa tham gia công tác ở các cơ quan chính quyền, Mặt trận, đoàn thể; một số công tác tốt được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 5/2002, Tỉnh uỷ Tây Ninh tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8B (khoá VI) về “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân” và các Nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị về công tác dân vận, mặt trận, dân tộc và tôn giáo trong thời kỳ đổi mới, đã nhận định: cơ cấu giai cấp – xã hội tỉnh ta có sự thay đổi, xuất hiện và phát triển mạnh mẽ một số tầng lớp, giới, hình thành nên một cộng đồng dân cư đa dạng; tâm trạng chính trị – xã hội của các tầng lớp nhân dân cơ bản là ổn định, diễn biến theo xu hướng tích cực là chính; các phong trào quần chúng được đông đảo nhân dân hưởng ứng, đem lại kết quả thiết thực trên nhiều lĩnh vực; hệ thống chính trị trong tỉnh có nhiều cố gắng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đạt nhiều tiến bộ trong công tác vận động quần chúng; đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận thường xuyên được bổ sung, được quan tâm bồi dưỡng, đào tạo.

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của xã hội, dưới sự tác động của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, trong nhân dân có những diễn biến phức tạp cã về cơ cấu lẫn tâm trạng chính trị – xã hội, những yếu tố tích cực và tiêu cực đan xen nhau. Đa số nhân dân quan tâm, lo lắng trước sự tụt hậu về kinh tế của tỉnh so với khu vực; bất bình, bất an trước tệ quan liêu, tham nhũng, tệ nạn xã hội…Theo Ban Chỉ đạo phòng chống tệ nạn tỉnh thì năm 1999 có 417 người sữ dụng ma tuý, năm 2000 có trên 1.000 người; năm 2000 có 48 xã (phường, thị trấn) có người sữ dụng ma tuý thì năm 2001 có 64 xã; theo điều tra năm 1977 toàn tỉnh có khoảng 1.000 gái mại dâm; từ năm 1993 đến tháng 12/2000 toàn tỉnh có 2.111 phụ nữ lấy chồng nước ngoài, chủ yếu là Đài Loan (Trung quốc). Từng lúc, từng nơi, Mặt trận, đoàn thể còn nặng về hành chính; nội dung, phương thức hoạt động còn xơ cứng.

Ngày 30/9/2002, Uỷ ban Mặt trận tỉnh Báo cáo tổng kết 10 năm hoạt động Ban Công tác Mặt trận và Tổ dân cư tự quản. Đại hội Mặt trận Tổ quốc tỉnh lần thứ IV (nhiệm kỳ 1989-1994) đã đề ra nhiệm vụ triển khai đại trà việc thành lập các Ban Công tác Mặt trận ấp, khu phố theo quy định tại Điều 10, Chương III Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 1990, Ban Thường trực Mặt trận tỉnh phối hợp Công an tỉnh chọn ấp Thạnh Hiệp (xã Thạnh Tân, huyện Hoà Thành, nay thuộc Thị xã) làm thí điểm xây dựng mô hình Tổ dân cư tự quản (gọi tắt là Tổ tự quản) và xác định đây cũng là Tổ Công tác Mặt trận. Đến năm 1995, 465/465 ấp, khu phố đã xây dựng được Ban Công tác Mặt trận; đến cuối năm 1997 hoàn thành việc thành lập Tổ dân cư tự quản trên toàn tỉnh (4.045 tổ). Hằng năm, Uỷ ban Mặt trận tỉnh đặc biệt quan tâm đưa vào Chương trình công tác nội dung củng cố, nâng chất lượng Ban Công tác Mặt trận và Tổ dân cư tự quản. Qua 10 năm triển khai thực hiện, cơ bản đã xác lập được tổ chức Mặt trận dưới cấp cơ sở; Ban Công tác Mặt trận và Tổ dân cư tự quản là nòng cốt phối hợp trong cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” gắn với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; công tác tuyên truyền, vận động nhân dân được phối hợp triển khai thực hiện khá tốt ở khu dân cư, đưa được chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước đến với nhân dân, tập hợp được ý kiến đóng góp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân để phản ánh với Đảng, Nhà nước; chất lượng các cuộc vận động, các loại nghĩa vụ, việc chăm lo đời sống cho nhân dân tốt hơn. Tuy nhiên, một số nơi thành viên Ban Công tác Mặt trận và Tổ dân cư tự quản không đủ số lượng theo quy định, năng lực có hạn nên lúng túng trong công việc, việc phối hợp hoạt động thiếu đồng bộ.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) và Nghị quyết Đại hội lần thứ VII Đảng bộ tỉnh, trên cơ sở tổng kết 10 năm hoạt động Ban Công tác Mặt trận và Tổ dân cư tự quản, ngày 30/9/2002 Uỷ ban Mặt trận tỉnh ban hành Đề án “Củng cố, nâng chất lượng Ban Công tác Mặt trận và Tổ dân cư tự quản đến năm 2005” với mục đích góp phần xây dựng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh; đồng thời, thực hiện tốt quá trình đổi mới tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận; đẩy mạnh việc thực hiện phương châm tập trung cho cơ sở, hướng về khu dân cư đến hộ gia đình và từng người dân trên địa bàn dân cư; phát huy quyền dân chủ ở cơ sở, nâng cao chất lượng tự quản trên các lĩnh vực. Yêu cầu là cần xác định, nắm vững vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, nội dung, phương thức hoạt động và thường xuyên, liên tục củng cố, nâng chất lượng của Ban Công tác Mặt trận và Tổ dân cư tự quản.

Để đáp ứng mục đích, yêu cầu nêu trên, đề án nêu ra 3 nội dung trọng tâm là:

Củng cố, nâng chất lượng về tổ chức bộ máy.

Củng cố, nâng chất lượng nội dung hoạt động.

Củng cố, nâng chất lượng về phương thức hoạt động.

Đến tháng 1/2003, Uỷ ban Mặt trận tỉnh khoá VI có sự thay đổi như sau: 1 Phó Chủ tịch và 1 uỷ viên Ban Thường trực chuyển công tác khác, 4 uỷ viên đại diện các đoàn thể tỉnh không còn giữ chức vụ chủ chốt, 2 uỷ viên xin thôi tham gia Uỷ ban; do vậy, ngày 13/1/2003, hội nghị lần thứ 8 Uỷ ban Mặt trận tỉnh thống nhất bầu bổ sung 2 Phó Chủ tịch (1 Phó Chủ tịch chuyên trách và 1 Phó Chủ tịch không chuyên trách đại diện tôn giáo Cao Đài Tây Ninh), 3 uỷ viên Ban Thường trực.

Ngày 25/4/2003, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Chương trình hành động thực hiện các Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, “Về công tác tôn giáo”, “Về công tác dân tộc”. Theo đó, các cấp phải củng cố, kiện toàn bộ máy và tăng cường cán bộ có năng lực cho mặt trận, đoàn thể; mặt trận, đoàn thể phải đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân.

  1. ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TỈNH TÂY NINH LẦN THỨ VII (NHIỆM KỲ 2004-2009)

Đại hội được tiến hành vào ngày 29 và 30/12/2003, đến dự Đại hội có Ông Lê Minh Hiền, Uỷ viên Ban Thường trực Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Ông Hồ Thanh Tuyên, Bí thư Tỉnh uỷ Tây Ninh; Ông Nguyễn Văn Tiến, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Với khẩu hiệu “ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, PHÁT HUY CÁC NGUỒN LỰC, CẦN KIỆM XÂY DỰNG TÂY NINH GIÀU ĐẸP, VĂN MINH, HẠNH PHÚC”, Đại hội đã nghe và thảo luận thống nhất Báo cáo tổng kết đánh giá kết quả thực hiện phương hướng, nhiệm vụ và chương trình hành động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh khoá VI, nhiệm kỳ 1999-2004; đề ra chương trình phối hợp thống nhất hành động nhiệm kỳ 2004-2009; hiệp thương dân chủ cử ra Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh khoá VII.

Về tình hình khối đại đoàn kết toàn dân tộc và kết quả thực hiện chương trình phối hợp thống nhất hành động nhiệm kỳ 1999-2004, đại hội đã đánh giá như sau:

Mặt trận các cấp phối hợp với các tổ chức thành viên, các ngành liên quan triển khai thực hiện chương trình hành động do Đại hội VI Mặt trận tỉnh đề ra được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, tham gia mang lại nhiều thành tựu khả quan, góp phần hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế – xã hội của tỉnh; đời sống các tầng lớp nhân dân ổn định và tiếp tục được cải thiện. Nhìn chung, các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo tiếp tục khẳng định niềm tin vào sự lãnh đạo và đường lối đổi mới của Đảng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được mở rộng trên nền tảng liên minh công – nông – trí thức là nhân tố quan trọng góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo sự an tâm, phấn khởi phát huy tính năng động, sáng tạo, tập trung trí tuệ, các nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội, đóng góp to lớn vào sự thành công của tiến trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá tỉnh nhà; đời sống vật chất, tinh thần các tầng lớp nhân dân ngày càng được cải thiện, nâng cao.

Song, trong nhân dân còn nhiều vấn đề đáng quan tâm. Tác động của cơ chế thị trường tạo nên sự phân hoá giàu nghèo; nhân dân bất bình, lo lắng trước những biểu hiện tham nhũng, cửa quyền, mất dân chủ; các tệ nạn xã hội, tội phạm…ảnh hưởng đến an sinh xã hội; trình độ am hiểu luật pháp, ý thức công dân, ý thức chấp hành kỷ cương, chính sách, pháp luật trong một bộ phận nhân dân còn yếu; lối sống thực dụng, ích kỷ, chạy theo đồng tiền còn diễn ra nơi này nơi khác; việc tập hợp nhân dân của Mặt trận và các tổ chức thành viên còn nhiều hạn chế…

Trong nhiệm kỳ, Mặt trận các cấp đã tập trung củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đa dạng hoá các hình thức tập hợp các tầng lớp nhân dân Đã phát triển thêm các tổ chức thành viên như Hội Khuyến học, Hội Y Dược học, Hội Tem, Ban Liên lạc thân nhân Việt kiều, Hội các doanh nghiệp trẻ, các Hội Cựu học sinh, Hội Đồng hương…, nâng tổng số đoàn thể, hội quần chúng trong tỉnh lên 50. Từng bước nâng chất lượng, cải tiến nội dung các cuộc họp, tăng cường hội thảo các chuyên đề; hình thành các tổ chức tư vấn, mở rộng đội ngũ cộng tác viên. Đẩy mạnh thực hiện đề án nâng chất lượng Ban Công tác Mặt trận, Tổ dân cư tự quản. Đã xây dựng 486 Ban Công tác Mặt trận, 414 (85,53%) Ban mạnh, 68 (14,04%) Ban khá, 2 (0,41) Ban trung bình; trong 4.485 Tổ dân cư tự quản, có 3.203 (71,41%) Tổ mạnh, 1.232 (27,46%) Tổ khá, 50 (1,11%) Tổ trung bình. Thành lập 112 tổ chức tư vấn trên các lĩnh vực. Phối hợp tổ chức 92 lớp tập huấn, bồi dưỡng cho 6.716 cán bộ mặt trận các cấp và thành viên Ban Công tác Mặt trận, Tổ dân cư tự quản, Thanh tra nhân dân, Ban Vận động khu dân cư – ấp văn hoá. Nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” gắn với thực hiện quy chế dân chủ, các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu “4 giãm” của tỉnh. Toàn tỉnh đã hoàn thành xây dựng 489 khu dân cư/486 ấp, khu phố, đạt chỉ tiêu nhiệm kỳ, trong đó có 305 (62,37%) khu dân cư xuất sắc, 115 (23,51%) khu tiên tiến, 19 (3,9%) khu khá, 5 (1%) khu mới thành lập không xếp loại. Đã công nhận 45 ấp văn hoá trên tổng số 181 khu dân cư xuất sắc đăng ký xây dựng, trong đó có 5 ấp vùng dân tộc thiểu số, 14 ấp vùng đồng bào tôn giáo. Vận động đoàn kết tương trợ giúp gần 54.000 hộ giải quyết khó khăn, tai nạn đột xuất với số tiền trên 13 tỷ đồng; huy động tương trợ vốn không tính lãi gần 20 tỷ đồng hổ trợ cho trên 34.000 hộ; vận động tạo việc làm cho trên 62.000 lao động thời vụ góp phần hạ tỷ lệ thất nghiệp còn 4,5%, giãm tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chuẩn Trung ương) từ 4,6% (năm 2000) xuống còn 2,38% (năm 2002). Thực hiện phương châm “xã hội hoá công tác xã hội”, đã vận động nhân dân đóng góp trên 18 tỷ đồng để thực hiện các công trình phúc lợi, vận động cứu trợ thiên tai gần 6,5 tỷ đồng, gây quỹ Hội từ thiện tỉnh trên 4 tỷ đồng. Vận động xây tặng 1.198 nhà tình nghĩa (tăng 526 căn so nhiệm kỳ trước) trị giá trên 21 tỷ đồng, sửa chữa 196 căn trị giá gần 560 triệu đồng, tặng sổ tiết kiệm trị giá 59,8 triệu đồng, thăm hỏi và tặng quà các đối tượng chính sách trên 2,3 tỷ đồng. Vận động quỹ “Ngày vì người nghèo” trên 21,5 tỷ đồng, chi xây tặng 1.914 nhà tình thương trị giá trên 8,6 tỷ đồng, sửa chữa 525 căn trị giá 820 triệu đồng. Vận động tôn hoá cho 6.545 hộ nghèo trị giá 19,6 tỷ đồng; cứu trợ hộ nghèo, khám chữa bệnh cho người nghèo, tàn tật mồ côi, neo đơn…trị giá gần 3 tỷ đồng. Triển khai thực hiện đạt kết quả tốt các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu “4 giãm” của tỉnh, cảm hoá 2.405 đối tượng hoà nhập cộng đồng. Phối hợp ngành công an tổng kết 10 năm thực hiện nghị quyết liên tịch về phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc trong thời kỳ mới. Phối hợp Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh triển khai thực hiện kế hoạch tổ chức Ngày biên phòng toàn dân, thực hiện các hoạt động đối ngoại nhân dân, làm công tác dân vận, giữ gìn an ninh trật tự, chống buôn lậu…Phối hợp chặt chẽ với ngành Văn hoá – Thông tin và các tổ chức thành viên triển khai vận động xây dựng gia đình văn hoá mới, có 188.106/214.000 hộ (87,90%) đăng ký, vượt 7,90% chỉ tiêu nhiệm kỳ; được công nhận 150.031/188.106 hộ, đạt tỷ lệ 79,75%, vượt 9,75% so chỉ tiêu; tổ chức liên hoan, biểu dương điển hình người tốt, việc tốt; bình chọn 20.612 điển hình “Ông bà cha mẹ mẫu mực” (tăng 17.662 điển hình so nhiệm kỳ trước), 3.552 điển hình “Con cháu thảo hiền” (tăng 1.592 điển hình so nhiệm kỳ trước); tổ chức liên hoan ca múa nhạc truyền thống các dân tộc…Phối hợp vận động nhân dân hưởng ứng thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở và tiểu học, tổ chức được 162 lớp với 7.432 học sinh, 38 lớp học tình thương có 766 học sinh, xây dựng quỹ khuyến học được trên 198 triệu đồng, quỹ “Ngày vì người nghèo” hỗ trợ cho 60.000 học sinh nghèo đến trường với số tiền 5 tỷ đồng. Phối hợp ngành Y tế, Hội Đông y, Hội Chữ thập đỏ…tổ chức khám trị bệnh miễn phí cho 286.908 lượt người với số tiền gần 2,8 tỷ đồng, vận động 63.812 lượt người đăng ký thực hiện kế hoạch hoá gia đình. Tổng số tiền huy động trong nhân dân thực hiện xã hội hoá trên các lĩnh vực gần 126,6 tỷ đồng, tăng 7,6 tỷ đồng so nhiệm kỳ trước.

Thành tựu quan trọng của nhiệm kỳ là Mặt trận các cấp phối hợp triển khai đạt chỉ tiêu đề án đẩy mạnh nâng chất lượng khu dân cư – ấp văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào có đạo và đề án “Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh tại các công trình tín ngưỡng tôn giáo”; phối hợp giúp các tôn giáo tổ chức đại hội theo nhiệm kỳ.

Tham gia tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp nhiệm kỳ 1999-2004, bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XI nhiệm kỳ 2002-2007, tỷ lệ cử tri đi bầu đạt tỷ cao. Qua theo dõi, giám sát, Mặt trận các cấp đã đề nghị khen thưởng 51 tập thể và 251 cá nhân xuất sắc; đề nghị bãi nhiệm 26 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã. Tập trung củng cố, nâng chất lượng hoạt động các Ban Thanh tra nhân dân; phối hợp với Thanh tra nhà nước tổ chức 92 cuộc tập huấn nghiệp vụ cho 646 cán bộ thanh tra nhân dân; các Ban thanh tra nhân dân tổ chức giám sát 1.702 công trình xây dựng của xã, ấp phát hiện và kiến nghị xử lý nhiều vi phạm.

Về phương thức hoạt động, tập trung cải tiến, nâng chất lượng công tác thi đua khen thưởng trong hệ thống Mặt trận; thang điểm thi đua được điều chỉnh, bổ sung hằng năm. Các huyện nhiều năm đạt loại mạnh là Trảng Bàng, Gò Dầu, Thị xã, Hoà Thành. Mặt trận tỉnh tặng 889 bằng khen cho 461 tập thể và 428 cá nhân, tặng 26 cờ thi đua cho các đơn vị có thành tích xuất sắc; Mặt trận Trung ương tặng 76 bằng khen cho 37 tập thể và 39 cá nhân, 186 huy chương “Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân”. Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng III cho Mặt trận huyện Hoà Thành.

Đại hội đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm, khái quát như sau:

Một là, quán triệt và tăng cường mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công – nông – trí, xem đây là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp tạo điều kiện của chính quyền, các ngành chức năng và các tổ chức thành viên Mặt trận là nhân tố rất quan trọng tác động đến việc tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung và công tác mặt trận nói riêng.

Ba là, bản thân cán bộ Mặt trận các cấp phải không ngừng phấn đấu khắc phục khó khăn tự vươn lên, chủ động tự nâng cao trình độ, sáng tạo trong công việc. Tổ chức Mặt trận thực hiện tốt vai trò chủ trì phối hợp thống nhất hành động, là nơi Đảng hiệp thương dân chủ với các tầng lớp nhân dân; đa dạng hoá các hình thức tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân.

Bốn là, phong trào xây dựng khu dân cư – ấp văn hoá phải gắn với việc thực hiện đầy đủ quy chế dân chủ ở cơ sở, các chương trình mục tiêu quốc gia và mục tiêu “4 giãm” của tỉnh; thực hiện tốt những việc cần đưa ra dân bàn, nhất là giải quyết các vấn đề bức xúc, thiết thực của cuộc sống hàng ngày.

Năm là, phát động phong trào thi đua tạo khí thế sôi nổi, thường xuyên sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, phát hiện gương người tốt việc tốt, các mô hình mới để biểu dương, khen thưởng, nhân rộng.

+ Đại hội đã xác định mục tiêu, chương trình phối hợp thống nhất hành động nhiệm kỳ 2004-2009 như sau:

Nhiệm vụ chung là “Tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, mở rộng và đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong các tầng lớp nhân dân, xây dựng, phát triển tổ chức Mặt trận, tập trung cho cơ sở, hướng về khu dân cư, đến hộ gia đình và từng người dân. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận, thúc đẩy mạnh mẽ thực hiện quy chế dân chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, giữ gìn kỷ cương phép nước, thực hiện sống và làm việc theo pháp luật, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh. Mở rộng hoạt động đối ngoại nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát huy trí tuệ, tập trung các nguồn lực của khối đại đoàn kết toàn dân tộc tỉnh nhà, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ chung nêu trên, Đại hội đề ra chương trình phối hợp thống nhất hành động nhiệm kỳ 2004-2009 với các nội dung chính như sau:

Tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao vai trò của Mặt trận, tập trung trí tuệ và các nguồn lực đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh nhà vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trên nền tảng liên minh công nhân – nông dân và đội ngũ trí thức, Mặt trận đa dạng hoá các hình thức tập hợp vừa bằng tổ chức vừa bằng phong trào, vận động nhân dân gắn bó hơn với các tổ chức đoàn thể. Trao đổi thông tin với các tổ chức tự nguyện theo truyền thống và sở thích như các hội nghề nghiệp, tộc họ, đồng hương, các câu lạc bộ…, tạo điều kiện cho các tổ chức này tham gia hoạt động chung của Mặt trận. Củng cố, nâng chất lượng hoạt động của các tổ chức tư vấn và mở rộng đội ngũ cộng tác viên, xây dựng nòng cốt tiêu biểu trong giới trí thức, công – nông – thương gia, người cao tuổi, người về hưu, già làng dân tộc, chức sắc tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và thân nhân trong tỉnh. Phối hợp với các ngành chức năng đề xuất với Đảng và Nhà nước đề ra các chủ trương, chính sách phù hợp, kịp thời phát huy có hiệu quả vai trò của nhân sĩ, trí thức, công – nông – thưong – kỹ nghệ gia.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động thực hiện đưa các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc vào cuộc sống. Đối tượng tập trung thực hiện công tác truyên truyển là các tầng lớp nhân dân ở khu dân cư, hộ gia đình. Chú ý cải tiến nội dung tuyên truyền ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ và tổ chức cho nhân dân tự nguyện đăng ký thực hiện. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tin đại chúng, củng cố chuyên mục “Đoàn kết xây dựng xóm làng” trên Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh, phối hợp Báo Tây Ninh thực hiện chuyên mục về thông tin công tác Mặt trận.

Phối hợp với các cơ quan Nhà nước phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia xây dựng, củng cố chính quyền trong sạch vững mạnh, của dân, do dân và vì dân. Thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận tham gia công tác bầu cử, giám sát đại biểu dân cử đảm bảo dân chủ, đúng luật; cải tiến việc phối hợp tổ chức  cho đại biểu dân cử tiếp xúc cử tri; thực hiện có hiệu quả quy chế phối hợp hoạt động giữa Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân với Mặt trận các cấp. Nâng cao vai trò Mặt trận trong việc tổ chức đóng góp ý kiến vào các dự án luật, pháp lệnh và các văn bản pháp quy; tuyên truyền, phổ biến và vận động nhân dân “Sống và làm việc theo pháp luật”; nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân để phản ánh và đề xuất Đảng, chính quyền giải quyết. Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động thực hiện đúng, đầy đủ về quy chế dân chủ ở cơ sở; giám sát các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết kiến nghị của cử tri, khiếu tố của công dân và thực hiện các chủ trương, chính sách, chương trình, dự án. Phối hợp với chính quyền tập trung củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân xã (phường, thị trấn).

Tiếp tục đẩy mạnh các cuộc vận động do Mặt trận chủ trì thực hiện như cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” ở khu dân cư, “Ngày vì người nghèo”, quỹ xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, chương trình tôn hoá, các chương trình mục tiêu quốc gia…Phát động phong trào thi đua yêu nuớc, cần kiệm xây dựng quê hương. Sơ kết đề án “Phối hợp nâng cao chất lượng cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” ở khu dân cư gắn với thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu “4 giãm” của tỉnh. Mặt trận tập trung thực hiện xây dựng khu dân cư không có người mắc tệ nạn xã hội, phạm tội và 2 đề án: “Xây dựng xã, phường, thị trấn, cơ quan, đơn vị không có tội phạm và người nghiện ma tuý (2002-2005)”, “Phát động toàn dân tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác tội phạm, cảm hoá, giáo dục, cải tạo người phạm tội tại gia đình và cộng đồng dân cư”. Phát động phong trào “Toàn dân tham gia làm kinh tế giỏi” và phong trào “Toàn xã hội học tập, tôn vinh người tốt, việc tốt”.

Thi đua thực hiện chỉ tiêu xây dựng Khu dân cư – Ấp văn hoá như sau:

Khu dân cư tiên tiến trên 80%, trong đó có 60% đăng ký xây dựng ấp, khu phố văn hoá.

Khu dân cư khá dưới 15%.

Khu dân cư đạt yêu cầu dưới 5%.

Ấp văn hoá đạt 40% trên tổng số đăng ký; trong đó, có 10 ấp văn hoá vùng dân tộc, 30 ấp văn hoá vùng tôn giáo.

Về công tác tôn giáo, dân tộc. Tăng cường hoạt động phối hợp tuyên truyền chủ trương, chính sách về tôn giáo; hướng dẫn các tôn giáo hành đạo đúng pháp luật, đoàn kết giữa các tôn giáo, đoàn kết lương giáo. Tổ chức triển khai thực hiện đề án “Công tác vận động chức sắc các tôn giáo, già làng các dân tộc thiểu số trong tình hình mới”, đề án “Vận động phát huy giá trị đạo đức tôn giáo vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đề án “Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh tại các công trình tín ngưỡng tôn giáo”. Tiếp tục thực hiện định kỳ tiếp xúc chức sắc tôn giáo, già làng dân tộc thiểu số; tổ chức các hình thức tham quan, về nguồn, trao đổi kinh nghiệm cho các chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo tiêu biểu, già làng dân tộc thiểu số. Phối hợp vận động, tạo điều kiện giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; phát động phong trào “Người dân tộc thiểu số sản xuất giỏi, làm công tác xã hội tốt”.

Mở rộng công tác đối ngoại nhân dân. Tập trung tuyên truyền về quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước; kiến nghị với Nhà nước xây dựng quy chế đối ngoại nhân dân. Xây dựng đề án vận động cộng đồng người Việt Nam quê Tây Ninh định cư ở nước ngoài, nhất là trí thức. Trước mắt, thực hiện có hiệu quả đề án hoạt động đối ngoại nhân dân với mục tiêu vận động nhân dân vùng biên giới giáp với Campuchia; tổ chức cho các tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào đấu tranh vì hoà bình, ổn định và phát triển của các dân tộc trên thế giới và khu vực.

– Tiếp tục củng cố, tăng cường tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong tỉnh, đáp ứng các yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Về tổ chức bộ máy, mở rộng và tăng thêm số lượng, thành phần cá nhân tiêu biểu, chuyên gia tham gia vào Uỷ ban Mặt trận các cấp; xây dựng bộ máy chuyên trách tinh gọn, chuyên sâu đảm bảo thực hiện tốt chức năng tham mưu, hướng dẫn công tác Mặt trận; củng cố, sữ dụng hiệu quả các tổ chức tư vấn, đội ngũ cộng tác viên. Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Mặt trận, nhất là cán bộ cấp cơ sở, Ban công tác Mặt trận, Tổ dân cư tự quản; thực hiện đổi mới bồi dưỡng cán bộ theo hình thức hội nghị chuyên đề, trao đổi, học tập các điển hình; công tác đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với công tác quy hoạch cán bộ.

Về đổi mới phương thức hoạt động, theo hướng nâng cao chất lượng các hội nghị toàn thể Uỷ ban Mặt trận, tổ chức tốt các hoạt động tư vấn và tăng cường mối quan hệ giữa các uỷ viên Uỷ ban với Ban Thường trực, phát huy vai trò tích cực của mỗi uỷ viên đối với công việc chung của Mặt trận; xây dựng và thực hiện tốt quy chế hoạt động của Uỷ ban Mặt trận. Tiếp tục hướng mạnh công tác Mặt trận về địa bàn dân cư, hộ gia đình, đến từng người dân; chọn khu dân cư, tổ dân cư tự quản làm nơi triển khai tổ chức thực hiện và đánh giá hiệu quả phong trào. Hoàn thiện các hình thức phối hợp thực hiện công tác Mặt trận theo hướng ký kết văn bản liên tịch, quy chế phối hợp…Chủ động tham mưu cho Đảng về công tác Mặt trận; rút kinh nghiệm và nâng chất lượng công tác phối hợp hoạt động với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các ngành chức năng và tổ chức thành viên. Cải tiến lề lối làm việc, tăng cường hướng dẫn, kiểm tra cơ sở; xây dựng chế độ thông tin, báo cáo đảm bảo kịp thời, chính xác. Nâng chất lượng công tác thi đua, khen thưởng; kịp thời sơ kết, tổng kết, biểu dương, khen thưởng, nhân rộng điển hình.

Phát biểu tại Đại hội, Ông Lê Minh Hiền, Uỷ viên thường trực Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đánh giá cao những kết quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh và chỉ ra những mặt còn hạn chế, đó là chất lượng, hiệu quả của một số cuộc vận động, một số phong trào chưa đều; việc nhân rộng và phát huy các điển hình tiên tiến chưa được quan tâm đúng mức; lực lượng cán bộ Mặt trận thiếu về số lượng, hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ; quan điểm, nhận thức ở một số cấp uỷ Đảng và chính quyền về công tác Mặt trận còn hạn chế.

Phát biểu chỉ đạo Đại hội, Ông Hồ Thanh Tuyên, Bí thư Tỉnh uỷ đã nêu  khái quát những thắng lợi của tỉnh qua 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII và đánh giá “…Hoà trong thắng lợi chung đó, trong nhiệm kỳ qua, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh đã có bước trưởng thành nhanh chóng, hoạt động đúng hướng có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, Mặt trận luôn đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, chủ trì phối hợp với các ngành, các tổ chức thành viên; củng cố, nâng cao chất lượng Ban công tác Mặt trận, tổ dân cư tự quản là cơ sở để đưa nội dung công tác Mặt trận đến khu dân cư và từng người dân; thành lập các tổ chức tư vấn, mở rộng đội ngũ cộng tác viên, chuyên gia tư vấn Mặt trận trên các lĩnh vực; đa dạng hoá các hình thức tập hợp quần chúng vừa bằng tổ chức, vừa thông qua các phong trào thi đua yêu nước…Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã tổ chức và tham gia nhiều hoạt động thiết thực, góp phần tuyên truyền đường lối, quan điểm đổi mới của Đảng, tích cực tham gia xây dựng chính quyền và các đoàn thể chính trị – xã hội các cấp vững mạnh; gương mẫu thực hiện và vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội mà đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII đề ra…”.

Bên cạnh những thành tích đã đạt được, Ông Hồ Thanh Tuyên cũng chỉ ra những hạn chế, yếu kém. Đó là, hoạt động của Mặt trận tuy có nhiều chuyển biến tốt, nhưng nhìn chung chưa đồng bộ, chưa thật sự vững chắc; trình độ, năng lực một bộ phận cán bộ, nhất là ở cơ sở chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới, thiếu cán bộ chuyên sâu và có kinh nghiệm. Chất lượng, hiệu quả một số phong trào chưa cao. Việc tham mưu, đề xuất với cấp uỷ có lúc chưa đầy đủ, thiếu kịp thời. Việc tổng kết rút kinh nghiệm, khen thưởng, nhân điển hình còn hạn chế và không kịp thời.

Đối với hoạt động Mặt trận thời gian tới, Ông Hồ Thanh Tuyên trao đổi với đại hội một số vấn đề có tính chất cốt lỏi như sau:

Một là, Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh phải tập trung củng cố, nâng cao chất lượng các Ban công tác Mặt trận, Tổ dân cư tự quản là cơ sở để đưa nội dung công tác Mặt trận đến địa bàn dân cư, từng hộ gia đình và từng người dân. Ban công tác Mặt trận mạnh, Tổ dân cư tự quản mạnh thì mới phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở từng xóm ấp, mới có thể vận động nhân dân tham gia xây dựng Đảng và chính quyền vững mạnh.

Hai là, Mặt trận các cấp trong tỉnh phải thường xuyên củng cố, kiện toàn tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Thực hiện đa dạng hoá các hình thức đoàn kết, tập hợp nhân dân. Thường xuyên chăm lo xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Mặt trận có phẩm chất và năng lực hoạt động. Thực hiện tốt công tác tham mưu bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ về công tác Mặt trận.

Ba là, các hoạt động của Mặt trận phải bảo đảm sự phối hợp thống nhất, chặt chẽ, đồng bộ giữa Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp với các ngành chức năng, các tổ chức thành viên. Các cấp uỷ Đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động Mặt trận; chính quyền và các ngành chức năng tạo điều kiện và thực hiện tốt việc phối hợp công tác với Mặt trận.

Thay mặt Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ông Hồ Thanh Tuyên trao tặng đại hội bức trướng mang dòng chữ “PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, THỰC HIỆN THẮNG LỢI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TỈNH NHÀ”.

Đại hội đã nghe 16 tham luận của các tổ chức thành viên, ngành liên quan, Mặt trận huyện, tổ chức tôn giáo, cá nhân tiêu biểu.

Đại hội đã nghe Báo cáo kiểm điểm của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Viêt Nam tỉnh Tây Ninh khoá VI (nhiệm kỳ 1999-2004) và hiệp thương dân chủ thống nhất cử 72 vị Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh khoá VII (nhiệm kỳ 2004-2009) là những đại biểu tiêu biểu của khối đại đoàn kết toàn dân tộc tỉnh nhà. Ông Nguyễn Văn Bênh, Tỉnh uỷ viên được cử làm Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh khoá VII; các Phó Chủ tịch chuyên trách gồm các ông: Lương Hoài Nhân, Huỳnh Văn Đẹp, Phan Văn Thái.

Tháng 1/2005, Ông Nguyễn Văn Bênh, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh khoá VII (nhiệm kỳ 2004-2009) chuyển sang công tác khác. Ông Phan Minh Đức, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng ban Ban Dân vận Tỉnh uỷ kiêm nhiệm chức vụ Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận tỉnh khoá VII.

Ngày 24/3/2005, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và Công an tỉnh sơ kết 4 năm thực hiện Nghị quyết liên tịch về sự phối hợp giữa Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh và Công an Tây Ninh trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc trong thời kỳ mới (2001-2004). Báo cáo sơ kết đánh giá kết quả như sau:

Về những mặt làm được, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, sự phối hợp của các ban, ngành, các tổ chức thành viên Mặt trận. Trong đó, Mặt trận Tổ quốc và Công an các cấp trong tỉnh thể hiện sự đồng tâm hiệp lực, đảm bảo vai trò tham mưu, hướng dẫn thực hiện; đặc biệt là sự đồng tình, hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân, của cán bộ, công nhân, viên chức. Những xã, phường, thị trấn và khu dân cư được chọn làm điểm về mô hình Tổ tự quản, khu dân cư – ấp văn hoá đã được củng cố vững chắc và hoạt động tốt. Nội dung phong trào luôn bám sát chủ trương của Đảng và Chính phủ. Xuất hiện nhiều phong trào như “Đoàn kết lương giáo, đấu tranh chống địch phá hoại chính sách đoàn kết của Đảng, Nhà nước”, “Phong trào phòng chống tội phạm, bài trừ tệ nạn xã hội”, “Phong trào lập lại kỷ cương xã hội”, “Phong trào xây dựng tuyến vành đai biên giới hữu nghị, đảm bảo an ninh trật tự”…

Công tác tuyên truyền, học tập và vận động quần chúng từ trong nội bộ đến địa bàn dân cư có chất lượng; Mặt trận các cấp đã phối hợp tuyên truyền trong nhân dân và các đối tượng Mặt trận phụ trách được 158.868 cuộc với 4.771.495 lượt người tham dự, phát 40.000 tài liệu tuyên truyền về phòng chống tội phạm, tổ chức 5.401 cuộc tiếp xúc cử tri với 322.097 lượt cử tri tham dự, tổ chức triển khai đóng góp trên 50 văn bản luật và dưới luật có 250 ý kiến đóng góp 480 nội dung.

Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được lồng ghép với phong trào cách mạng của từng ngành, đoàn thể; trong đó, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” có tác động hiệu quả. Mặt trận xã, phường, thị trấn và Ban Công tác Mặt trận ấp, khu phố tham gia công tác hoà giải ở cơ sở 3.803 vụ, hoà giải thành 2.273 vụ (đạt 59%), còn lại 1.530 vụ chuyển lên cấp trên giải quyết theo thẩm quyền. Nhân dân cung cấp cho lực lượng Công an 5.256 tin báo có giá trị giúp Công an điều tra khám phá 1.268 vụ với 1.697 đối tượng phạm tội, vận động 744 đối tượng ra đầu thú; lực lượng Công an cơ sở phối hợp với các đoàn thể lập hồ sơ giáo dục tại xã (phường, thị trấn) 1.281 đối tượng, 403 đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng, 692 lượt đối tượng cai nghiện ma tuý bắt buộc, chuyển 179 lượt gái mại dâm vào cơ sở chữa bệnh…

Về những mặt còn hạn chế, phong trào chưa đáp ứng kịp thời với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; chưa thường xuyên gắn kết, lồng ghép việc thực hiện Nghị quyết liên tịch với các chương trình hành động thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội. Còn không ít nơi cấp uỷ, chính quyền chưa quan tâm chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện nghị quyết; trình độ, năng lực cán bộ, nhất là ở cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu trong việc tổ chức thực hiện nghị quyết.

Công tác tuyên truyền, vận động ở một số nơi chưa thường xuyên, tài liệu phục vụ tuyên truyền chưa phân phối đầy đủ đến khu dân cư, tổ tự quản. Việc sơ kết, tổng kết phong trào và các chuyên đề chưa được tổ chức đầy đủ ở cấp huyện, thị, xã, phường, thị trấn.

Ngày 4/7/2005, Uỷ ban Mặt trận tỉnh báo cáo đánh giá 5 năm (2001-2005) thực hiện Quyết định 46/QĐ-CT ngày 1/3/2001 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc ban hành chương trình hành động phòng, chống ma tuý giai đoạn 2001-2005 trên địa bàn tỉnh. Để thực hiện quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Uỷ ban Mặt trận tỉnh đã xây dựng đề án “Xây dựng xã, phường, thị trấn, cơ quan, đơn vị không có tội phạm và người nghiện ma tuý (2002-2005)”, được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định 242/2002/QĐ-CT ngày 15/11/2002 và tổ chức triển khai trong hệ thống Mặt trận, các chức sắc tôn giáo, già làng dân tộc thiểu số. Ban Thường trực Mặt trận tỉnh chọn 26 xã, phường, thị trấn là điểm nóng ma tuý làm điểm chỉ đạo của tỉnh về tuyên truyền; phối hợp với ngành Công an tổ chức trang bị kiến thức nghiệp vụ; hướng dẫn Mặt trận xã, phường, thị trấn phối hợp Ban Chỉ đạo “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” cùng cấp đưa nội dung phòng, chống ma tuý vào quy ước của 491 khu dân cư; in ấn và cung cấp tài liệu tuyên truyền, sổ tay công tác Mặt trận, biểu mẫu khảo sát, tờ đăng ký cam kết đến khu dân cư.

Trong 5 năm, đã tổ chức truyên truyền trong các đối tượng Mặt trận phụ trách được 23.028 cuộc với 617.344 lượt người dự, tuyên truyền ở khu dân cư được 159.418 cuộc với 4.544.383 lượt người dự; 187.164/220.000 hộ đăng ký cam kết thực hiện. Phối hợp Công an thiết lập 130 hòm thư tố giác tội phạm ở khu dân cư, tiếp nhận hơn 3.000 nguồn tin, trong đó có nhiều tin có giá trị. Thông qua phát động hộ gia đình đăng ký “Gia đình không có con, em phạm tội ma tuý và nghiện ma tuý” đã xây dựng được 125 khu dân cư và 21 xã không có ma tuý; thực hiện được mục tiêu mỗi năm giãm từ 20 – 25% số người nghiện ma tuý và mục tiêu 70% số xã, phường, thị trấn không có người phạm tội ma tuý và nghiện ma tuý.

Tuy nhiên, còn 2 chỉ tiêu chưa đạt là chỉ tiêu 100% xã, phường, thị trấn không ma tuý, không phát sinh mới người nghiện ma tuý và chỉ tiêu hằng năm giãm tỷ lệ người tái nghiện tại cộng đồng dân cư còn 50%.

Thực hiện Hướng dẫn 07/HD-MTTW ngày 28/02/2005 của Ban Thường trực Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ngày 21/7/2005, Uỷ ban Mặt trận tỉnh tổng kết 5 năm phối hợp triển khai thực hiện cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”. Tóm tắt kết quả cuộc vận động như sau:

Thực hiện lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực Mặt trận tỉnh tham mưu với Thường trực Tỉnh uỷ  ban hành công văn lãnh đạo, chỉ đạo cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”; đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh cho phép thành lập Ban Vận động, chuẩn y Hội đồng quản lý quỹ “Vì người nghèo”, chuẩn y Điều lệ quản lý và sữ dụng quỹ “Vì người nghèo”.

Với nhiều nỗ lực, hệ thống Mặt trận và các tổ chức thành viên đã vận động được trên 89 tỷ đồng. Trong đó, xây tặng 3.429 căn nhà đại đoàn kết trị giá 21.412.950.000 đồng, trợ vốn không tính lãi cho 38.081 hộ thiếu vốn với số tiền 23.565.485.500 đồng, tương trợ 58.294 hộ gặp thiên tai, hoạn nạn với số tiền 17.786.126.000 đồng, giúp học sinh nghèo hiếu học 198.617.500 đồng, khám bệnh cấp thuốc miễn phí cho 365.684 người với số tiền 4.434.055.000 đồng…Song song đó, các huyện thị phối hợp vận động thực hiện chương trình tôn hoá cho hộ nghèo liền kề được 6.545 hộ với số tiền trên 19,6 tỷ đồng. Nhìn chung, sau 5 năm triển khai thực hiện cuộc vận động đã góp phần quan trọng kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh từ 6% năm 2001 xuống còn 3,66% năm 2004.

Cũng trong ngày 21/7/2005, Uỷ ban Mặt trận tỉnh Báo cáo tổng kết 10 năm cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” (tháng 5/1995-6/2005). Ban đầu cuộc vận động có tên “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”, đến năm 2002 đổi lại là “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Để thực hiện cuộc vận động, Mặt trận tỉnh đã tham mưu cho Tỉnh uỷ, phối hợp với Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành các văn bản chỉ đạo và đưa chỉ tiêu xây dựng khu dân cư – ấp văn hoá vào nghị quyết của Đảng bộ các cấp, thành lập Ban Chỉ đạo cuộc vận động từ tỉnh đến xã, xây dựng quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo, đề án thực hiện cuộc vận động cấp tỉnh được Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt.

Qua 10 năm thực hiện, những kết quả của cuộc vận động đã có tác động thiết thực, hiệu quả đến đời sống nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Cuộc vận động khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, xoá đói giãm nghèo đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân; nhiều hộ nghèo, các đối tượng thiếu việc làm được quan tâm giúp đở, tạo điều kiện từng bước khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống; nhân dân ở các khu dân cư có nhiều hoạt động phong phú góp phần phát huy truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, hoạt động từ thiện, nhân đạo; góp phần động viên nhân dân đoàn kết phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ cương, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; tạo ra sự chuyển biến quan trọng trong việc xây dựng đời sống văn hoá, nhân dân có nhận thức đúng đắn và trách nhiệm với sự phát triển xã hội trên nhiều mặt. Thông qua cuộc vận động, tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể ở cơ sở được củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động.

Tuy nhiên, cuộc vận động còn nhiều mặt hạn chế, ở một số địa phương sự phối hợp giữa Mặt trận và các ngành, các tổ chức thành viên chưa chặt chẽ, đồng bộ; Ban Chỉ đạo cấp cơ sở, Ban Vận động ở khu dân cư hoạt động chưa đều, thiếu sáng tạo; chưa quan tâm đầy đủ đến công tác tuyên truyền…Những điều kiện cần thiết đảm bảo cho cuộc vận động chưa đáp ứng yêu cầu.

Ngày 10/10/2005, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Báo cáo tổng kết 3 năm thực hiện đề án “Củng cố, nâng chất lượng hoạt động Ban Công tác Mặt trận, Tổ dân cư tự quản đến năm 2005” (Đề án 10/ĐA.MT ngày 1/11/2002). Qua 3 năm triển khai thực hiện đề án, nhận thức của hệ thống chính trị và trong nhân dân có bước chuyển biến tích cực, xác định được vị trí, vai trò của Ban – Tổ Công tác Mặt trận trong việc tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở địa phương. Các cấp uỷ Đảng đã thể hiện sự quan tâm tăng cường sự lãnh đạo; chính quyền, ban, ngành, đoàn thể tích cực ủng hộ, phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận các cấp thực hiện đề án. Ban Thường trực Mặt trận huyện, thị xã và cơ sở chủ động tham mưu cho cấp uỷ chỉ đạo xuyên suốt quá trình thực hiện, tạo sự chuyển biến đồng bộ, từng bước nâng dần về mặt chất lượng nên vị thế, vai trò của Ban, Tổ Công tác Mặt trận ngày càng được khẳng định trong hệ thống chính trị và trong đời sống xã hội. Thông qua hoạt động tuyên truyền, vận động của Ban, Tổ Công tác Mặt trận, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã đến với đa số hộ dân tại khu dân cư; nhiều Ban, Tổ Công tác Mặt trận thể hiện được vai trò nòng cốt trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và phản ánh cho cấp uỷ, chính quyền. Hoạt động của Ban, Tổ Công tác Mặt trận từng bước mang tính xã hội hoá, vừa đảm bảo tính cộng đồng dân cư, vừa đảm bảo tính tích cực chủ động phối hợp thống nhất hành động của Mặt trận; góp phần xây dựng, củng cố hệ thống chính trị và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương. Tuy nhiên, công tác tham mưu cho cấp uỷ chỉ đạo thực hiện đề án chưa đầy đủ, chưa kịp thời tháo gở khó khăn cho cơ sở, một số nơi sự phối hợp chưa đồng bộ. Còn 9,8% (48/489) Ban Công tác Mặt trận, 18,85% (931/4.937) Tổ dân cư tự quản sinh hoạt không thường xuyên, chưa duy trì được chế độ họp định kỳ; một số Ban, Tổ không xác định được nội dung chính, trọng tâm với công việc thường xuyên, không đề ra được chương trình hoạt động chi tiết. Phương thức hoạt động của Ban, Tổ Công tác Mặt trận chưa mang tính xã hội hoá, chưa đa dạng, linh hoạt trong việc phối hợp thống nhất hành động.

Từ ngày 20 – 23/12/2005, Đảng bộ tỉnh tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2005 – 2010. Đại hội đánh giá, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có nhiều cố gắng đổi mới phương thức và nội dung hoạt động theo hướng gần dân, tập trung cho cơ sở và tham gia giải quyết các yêu cầu thiết thực, bức xúc của nhân dân, tạo ra sự đồng thuận ngày càng cao trong cộng đồng dân cư. Phát động được nhiều phong trào thi đua yêu nước có hiệu quả thiết thực, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương. Bộ máy Mặt trận và đoàn thể các cấp thường xuyên được kiện toàn, từng bước thể hiện được vai trò giám sát và phản biện xã hội. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, mở rộng; tập hợp được khoảng 80% đối tượng cần tập hợp vào các tổ chức quần chúng. Song, đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, mặt trận, đoàn thể ở cơ sở có nơi chưa ngang tầm nhiệm vụ, thiếu ổn định. Vai trò tham mưu, đề xuất của Mặt trận, đoàn thể chưa mạnh, chưa kịp thời; tính đại diện và phản biện chưa rõ; phương thức hoạt động chưa thật phù hợp với từng đối tượng.

Nhiệm vụ trọng tâm công tác vận động quần chúng nhiệm kỳ 2005 – 2010 là hệ thống chính trị đổi mới phong cách công tác dân vận theo hướng trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin. Mặt trận và đoàn thể nhân dân tích cực đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở, về từng khu dân cư, từng gia đình và mỗi con người với những nội dung thiết thực, cụ thể. Triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án gắn với việc củng cố và phát triển tổ chức, đạt được các mục tiêu về chính trị, xã hội, phong trào và tổ chức. Mở rộng mặt trận tập hợp quần chúng, đa dạng hoá loại hình để tập hợp trên 80% quần chúng vào tổ chức.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII, ngày 3/5/2006, Tỉnh uỷ khoá VIII ban hành Nghị quyết 02-NQ/TU về công tác Dân vận giai đoạn 2006 – 2010. Theo đó, Tỉnh uỷ xác định công tác dân vận là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị phải đổi mới phong cách công tác dân vận theo hướng trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin. Tăng cường công tác dân vận của Đảng và của chính quyền; củng cố tổ chức bộ máy, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của mặt trận, đoàn thể. Không ngừng mở rộng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận cao trong cộng đồng dân cư; thực hiện xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững quốc phòng – an ninh, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng và đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh khoá VII; ngày 18/8/2006, Uỷ ban Mặt trận tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện “Phát huy giá trị đạo đức tôn giáo vào thực tiễn xây dựng khu dân cư, ấp (khu phố) văn hoá, vận động đồng bào có đạo xây dựng khu dân cư không có tệ nạn xã hội” với những nhiệm vụ là:

Vận động, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho chức sắc, nhà tu hành và quần chúng tín đồ. Phấn đấu có từ 80-90% chức sắc, giáo phẩm, tín đồ tôn giáo được nghiên cứu, học tập.

Tích cực hưởng ứng các phong trào vận động xã hội, đoàn kết tương trợ khó khăn, đóng góp công sức xây dựng các công trình phúc lợi xã hội.

Tham gia thực hiện các phong trào, các cuộc vận động, các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu “4 giãm” của tỉnh. Phấn đấu trong giáo xứ, giáo điểm, giáo họ, họ đạo không có tệ nạn mại dâm, ma tuý, mê tín dị đoan góp phần xây dựng địa phương, khu dân cư, tổ tự quản an toàn.

Tuyên truyền, vận động và hướng dẫn chức sắc, giáo phẩm và quần chúng tín đồ tham gia thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.

Xây dựng bộ máy tổ chức giáo hội cơ sở đoàn kết, chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, nêu gương tốt cho quần chúng tín đồ.

Mọi thành viên trong gia đình là những công dân tiêu biểu, phấn đấu giữ vững gia đình văn hoá hằng năm.

Ngày 10/11/2006, Uỷ ban Mặt trận tỉnh và Công an tỉnh tổng kết 12 năm phối hợp thực hiện Quyết định 428/QĐ-UB ngày 7/7/1994 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Tổ dân cư tự quản. Qua 12 năm thực hiện, Mặt trận và Công an các cấp thể hiện được vai trò nòng cốt, góp phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế – xã hội, giử vững an ninh trật tự tỉnh nhà, xây dựng được ý thức tự quản trong cộng đồng dân cư, mở rộng và thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo được sự đồng thuận trong xã hội, nâng cao tính cộng đồng trách nhiệm trong các tổ chức tôn giáo, phản ánh kịp thời những bức xúc của nhân dân cho cấp uỷ và chính quyền. Mô hình Tổ dân cư tự quản góp phần quan trọng vào việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận theo hướng chuyển mạnh về khu dân cư và đến hộ gia đình, góp phần đa dạng hoá các hình thức tập hợp các tầng lớp nhân dân và xây dựng thế trận an ninh nhân dân. Tuy nhiên, một số Tổ dân cư tự quản chưa thực hiện đầy đủ các nội dung hoạt động của tổ, có nơi chỉ dừng lại ở nội dung tự quản về an ninh trật tự.

Thực hiện hướng dẫn của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ngày 22/10/2007 Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận tỉnh tổng kết 2 năm thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức vụ chủ chốt do Hội đồng nhân dân xã bầu. Qua 2 năm thực hiện đã khẳng định được đây là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân. Thông qua việc lấy phiếu tín nhiệm, cấp uỷ có cơ sở đánh giá, quy hoạch, sử dụng cán bộ, góp phần xây dựng chính quyền cơ sở trong sạch vững mạnh; bản thân cán bộ có điều kiện gần dân, lắng nghe dân đóng góp, qua đó tự điều chỉnh, khắc phục những mặt yếu kém.

Ngày 9/11/2007, Uỷ ban Mặt trận tỉnh báo cáo kết quả 5 năm phối hợp triển khai thực hiện chương trình “4 giảm” của tỉnh. Sau khi có chương trình “4 giảm”, Mặt trận các cấp đã lồng ghép vào cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” để thực hiện; đến ngày 30/1/2004, hội nghị lần thứ 2 Uỷ ban Mặt trận tỉnh khoá VI đã ra nghị quyết chuyên đề về việc phối hợp thực hiện chương trình mục tiêu “4 giảm”. Thực hiện nghị quyết, Mặt trận các cấp tập trung xây dựng các mô hình mang lại hiệu quả thiết thực như các câu lạc bộ “Tư vấn pháp luật”, “Đồng cảm”, “Vì sự tiến bộ của thanh niên”, “Nhóm nòng cốt”…

Việc cưới, việc tang và lễ hội liên quan mật thiết với sinh hoạt của các tầng lớp nhân dân. Đối với Tây Ninh, một tỉnh có nhiều lễ hội của các tôn giáo, các dân tộc, việc tổ chức cưới hỏi, tang tế, lễ hội sao cho văn minh, không đi ngược với truyền thống cần có một cuộc vận động sâu rộng, trong đó vai trò của Mặt trận rất quan trọng. Ngày 21/11/2007, Uỷ ban Mặt trận tỉnh tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 27-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) và Kế hoạch 40-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội. Hệ thống Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên trong hệ thống Mặt trận đã có sự chuyển biến tích cực về nhận thức và ý thức chấp hành các quy định, xem đây là nội dung quan trọng trong cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”.

Việc bồi duỡng kiến thức quốc phòng – an ninh cho chức sắc, chức việc các tôn giáo ở Tây Ninh được các cấp, các ngành quan tâm. Uỷ ban Mặt trận tỉnh phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh tham mưu cho Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh về mặt chủ trương và xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện đạt kết quả tốt. Đến tháng 8/2008 đã mở 26 lớp, có 4.208 chức sắc, chức việc tham dự. Việc làm này được sự đồng thuận, thống nhất cao của các tôn giáo.

III. ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TỈNH TÂY NINH LẦN THỨ VIII (NHIỆM KỲ 2009-2014)

Thực hiện Chỉ thị 18-CT/TW ngày 22/11/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá X) về lãnh đạo đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, ngày 22/1/2008, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Công văn 407-CV/TU về việc lãnh đạo đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong tỉnh. Công văn của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ nhấn mạnh “…việc tăng cường phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là rất quan trọng, tạo ra thế và lực mới, là một nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo thắng lợi vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, cần làm cho đại hội Mặt trận các cấp trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân…”.

Sau khi kết thúc thắng lợi việc tổ chức đại hội Mặt trận cấp cơ sở, huyện, thị và tích cực chuẩn bị cho đại hội cấp tỉnh, Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh lần thứ VIII được tiến hành từ ngày 23 – 24/6/2009 với chủ đề “Đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy các nguồn lực, cần kiệm xây dựng quê hương Tây Ninh giàu đẹp, văn minh, hạnh phúc”.

Đến dự đại hội có Ông Lê Minh Hiền, Uỷ viên thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trưởng ban công tác phía Nam Mặt trận Trung ương; Bà Lê Thị Bân, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ Tây Ninh; Ông Nguyễn Thanh Long, Phó Bí thư thường trực Tỉnh uỷ; Ông Võ Văn Phuông, Phó Bí thư Tỉnh uỷ; Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ, Uỷ viên thường vụ Tỉnh uỷ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, Trưởng đoản đại biểu Quốc hội đơn vị tỉnh; Ông Nguyễn Văn Nên, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tiền Giang, An Giang.

Tổng số đại biểu tham dự đại hội là 406, trong đó có 278 đại biểu chính thức, 128 đại biểu khách mời.

Với tiêu đề “Nâng cao vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh nhà”, Báo cáo chính trị của đại hội đã đánh giá tình hình khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết quả thực hiện chương trình hành động nhiệm kỳ 2004-2009 và đề ra phương hướng, nhiệm vụ, chương trình hành động nhiệm kỳ 2009-2014.

Nhìn chung, khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố, tăng cường trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, tiếp tục khẳng định niềm tin vào sự lãnh đạo và đường lối đổi mới của Đảng. Là nhân tố quan trọng góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo sự an tâm, phấn khởi, phát huy tính năng động, sáng tạo, tập trung trí tuệ, các nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội, đóng góp to lớn vào sự thành công trong thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh nhà.

Song, vẫn còn một số vấn đề đáng quan tâm, một bộ phận người lao động gặp khó khăn trong cuộc sống; chất lượng giáo dục, y tế, tình trạng ô nghiễm môi trường, tệ nạn xã hội, tệ quan liêu, tham những làm ảnh hưởng đến an sinh xã hội và là những điều trăn trở của người dân; cải cách hành chính chưa đáp ứng yêu cầu; còn khiếu kiện đông người kéo dài, đình công, lãng công; những phần tử cực đoan trong tôn giáo hoạt động trái pháp luật làm ảnh hưởng đến việc tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc tỉnh nhà.

Thông qua thực hiện Đề án 01/ĐA.MT “Đa dạng hoá hình thức tập hợp các tầng lớp nhân dân tham gia thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh nhà” đã củng cố, tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo ra nhiều phong trào phối hợp hành động. Phát triển thêm các tổ chức thành viên như Hội Nạn nhân chất độc da cam, Hội Cựu thanh niên xung phong, Hội Cựu giáo chức…nâng tổng số hội đoàn trong tỉnh lên 110 tổ chức, tập hợp 60% quần chúng vào tổ chức. Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư được tổ chức hằng năm trở thành ngày hội lớn của các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt là 2 cuộc vận động do hệ thống Mặt trận phối hợp thực hiện đạt kết quả tốt là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và cuộc vận động quỹ “Vì người nghèo”. Trong nhiệm kỳ vận động quỹ “Vì người nghèo” được 47.394.224.672/26.396.000.000 đồng (tính đến 30/12/2008), đạt 179,55%, xây tặng nhà đại đoàn kết 5.472/5.388 căn, đạt 101,55% (trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số 451 căn). Mặt trận tỉnh phối hợp với các tổ chức thành viên và các ngành liên quan thí điểm xoá nghèo ở xã Phước Chỉ (huyện Trảng Bàng) và xã Tân Bình (Thị xã Tây Ninh) bước đầu đạt được một số kết quả khả quan. Có 374/495 ấp, khu phố được công nhận danh hiệu văn hoá, đạt 75,5% (chỉ tiêu nhiệm kỳ là 60%), trong đó có 12 ấp văn hoá vùng dân tộc thiểu số (đạt 120%), 66 ấp/khu phố vùng có đông tín đồ tôn giáo (đạt 220%). Cuộc vận động “Xây dựng cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo văn minh” là một trong những mô hình đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận; có 309/313 cơ sở thờ tự đăng ký thực hiện (tỷ lệ 98,72%), được công nhận 280/309 (tỷ lệ 90,61%). Hoạt động đối ngoại nhân dân và tăng cường đoàn kết quốc tế được mở rộng thông qua việc thực hiện đề án “Đối ngoại nhân dân”; trọng tâm là xây dựng biên giới Việt Nam – Campuchia hoà bình, đoàn kết, hữu nghị.

Uỷ ban Mặt trận các cấp được củng cố theo hướng mở rộng, thiết thực, tăng số cá nhân tiêu biểu, đại diện các tôn giáo, dân tộc, chuyên gia các lĩnh vực; từ năm 2006, Mặt trận cấp xã tăng thêm 1 Phó Chủ tịch. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được quan tâm với nhiều loại hình như tổ chức tập huấn, hội thảo, hội nghị chuyên đề. Hội nghị Uỷ ban Mặt trận tỉnh định kỳ dành nhiều thời gian thảo luận theo từng nhóm chuyên đề, lĩnh vực. Xây dựng Nghị quyết chuyên đề “Nâng cao hiệu quả phối hợp hoạt động giữa Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh với các tổ chức thành viên”; chủ động phối hợp với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các ngành chức năng và các đoàn thể thông qua ký kết quy chế phối hợp công tác, chương trình hành động liên tịch. Hình thành 495 Ban công tác Mặt trận/495 ấp, khu phố với 4.234 thành viên; 7.057 Tổ dân cư tự quản với 18.810 thành viên Ban Điều hành. 5 năm liền Mặt trận tỉnh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng I, Uỷ ban nhân dân tỉnh tặng bằng khen và cờ thi đua đơn vị dẫn đầu 3 năm liền (2006, 2007, 2008) khối mặt trận, đoàn thể, hội quần chúng; Mặt trận huyện Hoà Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng và 2 cá nhân được tặng thưởng Huân chương lao động hạng III.

Đại hội đã rút ra nguyên nhân và 5 bài học kinh nghiệm. Tóm tắt như sau:

Thứ nhất, Mặt trận các cấp phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đưa nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, chương trình thống nhất hành động của Mặt trận vào cuộc sống. Phát huy đầy đủ vai trò kiểm tra, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận và các tổ chức thành viên.

Thứ hai, chủ động làm tốt vai trò tham mưu với cấp uỷ và tăng cường  công tác phối hợp thống nhất hành động. Nơi nào cấp uỷ quan tâm chỉ đạo sâu sát, sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ thì công tác Mặt trận phát huy hiệu quả.

Thứ ba, hoạt động của Mặt trận phải thật sự hướng mạnh về cơ sở, kịp thời nắm bắt những khó khăn, bức xúc và tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, đề xuất giải pháp kịp thời. Công tác tuyên truyền luôn gắn với phát động thi đua và tổ chức thực hiện; đảm bảo phương châm “được người, được việc, được tổ chức”.

Thứ tư, quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch đáp ứng yêu cầu chuẩn hoá cán bộ và ngang tầm nhiệm vụ. Phát huy tốt vai trò uỷ viên Uỷ ban Mặt trận các cấp, cá nhân tiêu biểu, người có uy tín trong cộng đồng dân cư, tạo nhân tố xây dựng sự đồng thuận xã hội.

Thứ năm, thướng xuyên sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm các phong trào thi đua yêu nuớc; kịp thời phát hiện nhân tố mới, các làm hay để nhân rộng, khen thưởng.

Về phương hướng, nhiệm vụ và chương trình hành động nhiệm kỳ 2009-2014.

Phương hướng chung là tập trung thực hiện nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh, tăng cường, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tích cực, chủ động, sáng tạo, tập hợp ngày càng rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, ý chí tự lực, tự cường và quyền làm chủ của nhân dân, huy động tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện tốt vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, cầu nối vững chắc giữa nhân dân với Đảng và chính quyền nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế thế giới của tỉnh nhà.

Những nhiệm vụ cụ thể là:

Tiếp tục tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thông qua tổ chức thành viên Mặt trận, các phong trào, phát huy vai trò của cá nhân tiêu biểu và ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư, dấy lên khí thế thi đua sôi nổi, phát triển sản xuất, thực hành tiết kiệm, xoá đói giãm nghèo cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân (phán đấu kéo giãm hộ nghèo 2% theo tiêu chí Trung ương), phấn đấu hoàn thành chương trình, kế hoạch về kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh của tỉnh nhà.

Động viên các tầng lớp nhân dân tổ chức nhiều hoạt động cụ thể thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trước hết là công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn.

Đẩy mạnh tuyên truyền, động viên tinh thần yêu nước, ý thức tự hào truyền thống cách mạng, phát huy tính tự quản trong cộng đồng dân cư và sự đồng thuận xã hội, tích cực góp phần phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, giải quyết tốt những bức xúc và những mâu thuẩn trong nội bộ nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng – an ninh.

Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, tiếp tục tăng cường phối hợp thống nhất hành động, phát huy sức mạnh của các tổ chức thành viên, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước để thực hiện thắng lợi chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh nhiệm kỳ 2009-2014.

Tóm tắt Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh khoá VIII (nhiệm kỳ 2009-2014) như sau:

1- Tăng cường, tập hợp đoàn kết các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng như thông qua các phong trào, tổ chức đoàn thể thành viên thực hiện tốt công tác tôn giáo – dân tộc, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, vận động cá nhân tiêu biểu và thông qua ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư.

Tuyên truyền và vận động các tầng lớp nhân dân hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước và chính sách Mặt trận; thực hiện tốt Đề án 02/212 về “tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật ở cộng đồng dân cư”, vận động 100% hộ gia đình đăng ký xây dựng gia đình không vi phạm pháp luật.

Tiếp tục phối hợp với các tổ chức thành viên thực hiện Đề án 01/ĐA.MT về “Đa dạng hoá hình thức tập hợp các tầng lớp nhân dân tham gia thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh nhà” nhằm tập hợp trên 80% nhân dân vào các loại hình tổ chức.

Xây dựng các chương trình, kế hoạch nhằm phát huy vai trò cá nhân tiêu biểu trong cộng đồng dân cư. Tổ chức tốt ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc ở 100% khu dân cư với chất lượng cao. Đa dạng hình thức tổ chức ngày hội ở cấp xã, huyện và tỉnh; thành phần tham gia và nội dung ngày càng mở rộng, thiết thực.

2- Động viên các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân.

Nội dung chủ yếu là thi đua lao động, sản xuất, kinh doanh giỏi, làm giàu chính đáng, xoá đói giãm nghèo; tổ chức phong trào xã hội học tập, hoạt động nhân đạo – từ thiện. Mặt trận tiếp tục chủ trì cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và “Ngày vì người nghèo” với các chỉ tiêu như sau:

Phấn đấu hằng năm có 80% khu dân cư giữ vững và đạt danh hiệu khu dân cư, ấp, khu phố văn hoá; 100% cơ sở thờ tự đăng ký xây dựng “Cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo văn minh” và được công nhận từ 90% trở lên.

Vận động quỹ “Vì người nghèo” đạt chỉ tiêu hằng năm góp phần hoàn thành việc xây tặng nhà đại đoàn kết theo kế hoạch giãm nghèo giai đoạn 2006-2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh. Hằng năm, mỗi huyện, thị phối hợp xoá nghèo 1 xã, phường, thị trấn.

Phối hợp triển khai thực hiện tốt các đề án, chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là các chương trình do Mặt trận chủ trì như “Toàn dân tham gia đảm bảo trật tự, an toàn giao thông”, “Toàn dân tham gia phòng, chống tội phạm, ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS, buôn bán phụ nữ, trẻ em…”.

3- Chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; vận động các tầng lớp nhân dân phát huy dân chủ tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh.

Tiếp tục tham gia thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thực hiện giám sát và lấy ý kiến nhân dân đóng góp cho cán bộ, đảng viên, đóng góp dự thảo văn kiện đại hội Đảng các cấp. Tham mưu nâng cao chất lượng tiếp xúc định kỳ giữa cấp uỷ Đảng với Ban Thường trực Mặt trận và Ban Thường vụ các đoàn thể.

Tiếp tục thực hiện đúng và đầy đủ Pháp lệnh 34 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn. Tham gia tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Đề xuất những biện pháp tốt để thực hiện chính sách Mặt trận, chính sách tôn giáo – dân tộc… Phát huy vai trò Ban Thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng.

4- Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân.

Tiếp tục thực hiện tốt đề án đối ngoại nhân dân của Mặt trận Tổ quốc tỉnh, xây dựng tình đoàn kết, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển với Campuchia và các nước trên thế giới. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, về đất nước, con người Tây Ninh. Xây dựng quy chế phối hợp với các đoàn thể, hội quần chúng, các tôn giáo trong việc tiếp xúc với các tổ chức phi chính phủ đến làm việc tại Tây Ninh. Tuyên truyền, vận động nhân dân cảnh giác, chống luận điệu xuyên tạc và lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

5- Kiện toàn tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống Mặt trận Tổ quốc các cấp, tăng cường, củng cố tổ chức bộ máy; xây dựng và đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Mặt trận.

Củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức Mặt trận, nhất là cấp cơ sở đảm bảo về số lượng và chất lượng, về tính đại diện, tính tiêu biểu và tính thiết thực; tiếp tục thực hiện Đề án 10/ĐA-MT về “Củng cố, nâng chất lượng hoạt động Ban Công tác Mặt trận – Tổ dân cư tự quản”. Phấn đấu hằng năm có 90% huyện, thị; 80% xã, phường, thị trấn; 80% Ban công tác Mặt trận; 70% Tổ dân cư tự quản đạt loại mạnh. Đa dạng hoá việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ Mặt trận theo phương châm “Tổ chức các hội nghị chuyên đề rút kinh nghiệm, học tập thực tế những điển hình từ các phong trào”.

Đổi mới phương thức hoạt động theo hướng nâng cao chất lượng các cuộc hội nghị Uỷ ban Mặt trận các cấp, tập trung giải quyết các vấn đề trọng tâm, thiết thực, tập trung cho cơ sở; tổ chức tốt các hoạt động tư vấn, giám sát và phản biện xã hội; phát huy vai trò cá nhân tiêu biểu, chuyên gia. Hoàn thiện quy chế và phương thức phối hợp thống nhất hành động giữa Mặt trận Tổ quốc với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các tổ chức thành viên và các ngành chức năng. Nâng cao chất lượng công tác thi đua, xây dựng quy chế khen thưởng của Mặt trận các cấp. Kịp thời sơ kết, tổng kết, nhân rộng điển hình. Cải tiến lề lối làm việc, tăng cường kiểm tra cơ sở, xây dựng chế độ thông tin, báo cáo đảm bảo kịp thời, chính xác.

Phát biểu với Đại hội, Ông Lê Minh Hiền, Uỷ viên thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã nêu “…Ban Thường trực và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đánh giá cao kết quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc tỉnh Tây Ninh trong nhiệm kỳ qua đã bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, tăng cường phối hợp và thống nhất hành động với các tổ chức thành viên bằng nhiều hình thức đa dạng, sáng tạo đã thu hút đông đảo đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân hưởng ứng tham gia các phong trào hành động cách mạng …”. Ông cũng lưu ý với đại hội những mặt còn hạn chế của công tác Mặt trận tỉnh nhà, đó là việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân có lúc, có nơi chưa kịp thời; vai trò giám sát chưa được phát huy tốt, việc tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân một số nơi còn hạn chế; sự phối hợp thống nhất hành động, tổ chức các phong trào thi đua yêu nước chưa đồng đều, việc phát hiện và nhân rộng điển hình chưa được quan tâm đúng mức…

Ông Lê Minh Hiền cũng bày tỏ sự đồng tình với phương hướng, nhiệm vụ và chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc tỉnh nhiệm kỳ 2004-2009 đã nêu trong Báo cáo chính trị và các tham luận; Ông nhấn mạnh một số vấn đề cần lưu ý khi đề ra nhiệm vụ cho nhiệm kỳ mới; đồng thời trân trọng trao tặng Đại hội bức trướng mang dòng chữ “ĐOÀN KẾT – DÂN CHỦ – ĐỔI MỚI – PHÁT TRIỂN”.

Phát biểu chỉ đạo Đại hội, Bà Lê Thị Bân, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ bày tỏ sự nhất trí với nội dung báo cáo đánh giá tổng kết công tác của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh nhiệm kỳ VII và phương hướng, nhiệm vụ đặt ra cho nhiệm kỳ VIII mà Uỷ ban Mặt trận tỉnh đã trình bày trước Đại hội. Bà nhấn mạnh “…Những thành tích đạt được trong nhiệm kỳ qua của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh đã góp phần củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh…Các phong trào hành động cách mạng do Mặt trận Tổ quốc các cấp phát động được đông đảo các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, đã tạo thành động lực to lớn trong xây dựng đời sống mới ở khu dân cư, trong phát triển kinh tế – xã hội…”.

Nhân dịp này, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh trao tặng Đại hội bức trướng với nội dung:

Nâng cao vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, phát huy sức mạnh Đại đoàn kết toàn dân tộc, vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Đại hội đã nghe 17 tham luận của các ngành liên quan, các đoàn thể tỉnh, các cấp Mặt trận, các tôn giáo, dân tộc và cá nhân tiêu biểu.

Đại hội đã nghe Báo cáo kiểm điểm của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh khoá VII, nhiệm kỳ 2004-2009. Trong nhiệm kỳ, Uỷ ban Mặt trận tỉnh khoá VII được bổ sung 13 thành viên để thay thế những thành viên cũ chuyển công tác, nghỉ hưu, từ trần,… Đến cuối nhiệm kỳ, Uỷ ban Mặt trận tỉnh khoá VII còn 69 vị, giãm 3 vị so với đầu nhiệm kỳ. Từ tháng 1/2005, Chủ tịch chuyên trách chuyển công tác khác, chức danh Chủ tịch do Trưởng ban Ban Dân vận Tỉnh uỷ kiêm nhiệm.

Đại hội đã hiệp thương dân chủ cử ra Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh khoá VIII (nhiệm kỳ 2009-2014) gồm 75 vị. Ông Phan Minh Đức, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng ban Ban Dân vận Tỉnh uỷ được cử làm Chủ tịch; các Phó Chủ tịch chuyên trách là Bà Nguyễn Thị Minh Lý và các Ông Phan Văn Thái, Giang Ngọc Trực, Nguyễn Văn Nhiếm.

Thực hiện Chương trình hành động được Đại hội Mặt trận Tổ quốc tỉnh lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2009-2014 thông qua, năm 2010 Mặt trận các cấp trong tỉnh nổ lực phấn đấu thực hiện đạt và vượt một số chỉ tiêu quan trọng thiết thực lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp trong tỉnh, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ  XI của Đảng, chào mừng Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, 80 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam gắn với 50 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ngày 3/8/2010, Uỷ ban Mặt trận tỉnh Báo cáo hoạt động và tổ chức hoà giải ở cơ sở từ năm 1991 đến năm 2009. Theo đó, thực hiện Quyết định 444/QĐ-UBND ngày 11/6/2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt Đề án “Củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của các Tổ hoà giải ở cơ sở giai đoạn 2007 – 2010”, Mặt trận phối hợp với ngành Tư pháp từ khâu xây dựng đến triển khai thực hiện đề án; hoà giải viên do Mặt trận Tổ quốc xã phối hợp với cán bộ Tư pháp xã hướng dẫn Ban Công tác Mặt trận ấp, khu phố lựa chọn để giới thiệu cho nhân dân bầu. Hoà giải thành một vụ việc được chi 100.000 đồng, hoà giải không thành được chi 50.000 đồng (theo Quyết định 2047/QĐ-UBND ngày 1/10/2009 của Uỷ ban nhân  dân tỉnh). Tổng số vụ việc đã hoà giải là 47.350; trong đó, hoà giải thành 28.060 vụ việc (chiếm tỷ lệ 59,26%), hoà giải thành được các bên thực hiện nghiêm túc là 14.787 vụ việc, hoà giải không thành 19.290 vụ việc, hoà giải không thành được đưa ra Toà án 4.503 vụ việc.

Ngày 16/8/2010 Uỷ ban Mặt trận tỉnh Báo cáo việc phối hợp tham gia xây dựng chính quyền giai đoạn 2004 – 2011. Căn cứ Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nghị định 50/2001/NĐ-CP ngày 16/8/2001 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận tỉnh và Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành quy chế phối hợp công tác số 01/QCPH-UBND-UBMTTQ ngày 14/7/2003, Uỷ ban Mặt trận tỉnh và Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành quy chế phối hợp công tác số 124/QC/LT-MTTQ-HĐND ngày 12/8/2008; theo đó, cấp huyện, thị xã và xã, phường, thị trấn cũng ban hành quy chế phối hợp của cấp mình. Ngoài ra, Mặt trận và các tổ chức thành viên, ban, ngành các cấp xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch liên tịch như kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; công tác hoà giải ở cơ sở; tuyên truyền, vận động thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; hoạt động thanh tra nhân dân; tập huấn Ban giám sát đầu tư của cộng đồng; bảo vệ môi trường…

Từ ngày 8 – 11/9/2010, Đảng bộ tỉnh tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010 – 2015. Đại hội đánh giá, hệ thống dân vận, mặt trận, đoàn thể thường xuyên được củng cố về tổ chức bộ máy; năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ từng bước được chuẩn hoá và nâng lên; quan tâm đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tích cực tham mưu, đề xuất với cấp uỷ và phối hợp với chính quyền, ngành chức năng thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; triển khai thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua, các hoạt động xã hội – từ thiện. Công tác dân tộc được quan tâm, tổ chức thành công Đại hội đại biểu dân tộc thiểu số lần I (năm 2009) tạo không khí phấn khởi, đoàn kết, tin tưởng trong đồng bào dân tộc thiểu số. Hoạt động tôn giáo ngày càng đi vào nền nếp, trên 90% cơ sở thờ tự được công nhận “cơ sở tín ngưỡng tôn giáo văn minh”. Tuy nhiên, bộ máy, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu, còn mang tính hành chính; thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội còn hạn chế. Có nơi chưa quan tâm giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh trong tôn giáo; vẫn còn xảy ra một số hoạt động tôn giáo trái pháp luật, lợi dụng chính sách tôn giáo, dân tộc phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Về nhiệm vụ nhiệm kỳ 2010 – 2015, tiếp tục quan tâm đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của mặt trận, đoàn thể theo hướng sâu sát cơ sở, tăng cường nắm bắt tình hình, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Từng bước thực hiện có hiệu quả vai trò giám sát và phản biện xã hội. Đa dạng hoá các hình thức tập hợp quần chúng, duy trì tỷ lệ tập hợp quần chúng vào tổ chức ở mức trên 80%. Nâng cao chất lượng các phong trào thi đua yêu nước, đưa cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; đẩy mạnh cuộc vận động “Quỹ vì người nghèo”, “Quỹ bảo trợ xã hội”, “quỹ hỗ trợ nông dân”, xây dựng nhà đại đoàn kết.

Ngày 9/11/2010, Tỉnh uỷ tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TU ngày 3/5/2006 của Tỉnh uỷ khoá VIII về công tác Dân vận giai đoạn 2006 – 2010. Tỉnh uỷ đánh giá, việc triển khai thực hiện nghị quyết khá tốt; nhiều cấp uỷ chỉ đạo triển khai trong Đảng và cán bộ chủ chốt các đoàn thể từ huyện đến cơ sở rất nghiêm túc, nhiều nơi tổ chức học tập, tuyên truyền trong nhân dân đạt tỷ lệ khá cao. Các cấp uỷ Đảng quan tâm chỉ đạo việc xây dựng nghị quyết, chương trình hành động, kế hoạch thực hiện đảm bảo các nội dung theo nghị quyết và tình hình thực tế ở địa phương, đơn vị. Nhiều cấp uỷ đã chỉ đạo tổng kết, đánh giá thực trạng trước khi ra nghị quyết chuyên đề về công tác dân vận. Nghị quyết đã thực sự làm chuyển biến nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền về công tác dân vận trong giai đoạn mới. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thường xuyên được củng cố, kiện toàn về tổ chức, bộ máy. Các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động được mặt trận, các đoàn thể phát động và thực hiện có trọng tâm, trọng điểm; có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ trong quá trình thực hiện đã đạt hiệu quả thiết thực, được đông đảo các tầng lớp nhân dân đồng tình ủng hộ. Tuy nhiên, còn một số cấy uỷ, tổ chức đảng chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng trong công tác dân vận nên thiếu sự quan tâm đúng mức. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tuy có chuyển biến nhưng có mặt chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội còn hạn chế; còn nặng về hành chính, ít đi cơ sở, chưa nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của quần chúng; việc tập hợp quần chúng, phát triển đoàn viên, hội viên chưa đạt yêu cầu.

Ngày 14/12/2010, Uỷ ban Mặt trận tỉnh tổng kết 15 năm thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và 10 năm cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”.

Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, làm giàu hợp pháp trong nhân dân; phát huy được truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “tương thân tương ái” để góp phần thực hiện các chính sách xã hội và hoạt động nhân đạo, từ thiện; tạo ra được sự chuyển biến tích cực trong xây dựng đời sống văn hoá, phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ cương và thực hiện tốt quy chế dân chủ ở khu dân cư. Thông qua cuộc vận động, tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể được củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động.

Về cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, trong 10 năm (từ 10/2000 đến 11/2010) đã huy động được trên 1.000 tỷ đồng. Trong đó, vận động vào “Quỹ vì người nghèo” được trên 130 tỷ đồng, đạt 196,5% chỉ tiêu; xây 10.683/8.335 căn nhà đại đoàn kết, trị giá hơn 133 tỷ đồng, đạt 128,2% chỉ tiêu. Những kết quả của cuộc vận động không chỉ về mặt kinh tế mà còn mang lại nhiều tác động to lớn về mặt xã hội, tạo ra một phương thức hoạt động phù hợp với chức năng của mặt trận.

KẾT LUẬN

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết yêu nước của dân tộc ta. Truyền thống đó được phát huy cao độ từ khi có ngọn cờ Mặt trận Dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc làm kim chỉ nam hoạt động. Ở Tây Ninh, với nhiều hình thức tổ chức và tên gọi khác nhau cho phù hợp với tình thế cách mạng từng giai đoạn, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, ngọn cờ Mặt trận luôn mở rộng nhằm quy tụ mọi tầng lớp nhân dân, mọi dân tộc, tôn giáo, đặc biệt là tôn giáo Cao Đài tạo ra sự phối hợp và thống nhất hành động; vượt qua gian khổ, hiểm nguy và các thủ đoạn thâm độc của đế quốc và bè lũ tay sai để hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ do Đảng đề ra từng thời kỳ.

Mặt trận vừa là trung tâm đoàn kết toàn dân tộc, là nơi để nhân dân bày tỏ nguyện vọng và vinh danh những tổ chức, cá nhân tiêu biểu, vừa là cầu nối giữa dân với Đảng, vừa là chỗ dựa vững chắc của chính quyền. Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh Tây Ninh đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động và tổ chức nhiều phong trào quần chúng đấu tranh cách mạng có hiệu quả, cao trào là Đồng khởi Tua 2 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sữ tự lực giải phóng Tây Ninh. Khi chưa giành được chính quyền, có lúc, có nơi Mặt trận các cấp còn làm một phần chức năng của chính quyền cách mạng. Trong thời kỳ Đảng lãnh đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh là tổ chức giữ mối quan hệ mật thiết giữa các cấp uỷ Đảng với nhân dân, là cơ sở chính trị và là chỗ dựa của chính quyền nhân dân, đồng thời, là tổ chức đóng vai trò giám sát và phản biện xã hội đối với chính quyền, vận động nhân dân trong tỉnh vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Trong thời kỳ đổi mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh tiếp tục mở rộng, tăng cường đoàn kết toàn dân tộc, huy động mọi tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo đồng tâm, hiệp lực vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Sự lớn mạnh của Mặt trận và thành quả công tác Mặt trận tỉnh nhà có sự đóng công góp sức, trí tuệ, xuơng máu của các thế hệ cán bộ Mặt trận, của các tầng lớp nhân dân trong và ngoài tỉnh. Với những thành tích đạt được, tính từ năm 1989 đến năm 2010, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và nhiều cá nhân tiêu biểu trong tỉnh được tặng thưởng:

– Chủ tịch Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huân chương Độc lập hạng III, Huân chương Lao động hạng I, II, III cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh; Huân chương Lao động hạng III cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Hoà Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng và 3 cá nhân.

– Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tặng Cờ Xuất sắc cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, 551 Huy chương “Vì sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc”, 219 Bằng khen.

– Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh tặng Cờ dẫn đầu phong trào thi đua hằng năm cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh từ năm 2006 đến năm 2010.

– Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tặng 26 cờ, 2121 Bằng khen, 124 Giấy khen cho các tập thể, cá nhân.

 

Những kinh nghiệm

Từ thực tiễn phong phú, sinh động của quá trình xây dựng, hoạt động và trưởng thành của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh đã đúc kết được những kinh nghiệm quý báu về sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và công tác Mặt trận của tỉnh nhà, đó là:

  1. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định cho sự thành công của công tác Mặt trận và sự trưởng thành của tổ chức Mặt trận tỉnh nhà.

Trong mọi thời kỳ cách mạng, Đảng bộ Tây Ninh đã quán triệt, bám sát và vận dụng tổ chức thực hiện một cách sáng tạo, linh hoạt quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, luôn “lấy dân làm gốc”, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, đánh giá đúng vai trò, sức mạnh của nhân dân, tin vào dân, dựa vào dân, gắn bó với dân, luôn tìm hiểu và lắng nghe dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, thực sự chăm lo cho nhân dân cả về vật chất lẫn tinh thần nên đã phát huy được vai trò của nhân dân trong các giai đoạn cách mạng. Thực tiễn cho thấy, hiệu quả của công tác Mặt trận không chỉ ở chỗ tập hợp được đông đảo các giai tầng mà còn ở chỗ vận dụng thành công những sách lược một cách sáng tạo, mềm dẻo, linh hoạt, thể hiện nhuần nhuyễn “Ý Đảng, lòng dân” để tranh thủ, phân hoá, cô lập các đối tượng, lực lượng nhằm khai thác, phát huy tối đa tiềm năng các giai tầng trong xã hội. Nội dung hoạt động của Mặt trận phải xuất phát từ lợi ích của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, kết hợp chặt chẽ: cải thiện dân sinh – nâng cao dân trí – phát huy dân chủ.

Với một tỉnh có nhiều tôn giáo, đồng bào có đạo chiếm trên 50% dân số toàn tỉnh; đặc biệt là đạo Cao Đài, một tôn giáo được hình thành và có trung tâm đạo tại Tây Ninh, các cấp uỷ trong tỉnh thời kỳ nào cũng hết sức coi trọng công tác vận động quần chúng nói chung, vận động đồng bào có đạo nói riêng, nhất là vận động đồng bào theo đạo Cao Đài trên cơ sở vận dụng linh hoạt, mềm dẻo quan điểm, đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và luật pháp Nhà nước. Dưới ngọn cờ Mặt trận, các tầng lớp nhân dân, quần chúng có đạo và đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh luôn đoàn kết, tin tưởng, tích cực ủng hộ các chủ trương, đường lối của Đảng và tuân thủ luật pháp Nhà nước, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội và giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tỉnh nhà. Có thể nói sự lãnh đạo của các cấp uỷ trong tỉnh đối với nhiệm vụ vận động quần chúng Cao Đài rất quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, quyết định cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng tỉnh nhà.

  1. Chăm lo xây dựng, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc là trách nhiệm của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, vì vậy phải hết sức coi trọng việc phối hợp thống nhất hành động dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Trong kháng chiến, Tây Ninh có vùng giải phóng rộng lớn và nhiều căn cứ lõm, với khẩu hiệu toàn dân đánh thắng giặc xâm lược và tay sai, Mặt trận hoạt động cả trong vùng giải phóng và vùng bị tạm chiếm, cấp uỷ và Mặt trận các cấp xem việc xây dựng “căn cứ trong dân” cũng quan trọng như việc xây dựng căn cứ trong vùng giải phóng. Dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ, Mặt trận và các tổ chức thành viên phối hợp chặt chẽ, thống nhất nội dung, kế hoạch tuyên truyền, vận động toàn dân thành một khối đoàn kết vững chắc đánh thắng mọi kẻ thù, tô thắm truyền thống quê hương trung dũng kiên cường. Ngày nay, trong bối cảnh quốc tế hết sức phức tạp, các thế lực thù địch hàng ngày, hàng giờ tác động vào đời sống xã hội nước ta, việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc lại càng vô cùng cần thiết và cấp bách. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, không chỉ Đảng, Mặt trận và các đoàn thể làm công tác dân vận mà chính quyền và các ban, ngành có vai trò và tác động to lớn đến việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, là bộ phận “trực tiếp” làm công tác dân vận. Do vậy, dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ, Mặt trận phải làm nòng cốt trong việc xây dựng các chương trình, kế hoạch, quy chế phối hợp với chính quyền, các ban ngành liên quan và giữa Mặt trận với các tổ chức thành viên một cách thống nhất, đồng bộ, chặt chẽ và phân công trách nhiệm rạch ròi để có sự thống nhất hành động nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc. Mặt trận phải thực hiện tốt vai trò là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện tạo nên sức mạnh toàn dân thực hiện thắng lợi các chủ trương, nghị quyết của Đảng. Mặt khác, các cấp uỷ, chính quyền và các ban ngành cũng phải thấy trách nhiệm của mình, khắc phục tình trạng “mạnh ai nấy làm” và xem công tác dân vận là của Mặt trận, đoàn thể.

  1. Chăm lo xây dựng tổ chức Mặt trận các cấp vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức là nhân tố góp phần quyết định vị thế của Mặt trận và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, Mặt trận phải đổi mới nội dung, phương thức hoạt động cho phù hợp với từng thời kỳ, từng đối tượng trên cơ sở tất cả vì lợi ích của nhân dân, tất cả vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực tiễn cho thấy, từ khi Mặt trận, đoàn thể lồng ghép các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội để phát động, vận động thì được đông đảo quần chúng hưởng ứng vì nội dung vận động có mục tiêu, lợi ích cụ thể. Mặt khác, phải hết sức coi trọng việc xây dựng, nhân rộng các mô hình tốt, cách làm hay để phong trào có sức sống, sức bền và luôn được tươi mới. Đồng thời, nâng cao chất lượng các phong trào thi đua yêu nước, tập trung thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án nhằm giải quyết các vấn đề thiết thân của nhân dân.

Để thực hiện tốt hơn nữa chức năng, nhiệm vụ của mình, Mặt trận các cấp cần phải tập trung giải quyết khâu cán bộ theo hướng nâng cao trình độ, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ chuyên trách; mở rộng cơ cấu Uỷ ban Mặt trận các cấp; sử dụng có hiệu quả đội ngũ cộng tác viên, tranh thủ tối đa các chuyên gia trên từng lĩnh vực. Cán bộ Mặt trận phải nâng cao tính tự chủ, chủ động, khắc phục hiện tượng “hành chính hoá”, luôn hoạt động theo phong cách “trọng dân, gần dân, học dân và có trách nhiệm với dân”. Phải hết sức chú trọng khâu chọn lựa, quy hoạch, bố trí cán bộ một cách hợp lý; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Mặt trận các cấp cả về lý luận chính trị và nghiệp vụ công tác. Kịp thời kiến nghị, đề xuất với cấp uỷ và chính quyền về cơ chế, chính sách để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Mặt trận./.

 

[1] Trịnh Hoài Đức: Gia Định Thành Thống chí, NXB Văn Hoá Sài Gòn, 1972, trang 12

([2]) Tháng 3.1951, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ I (Khoá II) quyết định trên cơ sở tổ chức Xứ ủy, thành lập Phân cục Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Nam bộ, gọi tắt là Trung uơng Cục miền Nam.

([3]) Sắc lệnh số 124 NV ngày 15.10.1963. 

 

([4]) Linh mục Cô-xi-mô Nguyễn Văn Trí từ Huế trốn vào Tha La (xã An Hoà, Trảng Bàng), cùng một số linh mục khác lập họ đạo Tha La.

([5])  Linh mục Si-mon (Sĩ), Linh mục Creuset (Nghiêm).

([6])  Từ năm 1936 đến năm 1940, ngân sách toàn Đông Dương tăng từ 80 triệu đồng lên 134 triệu đồng, thuế đất từ 1 đồng năm 1930 tăng lên 8 đồng năm 1939.

([7]) Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tây Ninh, NXB Chính tri Quốc gia, Hà Nội năm 2010, trang 34.  Một trường ở Thị xã Tây Ninh, nay là trường tiểu học Kim Đồng; một trường ở thị trấn Trảng Bàng và một trường ở thị trấn Gò Dầu, nay không còn nữa.

([8]) Hợp đồng.

([9]) Như Đốc phủ Đường (có nhiều ruộng và thầu khai thác gỗ) một công chức điển hình về trung thành và tận tụy với thực dân Pháp.

 

([10]) Tức giữ thế thủ bị động nhường thế công cho giặc.

([11])  Lãnh binh Tòng tức Đặng Văn Tòng, con của ông Đặng Văn Trước, người có công đầu trong việc xây dựng nên làng Gia Lộc-Trảng Bàng. Ông Tòng giỏi võ nghệ và mưu lược, ông nhận chức Lãnh binh của triều vua Tự Đức, và được giao nhiệm vụ trấn thủ biên giới Việt – Miên.

([12]) Đảo Guyane (thuộc Pháp), nơi dành giam giữ những tù nhân nguy hiểm của thực dân Pháp.

([13]) Ngày nay thuộc xã An Cơ, huyện Châu Thành.

([14]) Lược sử Tây Ninh, Ban Tổng kết chiến tranh tỉnh Tây Ninh xuất bản năm 1986, ở phần chú thích trang 65 có ghi: “cụ Tám Độ (ở xóm Khách, xã Long Giang) có nghe cha nhắc về Lãnh binh Két, còn gọi là ông Thần Đầu Đỏ ở vùng Long Giang.

([15]) Trương Quyền là con thứ của ông Trương Công Vạn, tên chính là Trương Công Sách, còn có tên là Trương Huệ, Trương Quyền. dòng họ Trương Quyền vẫn giữ gia phả. Trương Quyền khi chết được chôn ở rừng Bến Kéo. Sau năm 1954, ông Trương Công Trí là cháu đã bốc mộ đem về chôn tại xã Hoà Hội, huyện Châu Thành.

([16]) Pô-kum-Pô là nhà yêu nước Campuchia.

([17]) Tin tức Sài Gòn ra ngày 20.8.1866

([18]) Đồng chí Võ Văn Lợi vốn là lính tập thành Ô-ma, năm 1929, đồng chí Lợi tổ chức lấy vũ khí trong thành đem về Bà Điểm, rồi đi hoạt động cách mạng.

([19]) Trương Văn Chẩn, Trương Văn Phú, Nguyễn Văn Viết, Trần Văn Luông, Nguyễn Văn Độ, Đặng Văn Son.

([20]) Tổ chức Đảng ở Ba Ti do đồng chí Bùi Sanh Tạo làm Bí thư. Đây là cơ sở Đảng liên lạc với Quận uỷ Đức Hoà (tỉnh Chợ Lớn, nay là tỉnh Long An).

([21]) Lịch sử phong trào cách mạng của Nông dân và Hội Nông dân tỉnh Tây Ninh, tháng 12.2007, trang 16, 17.

 

[22] Lịch sử Nam bộ kháng chiến, tập I ( 1945-1954), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội- 2010, trang 101

[23] Theo hồi ký của đồng chí Bùi Quang Ngỡi, tháng 10-1940, ở Phước Chỉ hình thành chi bộ Đảng.Riêng đồng chí Dương Quang Thạnh đã chuyển vùng hoạt động. ( Tài liệu lưu trữ Phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ )

[24] Theo lịch sử Cao Đài do Ban Đạo sử, Toà Thánh Tây Ninh xuất bản, trang 19 có ghi: “…. Những người tình nguyện đã sẵn sàng, 10 ngàn người đang chờ lệnh, một phần được vào hải,lục, không quân tập huấn”

[25] Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Sơ thảo tập I 1920-1945, NXB Sự Thật, trang 344

[26]  Sau khởi nghĩa Nam kỳ thất bại, đồng chí Huỳnh Văn Thanh quản lý báo “ Dân Tiến” cùng vợ là đồng chí Trương Mỹ Lan từ Sài Gòn tạm lánh về Tây Ninh tiếp tục hoạt động cách mạng.

 

[27] Lính Cao Đài có tham gia vào cuộc đảo chính

[28]  Cuối tháng 3-1945, Ida, Quyền Tổng trưởng thanh niên Đông Dương mời bác sì Phạm Ngọc Thạch đứng ra lập tổ chức thanh niên ở Sài Gòn và Nam Kỳ. Trong tình thế nước Nhật sắp bại trận, chính quyền Nhật muốn tạo một số ảnh hưởng lâu dài ở Việt Nam. Riêng ở Nam Kỳ, thống đốc Minoda biết rõ chỉ có những trí thức uy tín mới đủ khả năng xây dựng một đoàn thể thanh niên rộng rãi, mà số trí thức ấy không thể tìm ai khác ngoài nhóm đã rất nổi tiếng như: Phạm Ngọc Thạch, Lê Văn Huấn, Nguyễn Văn Thủ, Huỳnh Tấn Phát. Theo phương sách “ tương kế tựu kế”, Xứ uỷ đã bàn kỹ với các nhà trí thức nói trên, trong đó có một số là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là cơ hội có một không hai để trong thời gian gấp rút này, Xứ uỷ có điều kiện công khai tập hợp và nhanh chóng mở rộng lực lượng thanh niên, biến thành một “ đạo quân chính trị” dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là tổ chức Thanh niên Tiền Phong 

[29] Trong danh sách 11 đồng chí Tỉnh uỷ lâm thời không có tên đồng chí Huỳnh Văn Thanh, Trưởng Ban Cán sự Đảng tỉnh, vì đồng chí Thanh bị Pháp bắt trên đường về Xứ uỷ báo cáo tình hình

[30] Ở tỉnh Tây Ninh lúc này, ngoài Uỷ Ban nhân dân còn có tổ chức Uỷ Ban kháng chiến.

[31] Những sự kiện Lịch sử Đảng ( 1929-1975),  BNCLSĐ, năm 1979. Tài liệu lưu trữ tại phòng lịch sử Đảng thuộc Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Tây Ninh

[32] Một chiến thuật rút lui phòng ngự trong kháng chiến chống quân xâm lược.

[33] Đồng chí Dương Minh Châu hoạt động trong phong trào sinh viên ở Hà Nội, rồi phong trào yêu nước ở Campuchia. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí trở về Nam bộ và được Xứ uỷ giới thiệu về công tác ở tỉnh Tây Ninh.

[34] Những sự kiện Lịch sử Đảng ( 1929-1975),  BNCLSĐ, năm 1979. Tài liệu lưu trữ tại phòng lịch sử Đảng thuộc Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Tây Ninh

 

[35] Mười chính sách lớn của Việt Minh  được Quốc dân Đại hội thông qua ngày 16-8-1945

[36] Phạm Công Tắc bị thực dân Pháp bắt năm 1941, đày ra đảo Mađagatca. Đến tháng 4-1946, thực dân Pháp vận động đưa phạm Công Tắc về Toà Thánh Tây Ninh nhằm thực hiện âm mưu lôi kéo lực lượng phản động trong đạo Cao Đài chống lại Việt Minh.

[37] Đồng chí Ngô Thất Sơn là người biết tiếng Khmer và am hiểu phong tục, tập quán của người Khmer. Tháng 9-1948, bộ đội hải ngoại số 1 phát triển và hình thành bộ đội Sivôtha. Sivôtha là tên một Hoàng thân Campuchia chống Pháp.

[38] Tháng 11-1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố “ tự giải tán”, nhưng thực chất Đảng rút vào hoạt độ g bí mật.

[39] Đồng bưng rộng mênh mông, mùa nắng không có một giọt nước, chó chạy từ Phước Chỉ về đến Bàu Ba Vũng ở Rừng Nhum uống nước rồi chết luôn.

[40] Ngày 29-5-1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam ra đời gọi tắt là Hội Liên Việt, cụ Huỳnh Thúc Kháng được suy tôn làm Hội trưởng, thu hút sự tham gia của nhiều tầng lớp nhân sĩ, trí thức, địa chủ yêu nước, một số chứ sắc tôn giáo … Trong Cương lĩnh, Hội tuyên bố: “ Có mục đích đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước và các đồng bào yêu nước không đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc để làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường”. Cơ quan Hội Liên Việt ở các địa phương trong cả nước cũng được xúc tiến thành lập. Ở Nam bộ việc thành lập Hội Liên Việt tiến hành chậm hơn so với miền Bắc vì đang trong hoàn cảnh có chiến tranh.

 

[41] Biệt kích

[42] Sau khi Đảng Lao động Việt Nam ra hoạt động công khai từ Đại hội II ( 1951), Trung ương Cục miền Nam ra đời, thay cho Xứ uỷ Nam bộ có từ năm 1946. Đến tháng 9- 1954, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định  giải thể Trung ương Cục miền Nam và lập lại Xứ uỷ Nam bộ.

[43] Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tây Ninh ( 1930-2005), NXB Chính trị Quốc gia, trang 132.

[44] Sau khi Xứ uỷ Nam bộ thành lập lại đã giải thể các Phân liên khu trong kháng chiến chống Pháp, tổ chức lại ba Liên tỉnh uỷ miền Đông, miền Trung, miền Tây và Thành uỷ Sài Gòn- Chợ Lớn- Gia Định.

[45] Cuộc nổi dậy ở Trảng Cỏ bị Xứ ủy thi hành kỷ luật cả Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Sau đó đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư Xứ ủy cho xóa án kỷ luật.

[46] Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tây Ninh ( 1930-2005), NXB Chính trị Quốc gia- Hà Nội, năm 2010, trang 190

[47] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t 11, tr 470 

[48] Bài thơ của anh Nguyễn Văn Phú ( Bảy Phú), đội  Thanh niên xung phong Hoàng Lê Kha

[49] C2311 được Chủ tịch Nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 30-1-2011.

-Liệt sĩ Trịnh Duy Hoàng, Chi đội phó TNXP C2311 được Chủ tịch Nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 23-02-2010.

– Liệt sĩ Võ Thị Rậm, đội viên đội TNXP C2311 được Chủ tịch Nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 23-02-2010.

[50] Truyền thống cách mạng của Phụ nữ Tây Ninh ( sơ thảo), Ban Thường vụ Hội liên hiệp Phụ nữ Tây Ninh  xuất bản năm 1991, trang 193

 

 

 

([51]) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II (1954-1975), NXB Chính trị Quốc gia, năm 1995, trang 328.

[52] Ngày 7-2-1970, ông Huỳnh Thanh Mừng từ trần do bị bệnh nặng.

[53] Đồng chí Phạm Công Khiêm ( Ba Nông), hy sinh ngày 24-12-1969.

[54] Chùa Linh Quang hiện nay ở hẽm 46, đường Cách mạng Tháng Tám, phường 3, Thị xã.   

 

[55] Hai đồng chí Võ Đức Trọng và Lê Văn Dừa bị nghi ngờ là tình báo CIA. Sau ngày giải phóng, qua khai thác hồ sơ tài liệu, ta phát hiện ra tên Năm Huỳnh là tình báo CIA chui vào hàng ngũ của ta. Qua 10 năm hoạt động trong nội bộ ta, với cương vị là Huyện ủy viên, Năm Huỳnh đã cung cấp cho địch nhiều tài liệu quan trọng, nhất là của Đảng bộ huyện Tòa Thánh. Các tài liệu gởi cho địch, Năm Huỳnh lấy tên là Võ Văn Ba, đây là bí danh của đồng chí Võ Đức Trọng nguyên Bí thư Huyện ủy Tòa Thánh. Sau khi phát hiện, ta bắt Năm Huỳnh giải giao về Ban An ninh Trung ương Cục, lúc đó đóng tại Tổng nha cảnh sát Sài Gòn. Tại đây, hắn thú nhận tội, vì quá lo sợ trước tội lỗi gây ra, hắn tự vận ngày 8-6-1975 tại trại giam. Sau vụ việc này, các đồng chí mới được giải oan. 

[56] Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tây Ninh 1930-2005, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội-2010, trang 340

[57] Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tây Ninh 1930-2005, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội-2010, trang 386

CHƯƠNG MỞ ĐU

TÂY NINHVÙNG ĐẤTCON NGƯỜI

 

  1. I. ĐA LÝ, ĐA GII HÀNH CHÍNH TÂY NINH QUA CÁC THI K LCH S

Giữa thế kỷ XVII, Tây Ninh còn là vùng đất hoang vu rừng rậm và nhiều thú dữ. Gần nữa thế kỷ Trịnh – Nguyễn phân tranh (1627-1672), làm cho đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Nhiều người phải bỏ làng quê tìm đến các vùng đất mới, xa lánh mọi thảm họa, bất công của xã hội đương thời. Tây Ninh là một trong những nơi đoàn người tìm đến để khai hoang lập ấp, làm ăn sinh sống.

Năm 1658, nhiều người Việt đến vùng đất Tây Ninh làm ăn sinh sống, khai hoang lập ấp. Năm 1698, Chúa Nguyễn Phúc Chu cử Lễ thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam ổn định tình hình và thiết lập bộ máy hành chính các cấp. Nguyễn Hữu Cảnh lập đất Nông Nại thành phủ Gia Định phân làm hai huyện: huyện Phước Long trên vùng đất Đồng Nai, có lỵ sổ là dinh Trấn Biên; huyện Tân Bình trên vùng đất Sài Gòn, có lỵ sở là dinh Phiên Trấn [1].

Vùng đất Tây Ninh lúc bấy giờ có hai đạo Quang Phong và Quang Hóa thuộc huyện Phước Long. Năm 1779, hai đạo Quang Phong và Quang Hóa thuộc huyện Tân Bình.

Năm 1836, vua Minh Mạng định lại tổ chức hành chính, thành lập tỉnh Gia Định, gồm ba phủ: Tân Bình, Tân An và Tây Ninh. Như vậy, tên gọi Tây Ninh chính thức xuất hiện với tư cách là một đơn vị hành chánh.

Phủ Tây Ninh có hai huyện: Tân Ninh và Quang Hóa.

Huyện Tân Ninh cai quản 3 tổng, 24 làng, huyện lỵ tại vùng thị xã Tây Ninh ngày nay. Huyện Quang Hóa cai quản 4 tổng, 32 làng, huyện lỵ tại làng Cẩm Giang.

Năm 1858, thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, Tây Ninh bị chiếm năm 1861 và được sáp nhập về Sài Gòn. Thực dân Pháp đặt hai đoàn quân sự cai trị ở Trảng Bàng và Tây Ninh. Năm 1868, hai ty hành chính được thành lập thay thế cho hai đoàn quân sự. Ngày 5-01-1876, Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định phân chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chánh lớn; mỗi khu vực hành chánh lớn lại được chia thành các tiểu khu hành chánh. Tỉnh Gia Định được chia thành 4 tiểu khu: Gia Định,Tây Ninh, Tân An, Chợ Lớn. Tiểu khu Tây Ninh thuộc khu vực hành chánh Sài Gòn.

Ngày 20-12-1899, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ra nghị định đổi tiểu khu hành chánh thành tỉnh. Nội dung nghị định có hiệu lực từ ngày 01-01-1900. Toàn Nam Kỳ có 20 tỉnh, như vậy đơn vị hành chánh tỉnh Tây Ninh có từ ngày 1-1-1900.  

Dưới sự cai trị của thực dân Pháp, tỉnh Tây Ninh được chia ra hai quận:

+ Quận Thái Bình có 7 tổng, 34 làng:

– Tổng Hoà Ninh có 7 làng: Đông Tác, Hoà Hiệp, Hoà Hội, Hảo Đước, Ninh Thạnh, Thái Bình, Thanh Điền.

– Tổng Hàm Ninh Thượng có 4 làng: Đôn Thuận, Hiệp Ninh, Lộc Ninh, Phước Hội.

– Tổng Giai Hoá có 6 làng: Ninh Điền, Long Chữ, Long Giang, Long Khánh, Long Thuận, Tiên Thuận.

– Tổng  Khăng Xuyên có 8 làng: Cà Khup, Chra Sre, Đây Xoài, Đốt Bô, Prey Chêt, Praha Miệt, Phum Xoài, Tapăng Roben.

– Tổng Băng Chrum có 2 làng: Băng Chrum Srey, Prey Têch.

– Tổng Tabel Yul có 3 làng: Tà rôt, Tapangprây, Tapăngprôsốc.

– Tổng Chơn Bà Đen có 4 làng: Cà Nhum, Khedol, Rùng Thùng, Am Pil.

Đến năm 1942, quận Thái Bình đổi tên là quận Châu Thành.

+ Quận Trảng Bàng có 3 tổng, 16 làng.

– Tổng Hàm Ninh Hạ có 6 làng: An Tịnh, An Hoà, Gia Lộc, Gia Bình, Lộc Hưng, Phước Chỉ.

– Tổng Mỹ Ninh có 5 làng: An Thạnh, Lợi Thuận, Phước Thạnh, Phước Lưu, Thanh Phước. 

– Tổng Triêm Hoá có 5 làng: Cẩm Giang, Hiệp Thạnh, Phước Trạch, Thạnh Đức, Trường Hoà.

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 và trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, chính quyền cách mạng thành lập thêm huyện Khăng Xuyên (1949), gồm 3 xã: Khăng Xuyên Nam, Khăng Xuyên Trung, Khăng Xuyên Bắc. Tháng 5.1951, Trung ương Cục miền Nam ([2]) bố trí lại chiến trường Nam bộ, lấy sông Tiền làm ranh giới phân chia thành hai Phân liên khu miền Tây và Phân liên khu miền Đông, đồng thời quyết định sáp nhập một số tỉnh. Trong đó, Tây Ninh cùng hai huyện Hóc Môn, Gò Vấp (tỉnh Gia Định) và hai huyện Đức Hoà Thành, Trung Huyện (tỉnh Chợ Lớn) sáp nhập thành tỉnh Gia Định-Ninh. Sau đó, Tỉnh uỷ Gia Định-Ninh quyết định thành lâp huyện căn cứ Dương Minh Châu, gồm 5 xã: Ninh Thạnh, Thạnh Bình, Chơn Bà Đen, Định Thành và Phước Ninh.

Trên cơ sở sáp nhập tỉnh, huyện Khăng Xuyên sáp nhập vào huyện Châu Thành. Các xã của huyện Châu Thành sáp nhập thành liên xã: 3 xã Hảo Đước, Hoà Hội, Trí Bình thành xã Đước Hoà Bình; 3 xã Long Giang, Long Chữ, Long Khánh thành xã Tam Long. Sau đó, sáp nhập  thêm 2 xã Ninh Điền và Khăng Xuyên Nam vào xã Tam Long thành xã Long Xuyên Điền; xã Phước Hội và xã Lộc Ninh thành xã Phước Ninh.

Huyện Trảng Bàng sáp nhập hai xã Đôn Thuận và Thuận Lợi thành xã Đôn Thuận Lợi; hai xã Phước Trạch và Hiệp Thạnh thành xã Hiệp Phước; 2 xã Thạnh Đức và Cẩm Giang thành xã Thạnh Giang.

Sau khi ký kết Hiệp định Genève (7.1954) lập lại hoà bình ở Đông Dương, tháng 10-1954 tỉnh Tây Ninh được tách từ tỉnh Gia Định-Ninh và trở lại ranh giới như hiện nay. Thị xã Tây Ninh được thành lập trên phần đất của xã Thái Hiệp Thạnh (bao gồm phần thị tứ nhất của 3 xã Thái Bình, Hiệp Ninh và Ninh Thạnh). Thành lập huyện Toà Thánh (nay là huyện Hoà Thành) gồm các xã: Hiệp Ninh, Long Thành, Ninh Thạnh và Trường Hoà.

Sau chiến thắng Tua Hai năm 1960, ta thành lập tỉnh căn cứ lấy bí số là C.1000 gồm các huyện Châu Thành, Dương Minh Châu, C105 (Tân Biên ngày nay), do đồng chí Hoàng Minh Đạo làm Bí thư. Song, tỉnh C.1000 chỉ tồn tại vài tháng rồi giải thể. Năm 1961, thành lập huyện Bến Cầu với 8 xã: Long Thuận, An Thạnh, Tiên Thuận, Lợi Thuận, Long Khánh, Long Giang, Long Chữ và Rừng Nhum. Cũng trong năm 1961, huyện Gò Dầu được tách ra khỏi huyện Trảng Bàng, huyện Gò Dầu có 6 xã: Thanh Phước, Phước Thạnh, Hiệp Thạnh, Phước Trạch, Thạnh Đức, Cẩm Giang. Cuối năm 1963, huyện Gò Dầu thành lập thêm 2 xã mới là Bàu Đồn, Suối Bà Tươi và thị trấn Gò Dầu.

Tháng 10-1967, chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, Trung ương Cục miền Nam quyết định thành lập 6 phân khu để tạo mũi nhọn đánh vào Sài Gòn- sào huyệt của địch, theo đó huyện Trảng Bàng được nhập về Phân khu I. Năm 1972, huyện Trảng Bàng được trả về Tây Ninh.

Về phía ngụy quyền, năm 1948, chúng thành lập quận Gò Dầu Hạ. Năm 1954 đến 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn giữ ranh giới hành chính cũ của tỉnh Tây Ninh. Từ năm 1956 trở đi, ngụy quyền đã nhiều lần thay đổi ranh giới các quận, xã. Năm 1956, sáp nhập ấp Phước Mỹ (xã Phước Chỉ) về tỉnh Long An. Năm 1958, chia quận Châu Thành làm 2 quận: Phước Ninh và Phú Khương. Năm 1961, đổi tên quận Trảng Bàng thành quận Phú Đức. Năm 1963, sáp nhập xã Bến Củi (quận Khiêm Hanh) vào quận Tri Tâm tỉnh Bình Dương. Năm 1963, để tăng cường tuyến phòng thủ phía tây bắc Sài Gòn, ngụy quyền Sài Gòn thành lập tỉnh Hậu Nghĩa gồm 4 quận: Đức Hoà, Đức Huệ (tỉnh Long An), Củ Chi (tỉnh Gia Định) và Phú Đức (tức huyện Trảng Bàng, Tây Ninh)([3]). Lúc này, tỉnh Tây Ninh còn 4 quận: Phú Khương, Phước Ninh, Hiếu Thiện và Khiêm Hanh, với 8 tổng, 46 xã.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, do nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, tỉnh Tây Ninh đã nhiều lần sắp xếp lại địa giới hành chính huyện, xã cho phù hợp với tình hình mới, gồm 7 huyện và một thị xã. Đến năm 1989, thành lập huyện mới Tân Châu trên phần đất của hai huyện Tân Biên và Dương Minh Châu. Hiện nay, Tây Ninh có 8 huyện và một thị xã với 5 phường, 8 thị trấn và 82 xã.

Tỉnh Tây Ninh thuộc miền Đông Nam Bộ, diện tích tự nhiên 4.035,45km2. Phía Bắc và Tây giáp vương quốc Campuchia với đường biên giới dài 240km, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh 32km và tỉnh Long An 13,5km, phía Đông giáp hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước 123km.

Tây Ninh có địa hình tương đối bằng phẳng có ngọn núi Bà Đen cao 986m, là ngọn núi cao nhất Nam Bộ. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, khu vực núi Bà Đen là địa điểm tốt để cho các cơ sở cách mạng hoạt động, khi bị lộ hoặc bị kẻ thù khủng bố, các cơ sở cách mạng tạm rút về đây ẩn náu chờ thời cơ. Năm 1964, đế quốc Mỹ lợi dụng đỉnh cao núi Bà Đen đã đặt trạm viễn thông nhằm khống chế cửa ngõ phía Tây Bắc Sài Gòn, miền Đông Nam bộ và Đông Campuchia. Nơi đây đã diễn ra những trận chiến đấu ác liệt giữa lực lượng cách mạng và địch để giành giật lẫn nhau từng triền núi, hang đá.

Tây Ninh có hai sông lớn chảy qua, ở phía Tây của tỉnh là sông Vàm Cỏ Đông dài 220km bắt nguồn từ Vương quốc Campuchia băng qua những cánh rừng biên giới chảy vào đất Tây Ninh (dài 180km), xuống tỉnh Long An và đổ ra biển Đông. Dòng sông này rất thuận lợi cho giao thông đường thuỷ. Trong chiến tranh, sông Vàm Cỏ Đông từng là mồ chôn giặc ngoại xâm, là chứng tích ghi dấu bao chiến công oai hùng của quân và dân Tây Ninh. Ở phía Đông có sông Sài Gòn bắt nguồn từ Vương quốc Camphuchia dài 250km chảy qua Tây Ninh theo hướng Bắc Nam. Hiện nay, sông Sài Gòn là nguồn cung cấp nước dồi dào cho hồ Dầu Tiếng, một công trình thuỷ lợi lớn của cả nước.   

  1. NHÂN VĂN VÀ XÃ HỘI

Năm 1921, dân số Tây Ninh có khoảng 200.000 người, năm 1942: 260.000 người, năm 1969 có 335.301 người, năm 1972 có 392.540 người. Sau ngày giải phóng 30-4-1975, dân số có khảng 578.000 người. Theo tổng điều tra dân số, năm 2005 dân số Tây Ninh là 1.027.904 người.

Tây Ninh có 20 dân tộc, đa số là người Kinh, kế đến là dân tộc Khmer, Chăm… Các dân tộc Kinh, Khmer, Chăm, Hoa, Tà Mun đã định cư lâu đời ở Tây Ninh, còn các dân tộc khác mới vào lập nghiệp, định cư sau 30-4-1975.

Dân tộc Kinh sống ở Tây Ninh là những người có nguồn gốc từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và một số tỉnh từ miền Bắc vào cửa sông Cần Giờ theo đường sông lên Tây Ninh trao đổi hàng hoá với người địa phương rồi dần dần trụ lại đây sinh sống. Dân tộc Kinh phát triển ngày càng đông, yêu cầu mở rộng địa bàn sản xuất ngày càng trở nên cấp bách, do đó họ tiến dần đến vùng Trảng Bàng, Gò Dầu và tận chân núi Bà Đen để khai khẩn đất đai lập xóm làng, hình thành nên những vùng cư dân người Kinh đầu tiên ở Tây Ninh. Trước và trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dân tộc Kinh sống chan hoà với các dân tộc anh em trong quá trình sản xuất, chinh phục thiên nhiên, trừ thú dữ và chống giặc ngoại xâm, chống mọi chính sách gây chia rẽ dân tộc của kẻ thù và luôn thể hiện truyền thống yêu nước, đoàn kết trong công cuộc giải phóng đất nước. Dân tộc Khmer sống quây quần với nhau ở từng phum, sóc. Họ sống chủ yếu dựa vào hái lượm, đốt nương, tỉa rẫy. Thời Pháp thuộc, người Khmer sống tập trung ở 4 tổng: Chơn Bà Đen, Taben duyn (Tabel Yul), Băng-chơ-rum và Khăng Xuyên với 15 làng. Qua hai cuộc kháng chiến, chiến tranh tàn phá ác liệt, người Khmer phải di chuyển nhiều nơi, không sống theo từng phum, sóc riêng biệt mà sống chung với người Kinh, phần lớn họ sống ở những vùng rừng và nông thôn hẻo lánh. Dân tộc Chăm đã cùng với người Kinh vùng Trung Trung Bộ đi dần về phía Nam. Sau đó, định cư ở hai nơi là Châu Đốc và Tây Ninh. Tại Tây Ninh, dân tộc Chăm sống tập trung ở 2 xóm: xóm Chăm Đông Tác (nay thuộc ấp Thái Vĩnh Đông, Phường I, thị xã Tây Ninh) và xóm Chăm Tạo Tác (xã Tân Hưng, huyện Tân Châu). Dân tộc Chăm theo đạo Hồi (Islam).

Đồng bào các dân tộc với phong cách sống hào hùng đã đổ ra bao công sức và xương máu để xây dựng và giữ gìn mảnh đất Tây Ninh.

Tây Ninh có 05 tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Hồi giáo, Tin Lành. Số lượng tín đồ đông nhất là ở các tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Cao Đài.

Đạo Phật du nhập vào Tây Ninh cùng với cư dân người Việt, gắn liền với quá trình khai hoang lập ấp, làm ăn sinh sống. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, một số chùa phật cũng là nơi ẩn náu để hoạt động cách mạng của những người yêu nước và cán bộ, đảng viên Cộng sản; cho nên, đạo Phật gần gũi với nhân dân địa phương.

Công giáo ở Tây Ninh với cơ sở đầu tiên là họ đạo Tha La (xã An Hòa, huyện Trảng Bàng) do một số linh mục([4]) trốn chạy lệnh cấm đạo của triều đình Huế lập ra. Năm 1861, thực dân Pháp đánh chiếm Tây Ninh, họ đạo Tha La phát triển mạnh, đã cử nhiều linh mục([5]) lên thành lập họ đạo ở thị xã Tây Ninh và sau đó tiếp tục đi nhiều nơi trong tỉnh để thành lập các họ đạo khác. Nhìn chung, đại bộ phận tín đồ Công giáo là người Việt Nam yêu nước, họ cùng sống, cùng khổ trong xã hội thuộc địa của thực dân Pháp, đều chịu nhiều áp bức bóc lột và căm thù giặc ngoại xâm. Cho nên, đa số tín đồ đã cùng với quần chúng địa phương vượt qua khó khăn, tìm mọi cách giúp đỡ cán bộ, ủng hộ cách mạng, góp phần vào công cuộc giải phóng dân tộc. 

Đạo Cao Đài ra đời năm 1926, do một số quan lại, địa chủ khởi xướng thành lập và được thực dân Pháp cho phép. Trong hai cuộc chiến tranh xâm lược, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đều có âm mưu, thủ đoạn lợi dụng khối quần chúng tín đồ Cao Đài để chống phá cách mạng. Tuy có thủ đoạn khác nhau, nhưng âm mưu cơ bản của chúng là mua chuộc, lợi dụng, lôi kéo, rúng ép, khống chế, kìm giữ để nắm khối quần chúng tín đồ phục vụ âm mưu xâm lược của chúng. Trước tình hình đó, chính sách đối với đạo Cao Đài được Đảng ta quan tâm thực hiện từ năm 1952 và được xem là bước ngoặc đánh dấu sự hình thành chính sách Cao Đài vận của Đảng. Chính sách Cao Đài vận là nhiệm vụ quan trọng đối với phong trào cách mạng ở Tây Ninh đã được Đảng bộ Tây Ninh chú trọng thực hiện trong những năm còn lại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. 

Mùa xuân 1975, với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta giành thắng lợi hoàn toàn, tỉnh Tây Ninh được giải phóng. Quần chúng tín đồ sôi nổi tham gia các phong trào cách mạng, góp phần đắc lực ổn định trật tự trị an trong vùng Toà Thánh. Quần chúng tín đồ Cao Đài lên án, tố cáo những hoạt động lợi dụng đạo chống phá cách mạng để chính quyền kịp thời trấn áp, trừng trị.

Thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước có những quan điểm, chính sách đổi mới đối với tôn giáo, trong đó có đạo Cao Đài, cho nên hoạt động của đạo Cao Đài có nhiều khởi sắc. Quyền tự do tín ngưỡng được đảm bảo hơn bao giờ hết.

Tây Ninh có biên giới giáp với Vương quốc Campuchia, là khu căn cứ địa của cả Nam Bộ, vừa kháng chiến chống giặc ngoại xâm giải phóng Tổ quốc, vừa làm nghĩa vụ quốc tế với cách mạng Campuchia. Hai nước cùng hỗ trợ nhau kháng chiến chống kẻ thù chung. Từ ngày hai nước được hoàn toàn giải phóng, mỗi nước xây dựng đất nước theo con đường do Đảng mỗi nước đã chọn, Tây Ninh đã thực hiện theo đường lối đối ngoại của Đảng ta là độc lập, chủ quyền và đoàn kết hữu nghị. Nhưng từ tháng 5-1975, về phía Campuchia, do có sự xúi giục của bên ngoài, tập đoàn Pôn-pốt đã tiến hành cuộc diệt chủng dân tộc họ và lấn chiếm biên giới Tây Nam của Tổ quốc ta. Tháng 9-1977, chúng đã mở cuộc chiến tranh xâm lược đất nước ta trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, trong đó có đoạn biên giới Tây Ninh.    

Cùng với đặc điểm của vùng biên giới, Tây Ninh còn là tỉnh căn cứ địa cách mạng của Phân Liên khu uỷ miền Đông, Xứ uỷ, sau là Trung ương Cục miền Nam. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, địch đã mở nhiều  cuộc càn quét lớn đánh vào đây nhằm huỷ diệt cơ quan đầu não lãnh đạo cách mạng miền Nam, 60/73 xã bị tàn phá hoàn toàn bởi chiến tranh. Do đó, nhiệm vụ cách mạng của Tây Ninh hết sức nặng nề, vừa chiến đấu diệt địch, vừa bảo vệ căn cứ địa cách mạng của Trung ương Cục miền Nam.

Tây Ninh là tỉnh nghèo, trước giải phóng công nghiệp của tỉnh không đáng kể, ngoài một số cơ sở tiểu thủ công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Tây Ninh có hai quốc lộ 22A và 22B và một số tỉnh lộ, trong chiến tranh bị tàn phá nặng nề, các trục lộ của tỉnh, liên tỉnh bị gián đoạn hoàn toàn. Bước vào giai đoạn mới, Tây Ninh là tỉnh nông nghiệp, xuất phát điểm rất thấp so với các tỉnh miền Đông Nam bộ. Với những khó khăn đó, Đảng bộ và quân dân Tây Ninh đã nỗ lực rất lớn để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Ngày nay dù còn nhiều khó khăn, nhưng tỉnh Tây Ninh được xếp vào vùng kinh tế trọng điểm của các tỉnh phía Nam.

III. KINH TẾ-XÃ HỘI TÂY NINH DƯỚI SỰ CAI TRỊ CỦA THỰC DÂN PHÁP

Song song với việc hành quân đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Tây Ninh, thực dân Pháp lần lượt thiết lập bộ máy cai trị. Chúng đặt toà Tham biện ở Trảng Bàng và Tây Ninh; đưa bọn địa chủ phong kiến phản động vào bộ máy tề ngụy tay sai từ tỉnh, quận xuống tổng, xã.

Sau khi thiết lập bộ máy cai trị, thực dân Pháp bắt tay vào việc vơ vét khai thác tài nguyên của Tây Ninh. Nguồn lợi thiên nhiên chủ yếu của Tây Ninh lúc bấy giờ là lâm sản. Diện tích rừng chiếm phân nửa diện tích đất toàn tỉnh, hầu hết là rừng già. Khai thác gỗ ở đây rất dễ vì địa hình bằng phẳng, tiện lợi cho việc vận chuyển. Thực dân Pháp thấy rõ nguồn lợi kinh tế nói trên, đã thiết lập ngay bộ máy kiểm lâm đồ sộ và chặt chẽ. Ở tỉnh có Sở Kiểm lâm, bên dưới chia thành 7 quận kiểm lâm với nhiều đồn kiểm lâm. Ở mỗi quận Kiểm lâm có một sếp quận thường gọi là “Quan lớn Kiểm” cùng một số viên chức có nhiệm vụ cấp giấy phép khai thác và thu thuế các loại lâm sản. Mỗi đồn kiểm lâm thường có một tên đội, chuyên theo dõi, bắt giữ, phạt vạ những người làm rừng sai quy cách hoặc ăn tiền đút lót của những người làm rừng trái phép.  

Cùng với việc khai thác lâm sản, thực dân Pháp còn bao chiếm nhiều đất đai, lập các đồn điền cao su. Năm 1906, Công ty cao su Đông Dương (S.I.P.H) được thành lập. Công ty này chiếm đất lập ra hàng loạt đồn điền cao su, trong đó có đồn điền cao su Bến Củi. Công ty cao su Tây Ninh thành lập năm 1913, có trụ sở ở Sài Gòn, hoạt động của công ty là kinh doanh đồn điền cao su ở Tây Ninh, với các đồn điền cao su Vên Vên, Trà Võ, Hiệp Thạnh, Cầu Khởi. Một số tư sản người Pháp được sự bao che của chính quyền thực dân cũng bao chiếm đất lập ra một số đồn điền cao su khá lớn như: Sở Arnault (xã Chà Là, huyện Dương Minh Châu), Sở Oconell (xã Thanh Điền, Châu Thành), Sở Sina (xã Phước Thạnh, Gò Dầu), Sở Francini (xã Ninh Thạnh, Châu Thành), Sở Servin (xã Thái Bình, Châu Thành). Địa chủ người Việt cũng có một số sở cao su nhỏ từ 15-20ha, như: ở An Tịnh có 13 sở, Lộc Hưng 16 sở, Gia Lộc 20 sở. Từ Thanh Phước, Phước Thạnh đến Bàu Đồn, đông tây lộ 19, 26 cho đến Cầy Xiêng, Thanh Điền, Thái Bình, Đôn Thuận đều có trồng cao su.

Các đồn điền cao su đem lại nguồn lợi rất lớn cho chính quyền thuộc địa và bọn chủ tư bản người Pháp.

Ngoài việc bóc lột, vơ vét tài nguyên rừng và chiếm đất mở đồn điền cao su, thực dân Pháp còn thực hiện một chế độ thuế khoá hết sức nặng nề. Thuế là nguồn thu chính cho ngân sách toàn Đông Dương và Nam kỳ cũng như ngân sách tỉnh, vì vậy chúng đặt ra đủ loại thuế: thuế điền thổ, thuế nhà cửa, thuế trâu bò, thuế môn bài và cả đến thuế người gọi là thuế thân (còn gọi là thuế đinh hoặc sưu, loại thuế đánh vào đàn ông từ 18 đến 60 tuổi). Thống đốc Nam kỳ quy định mức thuế hàng năm tỉnh phải nộp cho ngân sách chung thường là rất nặng, đồng thời cho phép nếu không thu đủ thì tăng thuế, thậm chí tạo thêm các loại thuế mới để thu([6]).

Đi đôi với vơ vét bóc lột kinh tế, bọn thống trị còn thực hiện chính sách ngu dân, đầu độc văn hoá. Toàn tỉnh chỉ có ba trường tiểu học hoàn chỉnh([7]) với khoảng 400 học sinh, hầu hết là con em của tầng lớp trên. Ở xã chỉ có một lớp vỡ lòng hoặc lớp một, nhưng xã có, xã không. Vài ba xã mới có chung một trường dạy lớp ba. Do vậy, con em nhân dân lao động hầu như chịu cảnh mù chữ hoặc chỉ biết đọc, biết viết. Ngược lại, rượu “Phông-ten” được nhà nước thực dân khuyến khích dân uống, đại lý bán lẻ ở khắp nơi. Tệ nạn cờ bạc, mê tín dị đoan tràn lan khắp xóm ấp, chỗ nào cũng có sòng bạc ngày đêm sát phạt lẫn nhau.

Thực hiện chính sách chia để trị, thực dân Pháp gây tâm lý hận thù dân tộc giữa người Việt và người Khmer, người Chăm, gieo rắc tư tưởng khinh bỉ, kỳ thị, phân biệt đối xử giữa người Kinh với các dân tộc ít người. Ngoài ra chúng còn lợi dụng tính chất phát của người Khmer, người Chăm mà thẳng tay vơ vét, bóc lột, đẩy họ vào cảnh sống quanh năm cơ cực, lầm than. 

Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nền kinh tế Tây Ninh chỉ có một số cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp như xưởng chế biến mía đường Thanh Điền, nhà máy đèn, nhà máy nước thị xã, cơ sở xay xát gạo, trại cưa, lò rèn, lò gốm, lò than, che ép mía, bọng ép dầu… Theo đó, bắt đầu xuất hiện một thành phần xã hội mới là công nhân làm thuê, lúc đầu số lượng không nhiều, có khoảng trên dưới 1.000 người, trong đó hơn 2/3 là bán công. Vào những năm đầu thế kỷ XX, nhiều đồn điền cao su lớn nhỏ ra đời trên địa bàn Tây Ninh, kèm theo các xưởng chế luyện cao su ở Vên Vên, Bến Củi được xây dựng; từ đó, xuất hiện công nhân đồn điền cao su. Khoảng giữa năm 1936, khi các đồn điền cao su mở rộng đến 8.622ha, số công nhân tăng lên đến 3.500 người bán công bán nông và 1.550 công nhân chuyên nghiệp. Họ gồm có dân tại chỗ và những phu mộ từ miền Bắc, miền Trung vào làm theo chế độ contrat([8]) vô cùng hà khắc. Họ bị cảnh ngộ trói buộc, vừa phải lao động hết sức nặng nhọc, mỗi ngày làm việc từ 10 đến 14 giờ, mà đời sống vô cùng cơ cực, cơm ăn không đủ no, quần áo không đủ mặc, chỗ ở chật chội, ốm đau không có thuốc uống, không được đi điều trị ở bệnh viện, hết hạn contrat cũng không thể trở về quê nhà. Không những thế, bọn chủ và xếp cai còn trút lên đầu họ roi vọt, tra tấn nếu bỏ trốn.

Tây Ninh lúc đó là nơi đất rộng người thưa. Nông dân chiếm trên 80% dân số,  là những người trực tiếp khai vỡ đất đai, nhưng không được làm chủ mảnh đất của mình, vì đất mới vỡ nhiều phèn khó canh tác, một số ruộng tốt đều tập trung trong tay bọn địa chủ, công chức kiêm địa chủ, thương gia kiêm địa chủ. Do đó, người nông dân Tây Ninh dưới thời thuộc Pháp cũng bị bóc lột hết sức nặng nề thông qua các hình thức thuế khoá rất hà khắc, nhất là thuế thân.  

Dưới sự cai trị của thực dân Pháp, xã hội Tây Ninh có sự phân hóa thành các giai tầng rõ rệt. Trong đó, công nhân và nông dân là thành phần chủ yếu, ngoài ra còn có các tầng lớp tư sản, địa chủ, trí thức, tiểu tư sản thành thị.

Tầng lớp tư sản ở Tây Ninh mà hầu hết là tư sản vừa và nhỏ hoặc tiểu chủ nắm trong tay các cơ sở chế biến nhỏ, chủ yếu là ngành xay xát gạo và các xí nghiệp thủ công như lò gạch, lò đường, xưởng ép dầu đậu phọng (có bọng ép dầu), lò rèn…các tiểu chủ này cũng bóc lột công nhân.

Đa số địa chủ là chỗ dựa của thực dân Pháp ở cơ sở. Đối với những tên địa chủ tay sai đều được tham gia vào các ban hội tề xã, thực dân Pháp cố tình làm ngơ để bọn này bao chiếm đất ruộng công và đất ruộng của nông dân. Ngoài ra, chúng còn cho bọn này làm chủ thầu khai thác gỗ. Với nguồn lợi đất đai và khai thác gỗ giúp cho bọn địa chủ nhanh chóng trở thành tầng lớp giàu có và nắm nhiều quyền lực ở địa phương, đóng vai trò tay sai đắc lực cho thực dân Pháp trong việc siết chặt bộ máy cai trị của chúng đến tận các xã ở vùng sâu, vùng xa([9]).

Tầng lớp trí thức tiểu tư sản mới hình thành sau khi thực dân Pháp đặt ách cai trị và được Pháp đào tạo để phục vụ cho bộ máy cai trị của chúng. Một bộ phận của tầng lớp này muốn ngoi lên địa vị cao trong xã hội nên khi thành đạt đã gắn bó với chính quyền thực dân, làm lợi cho bọn thống trị ngoại bang.

Trong thời kỳ thực dân Pháp cai trị, ở tỉnh lỵ và thị trấn hình thành tầng lớp lao động thành thị như: phu xe kéo, phu xe thổ mộ, phu quét rác, thợ sửa xe…Lớp người này phải chịu một cuộc sống cơ cực cùng với gánh nặng thuế khoá của thực dân Pháp.

Giai cấp  tư sản và địa chủ ở Tây Ninh chiếm một tỷ lệ không đáng kể so với dân số của tỉnh, nhưng lại là giai cấp có thế lực mạnh nhất trong xã hội thuộc địa, được bọn thống trị nuôi dưỡng làm tay sai cho chúng.

  1. TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH BẤT KHUẤT CHỐNG GIẶC NGOẠI XÂM

Quá trình hình thành và phát triển của tỉnh Tây Ninh gắn liền với quá trình đấu tranh gay go, ác liệt chống giặc ngoại xâm.

Những ngày đầu giữ gìn biên cương của Tổ quốc, ba anh em Huỳnh Công Giản (Ông lớn Trà Vong), Huỳnh Công Thắng, Huỳnh Công Nghệ liên tục đánh dẹp giặc quấy nhiễu biên giới. Công lao của các tướng lĩnh và tinh thần yêu nước bất khuất chống giặc ngoại xâm bảo vệ quê hương của nhân dân Tây Ninh vô cùng oanh liệt.

Năm 1859, giặc Pháp đánh chiếm Gia Định. Tháng 8.1860, Nguyễn Tri Phương được vua Tự Đức cử vào Gia Định nhận chức Thống đốc Quân vụ Đại thần, tổ chức xây dựng phòng tuyến Đại Đồn ở Chí Hoà để ngăn giặc Pháp. Hưởng ứng lời kêu gọi của Nguyễn Tri Phương, nhân dân Gia Định và các vùng xung quanh đã tình nguyện dốc sức xây dựng Đại Đồn một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, do chủ trương “lấy chủ đợi khách”([10]) của Nguyễn Tri Phương, Đại Đồn thất thủ (25.2.1861). Sau đó, trong thế thắng, thực dân Pháp mở rộng cuộc chiến ra các tỉnh miền Đông, chúng chiếm Trảng Bàng, Tây Ninh.

Khi thực dân Pháp đánh chiếm Gia Định, Lãnh binh Tòng([11]) đã từng điều binh ra chống Pháp. Năm 1861, ông đưa gần 300 quân đến chi viện cho đồn Chí Hoà. Quân của Lãnh binh Tòng phải vượt qua các chốt chặn của địch ở Hóc Môn, Bà Điểm, Bà Quẹo, bị tiêu hao nhiều, còn hơn phân nửa đến được Đại Đồn tham gia chiến đấu. Sau khi quân Pháp phá được Đại Đồn, Lãnh binh Tòng tập hợp số quân còn lại rút về Trảng Bàng. Biết thế nào quân Pháp cũng lên đánh chiếm Tây Ninh, ông lo củng cố lại lực lượng, xây dựng tuyến phòng thủ từ xa, mặc dù vũ khí còn thô sơ, lại không được sự chi viện của triều đình, nhưng Ông và quân sĩ vẫn quyết tâm chống giặc đến cùng để bảo vệ quê hương.

Quân Pháp tiến đánh Trảng Bàng, quân của Lãnh binh Tòng kháng cự quyết liệt, do binh lực ít nên tuyến phòng thủ ngoài xa của ông chỉ chống giữ được trong một ngày đã bị quân Pháp phá vỡ; nghĩa quân của ông đành rút vào Tha La (An Hoà, Trảng Bàng) ẩn tránh. Ông cùng hai tùy tùng ở trong nhà một hương chức theo đạo Thiên Chúa. Tại đây, ông phát hịch chiêu mộ quân đánh giặc. Vị hương chức chủ nhà cũng tích cực vận động giáo dân  cũng như quần chúng ở chung quanh tòng quân giết giặc. Công việc mới triển khai được hai ngày thì bị lộ vì có kẻ phản bội, bí mật ra Trảng Bàng chỉ điểm cho quân Pháp về An Hoà bao vây căn nhà ông đang ở. Bọn Pháp đã bắn chết vị hương chức chủ nhà và người tuỳ tùng của Lãnh binh Tòng, đồng thời bắt ông và một tuỳ tùng khác. 

Pháp cấp tốc đưa ông về Sài Gòn. Tại Sài Gòn, chúng dụ dỗ ông qui thuận, hứa sẽ ban chức tước và cho ông tiếp tục cai quản vùng Trảng Bàng. Nhưng chúng không thuyết phục được, cuối cùng đày ông đi biệt xứ ra đảo Guyane([12]). Sau một thời gian, ông mất tại đảo.  

Khi Tây Ninh bị quân Pháp tiến chiếm, ông Khâm Tấn Tường giữ chức Tham tán Quân vụ ở Phủ Tây Ninh, đã không tuân lệnh bãi binh của triều đình, ông rút về An Cơ([13]), chiêu mộ nghĩa quân, mua sắm vũ khí, lương thực, dựa vào địa hình thuận lợi của rừng, tổ chức chống Pháp. Thành An Cơ có bề mặt bờ thành rộng khoảng 2m, chiều dài hàng mấy cây số, bao bọc một khu đất rộng, ba mặt thành dựa vào khúc cong của sông Sóc Om, trên mặt tiền bờ thành cao có luỹ tre dày kiên cố. Nghĩa quân bố trí hai cánh giữ thành chống lại giặc Pháp. Với cách đánh, một là dùng gỗ treo trên cao cho lao xuống; hai là dùng dầu chai nấu sôi, thụt bắn dầu ra xa, được gọi là cách đánh “hoả hổ”.

Quân Pháp từ Tây Ninh tấn công lên An Cơ, bị nghĩa quân Khâm Tấn Tường đánh bị thương và chết khá nhiều, buộc phải rút lui. Sau đó, thực dân Pháp tăng cường thêm lực lượng tinh nhuệ, tấn công nhiều mặt vào thành An Cơ, mặt sau thành do Hương trùm Hạt (ở Tầm Long), tay sai quân Pháp dẫn đường. Lần này chúng phá được thành, ông Khâm Tấn Tường không để cho giặc bắt, đã tử tiết tại chỗ. Nhân dân kính phục, thương xót, đưa thi hài ông về chôn cất tại Bến Thứ và lập miếu thờ ông tại đây.

Trong quân ngũ của ông Khâm Tấn Tường còn có nhiều lãnh binh chống Pháp vô cùng oanh liệt. Tiêu biểu là Lãnh binh Két. Nhân dân ở Trảng Bàng và Bến Cầu truyền tụng nhiều về chuyện Lãnh binh Két đánh Pháp([14]). Ở vùng Long Giang, Long Khánh…(huyện Bến Cầu ngày nay) lúc bấy giờ đều là rừng, nghĩa quân của ông Lãnh binh Két đã lợi dụng rừng cây rậm rạp và đêm tối trời để tấn công các đồn giặc. Ông đưa quân bám sát và theo dõi các đồn quân Pháp, khi thấy sơ hở lập tức điều quân bất thần đột kích vào đồn, phóng hoả đốt đồn và dùng gươm giáo, mũi tên tẩm thuốc độc tiêu diệt giặc Pháp, làm cho giặc Pháp trở tay không kịp và sau đó rút lui nhanh về rừng rậm khi trời đang còn tối. Khi giặc Pháp tập trung quân truy lùng, Lãnh binh Két cho quân phân tán thành nhiều nhóm nhỏ ở trong dân, tránh đụng độ trực tiếp với giặc. Quân Pháp không tài nào phát hiện được quân của Lãnh binh Két. Cứ như thế quân của ông đã nhiều lần tập kích vào các đồn giặc ở Gò Dầu, Trảng Bàng… gây cho chúng không ít tổn thất về vật chất và sinh mạng. Sau khi Lãnh binh Két mất, nghĩa quân của ông cũng giải tán.

Trong 5 năm 1861-1866, trên đất Gia Định, Biên Hoà và Định Tường có nhiều cuộc nổi dậy đánh Pháp. Nổi bật nhất là cuộc nổi dậy của Trương Định.

Sau khi Trương Định hy sinh ở rừng lá Gò Công, cháu của ông là Trương Quyền([15]) tiếp tục đứng lên chống Pháp. Ông đưa nghĩa quân về rừng Tây Ninh, lập căn cứ ở Băng Dung (Phước Vinh) và liên kết với nghĩa quân Pô-kum-Pô([16]) để chống Pháp.

Sau thời gian xây dựng lực lượng, Trương Quyền thấy phải chiếm tỉnh lỵ Tây Ninh làm bàn đạp tiến về Sài Gòn. Trận đánh diễn ra vào ngày 7.6.1866. Lính Pháp ở đồn Cầu Quan thấy đám đông hàng nghìn người tiến về tỉnh lỵ, viên đại uý đồn trưởng Savin de Larclauze chủ quan lệnh cho đại uý Pinault đem quân đến đàn áp. Cậy có vũ khí tối tân, Pinault hung hăng cùng thiếu uý Lesage dẫn 20 lính trong đồn xông ra định giải tán đám đông quần chúng ở Bến Trường Đổi (cách Cầu Quan trên 1km). Không ngờ hắn bị quần chúng bao vây, chặn đường rút lui về đồn. Hoảng sợ, hắn liền rút súng bắn vào đám đông làm vài người bị thiệt mạng. Hắn tưởng quần chúng sẽ hốt hoảng bỏ chạy, không dám chống lại, nhưng lập tức hắn bị giết ngay. Tên thiếu uý Lesage thúc quân xông tới, bắn loạn xạ vào quần chúng. Nhưng chỉ mấy phút sau, hắn cũng bị quần chúng ùa tới giết chết cùng 9 tên lính Pháp, số còn lại sợ hãi vội vàng tháo chạy về đồn.

Quan binh Pháp ở Tây Ninh hoảng sợ, tên đại úy đồn trưởng Savin de Larclauze cấp báo về Gia Định xin viện binh. Thống đốc Nam kỳ là đô đốc De la Grandière phái hai đạo thuỷ quân và lục quân do thiếu tá Marchaise chỉ huy từ Sài Gòn lên cứu nguy cho đồng bọn ở Tây Ninh.

Đến Tây Ninh, Marchaise thấy bốn bề yên tĩnh, không biết nghĩa quân của Trương Quyền ở đâu. Hắn tổ chức hành quân truy kích, lùng sục khắp vùng 6 ngày cũng không tìm thấy, đến 3 giờ chiều ngày 14.6.1866, chúng mới đụng độ nghĩa quân tại Rạch Vịnh. Trận chiến này đã được báo tiếng Pháp “Tin tức Sài Gòn”([17]) đăng tải khá tỉ mỉ:

“Kích thích bởi lòng căm thù đối với những kẻ thù (nghĩa quân) cho đến lúc bấy giờ không thấy mặt, những người lính của chúng ta (quân Pháp) đã mở ra tuyến tán binh và vượt suối để lao tới. Họ gặp một cánh đồng lầy và ở đó họ chịu đựng một trận đánh không cân sức với một lực lượng có số quân đông áp đảo.

Thế là, chiến trận đẫm máu đã diễn ra, trong đó người ta phải đánh giáp lá cà, thiếu tá Marchaise bị giết tại Rạch Vịnh. Đến 5 giờ chiều quân Pháp không còn nghĩ đến việc ở lại giữa cái đầm lầy này để bao vây đối phương nên đã rút về, và mãi đến 3 giờ sáng hôm sau mới đến được nơi đồn trú”.

Một lần nữa quân Pháp thất trận và phải mở đường máu chạy về đồn Tây Ninh với tinh thần hoang mang lo sợ. Với cách đánh táo bạo và bất ngờ, đêm 23.6.1866 Trương Quyền đưa quân tấn công vào Sài Gòn theo hai cánh:

Cánh quân thứ nhất do Trương Quyền trực tiếp chỉ huy đột nhập vào vùng Chợ Lớn, thọc sâu vào đồn Thuận Kiều, đánh giáp lá cà với bọn kỵ binh, diệt nhiều quân Pháp. Đến rạng sáng hôm sau (24.6.1866), nghĩa quân tiêu diệt hết quân Pháp trong đồn. Quân Pháp tiếp viện ngày càng đông. Cuộc chiến đấu quanh đồn Thuận Kiều diễn ra thêm ác liệt giữa ban ngày nên không thuận lợi cho nghĩa quân, Trương Quyền đã mưu trí cho quân rút khỏi đồn Thuận Kiều.

Cánh quân thứ hai thọc sâu vào Hóc Môn- Bà Điểm, tấn công vào quân Pháp đồn trú tại đây, quân Pháp từ Gia Định, Gò Vấp lên tiếp viện, nghĩa quân đánh nhau với giặc cho tới sáng rồi mới rút về Củ Chi.

Cuộc tập kích của nghĩa quân Trương Quyền làm chấn động cả Gia Định, nhất là chiến thắng ở đồn Thuận Kiều đã làm cho quân Pháp tổn thất lớn.

Sau chiến thắng đồn Thuận Kiều, Trương Quyền cho nghĩa quân rút về Tây Ninh, phối hợp với nghĩa quân Pô-kum-Pô tiếp tục chống Pháp.

Ngày 02.7.1866, quân Pháp điều quân đánh vào căn cứ của nghĩa quân. Nghĩa quân đã bám sát giặc và phản công vào lúc 12 giờ trưa hôm ấy tại cánh rừng nhỏ ở Trà Vong. Bị tổn thất nặng, quân Pháp hốt hoảng bỏ chạy. Trưa hôm sau, chúng lại rơi vào trận phục kích khác trên đường về. Đêm ấy, nghĩa quân Việt-Khmer đánh vào Tây Ninh, đốt phá công  sở của bọn lính Pháp và nhà cửa của những tên tay sai.

Bị thua đau, quân Pháp từ Sài Gòn tăng viện cho Tây Ninh thêm 200 lính Pháp, trong đó có 100 lính tập, 50 lính thuỷ. Chúng tăng cường truy tìm căn cứ của liên quân Việt-Khmer để hoạch định một trận đánh lớn. Không phát hiện nơi đóng quân của Trương Quyền, chúng quay sang tấn công vào Rạch Vịnh, nơi chúng đoán là căn cứ của Pô-kum-Pô. 

Giữa tháng 7.1866, quân Pháp tấn công vào Rạch Vịnh. Trước tiên chúng cho pháo bắn dọn đường, đoàn kỵ binh tiến trước, quân lính tiến theo. Hai bên giao chiến tại Rạch Vịnh hơn nửa ngày, quân Pháp có ưu thế về lực lượng, có pháo binh yểm trợ, binh lính nhiều đạn dược, căn cứ Pô-kum-Pô bị trúng pháo, các ổ súng đồng cũng bị hư hại, nghĩa binh bị thương và hy sinh khá nhiều. Trong tình thế bất lợi, Pô-kum-Pô quyết định phân tán nhỏ lực lượng để tránh mũi nhọn tấn công của giặc Pháp. Sau đó, Pô-kum-Pô rút về Campuchia và nghe đồn năm sau (1867) thì mất.

Trong khi đó, Trương Quyền và nghĩa quân của ông khôn khéo khi ẩn, khi hiện ở nhiều nơi, khi đánh ở phía nam tỉnh, khi đánh ở phía bắc tỉnh. Về sau Trương Quyền yếu hẳn, nghĩa quân tan rã vì thiếu vũ khí, lương thực, thuốc men, đạn dược không có, ông về rừng Bến Kéo lập trại dưỡng bệnh và tạ thế ngày 20 tháng 8 âm lịch năm 1871 ở Bến Kéo, thọ 55 tuổi.

Cuộc chiến đấu oanh liệt của Trương Quyền và nghĩa quân của ông đã làm cho quân Pháp trả giá khá đắt về sinh lực mới tạm dẹp yên được cuộc nổi dậy trên đất Tây Ninh.

Tiếp theo nghĩa quân Trương Quyền còn có các tổ chức yêu nước khác như Thiên Địa hội do ông Hồ Văn Chư đứng đầu ở An Tịnh, Trảng Bàng; ông Nguyễn Văn Phát ở An Hoà và nhiều vị khác ở Gia Bình, Vàm Trảng…nổi lên hoạt động, nhưng không thu được kết quả gì đáng kể.

Tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm của nhân dân Tây Ninh dưới sự lãnh đạo của các quan lại địa phương đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp trong toàn tỉnh, nhưng không làm xoay chuyển được tình thế, bởi so sánh tương quan lực lượng quá chênh lệch, một bên là nhân dân yêu nước đã bị triều Nguyễn giao nộp ba tỉnh miền Đông cho giặc Pháp từ năm 1862, lại phải đương đầu với đội quân viễn chinh của thực dân Pháp.

Đất Tây Ninh dẫu mất vào tay bọn xâm lược Pháp, nhưng truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của dân Tây Ninh được tôi luyện, phát huy mạnh mẽ khi có ánh sáng của Đảng Cộng  sản Việt Nam vào Tây Ninh.

CHƯƠNG II

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN

TỪ KHI CÓ ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẾN CÁCH MẠNG

THÁNG TÁM  NĂM 1945

(1930- 1945)

  1. TẬP HỢP QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN ĐOÀN KẾT ĐẤU TRANH ĐÒI DÂN SINH DÂN CHỦ, TIẾN TỚI HƯỞNG ỨNG CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KỲ (1930- 1940)

Chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Tây Ninh đã đưa tới mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa bọn thống trị Pháp cùng bọn tay sai với đại đa số quần chúng nhân dân lao động, trong đó giai cấp nông dân và công nhân cao su là lực lượng đông đảo và chủ yếu trong cuộc đấu tranh giành quyền sống, quyền tự do. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh trước khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, hơn 300 anh em phu làm đường Quốc lộ 22 đi Kompong-Chàm, chống lại bọn chủ thầu để đòi tăng lương.

Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, Đảng đề ra đường lối cách mạng là chống đế quốc, chống phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc , người cày có ruộng. Đường lối này nhanh chóng được các tầng lớp nhân dân tích cực hưởng ứng.

Các tỉnh có phong trào cộng sản hoạt động mạnh như Gia Định, Chợ Lớn, Thủ Dầu Một… ảnh hướng của Đảng bắt đầu lan rộng đến Tây Ninh.

 Đồng chí Võ Văn Lợi ([18]) từ Bà Điểm (Hóc môn), lên Giồng Nần (huyện Châu Thành), vừa sinh sống vừa tuyên  truyền giác ngộ quần chúng chống Pháp. Sau gần một năm hoạt động bí mật, năm 1930 đồng chí Lợi được chi bộ Đảng ở Bà Điểm kết nạp vào Đảng, rồi nhận nhiệm vụ về Tây Ninh tiếp tục hoạt động và xây dựng phong trào cách mạng. Đồng chí Lợi giác ngộ được 4 quần chúng tốt là anh Trương Văn Chẩn, Trương Văn Phú, Nguyễn Văn Viết, Trần Văn Luông làm nòng cốt cho phong trào. Kế hoạch của đồng chí Lợi là thông qua tuyên truyền vận động quần chúng để đến cuối năm 1930 sẽ tiến hành tổ chức Nông hội đỏ ở một số nơi, đồng thời lựa chọn những người ưu tú đề nghị Chi bộ ở Bà Điểm kết nạp vào Đảng, sau đó hình thành cơ sở Đảng tại đây. Nhưng kế hoạch này không thực hiện được vì đồng chí Võ Văn Lợi bị địch bắt và đày ra Côn Đảo. Địch tăng cường khủng bố gắt gao, các quần chúng tích cực hoạt động cách mạng ([19]) phải đổi vùng hoạt động sang đất Campuchia vào các làng người Việt như Trà Ky, Ba Ti, Truông Cồng…vừa cày thuê gặt mướn để sống, vừa móc nối với tổ chức Đảng ở Ba Ti([20]). Một thời gian sau, các quần chúng tích cực được chi bộ ở Ba Ti kết nạp vào Đảng và trở về hình thành cơ sở Đảng tiếp tục hoạt động ở Giồng Nần, Long Giang, Long Khánh thuộc huyện Châu Thành.

Tại Giồng Nần, các đồng chí vận động quần chúng nhân dân vào các hội vạn công cấy, công gặt, các hội ái hữu tương tế, đồng thời chọn một số người để thành lập tổ chức Nông hội đỏ, gồm các đồng chí: Trần Thị Tỏ, Trương Thị Thìn, Nguyễn Văn Chua, Trương Thị Lệ, Trương Văn Tàu, Lê Văn Rùm, Trương Văn Võ, Lê Văn Bương (Trương Hổ), Trương Văn Du, Lê Văn Sáu, Phạm Văn Tồn và Huỳnh Văn Dần([21]). Nhiệm vụ chủ yếu của Nông hội đỏ là lãnh đạo nông dân đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống sưu cao thuế nặng, chống áp bức bóc lột. Qua quá trình hoạt động, cơ sở Đảng ở vùng Giồng Nần bị địch theo dõi ráo riết, trong chuyến đi liên lạc với cơ sở Đảng ở Bà Điểm, hai đồng chí Nguyễn Văn Viết, Trần Văn Luông bị địch bắt và đày đi mất tích, còn lại hai đồng chí Trương Văn Chẩn và Trương Văn Phú vẫn giữ liên lạc với tổ chức Đảng ở Ba Ti, nhưng không gây dựng được phong trào và cũng không phát triển được cơ sở Đảng.

Ở Long Giang, Long Khánh, Long Chữ, hai đồng chí Đặng Văn Son và Nguyễn Văn Độ cũng hoạt động hết sức bí mật. Các đồng chí dựa vào tập quán sinh hoạt của nhân dân địa phương như vạn cấy, đám cưới, đám xác, cúng miễu…để tuyên truyền vận động quần chúng, đồng thời vẫn liên lạc với tổ chức Đảng ở Ba Ti. Cuối năm 1930, nhận lệnh hưởng ứng “Phong trào Xô Viết Nghệ Tỉnh”, các đồng chí treo khẩu hiệu “thả tù chính trị Nghệ An đỏ” trên các ngọn cây cao ở nhiều vùng thuộc xã Long Giang, Long Khánh, Long Thuận. Thời gian này là cao trào đấu tranh của cả nước, bọn địch điên cuồng khủng bố, đàn áp cách mạng. Nhưng hai đồng chí Nguyễn Văn Độ, Đặng Văn Son nhờ ý thức giữ bí mật tốt, nên vẫn tuyên truyền vận động , gây dựng được lực lượng nòng cốt cho phong trào. Tuy nhiên, hoạt động của các đồng chí chỉ trong một phạm vi nhỏ hẹp, chưa gây được phong trào rộng lớn.

Tháng 5.1931, đồng chí Nguyễn Văn Độ trong chuyến đi công tác bị địch bắt, tra tấn dã man, đồng chí kiên quyết không khai báo, địch đày đồng chí Độ ra Côn Đảo. Sau đó địch mở rộng khủng bố truy tìm những người cộng sản đến tận làng người Việt ở Ba Ti trên đất Campuchia, các đồng chí ở đây phải phân tán nhỏ để tránh sự khủng bố của địch. Đồng chí Hai Giáp từ Ba Ti chuyển về vùng Long Khánh cùng với đồng chí Đặng Văn Son tiếp tục hoạt động cách mạng.

Sau phong trào Xô Viết Nghệ Tỉnh (1930-1931), thực dân Pháp tiến hành cuộc khủng bố trắng nhằm dập tắt ngọn lửa đấu tranh của quần chúng, phong trào cách mạng cả nước tạm thời lắng xuống, Tây Ninh cũng nằm trong tình trạng chung của cả nước, các đồng chí đảng viên và quần chúng nòng cốt tạm thời ẩn náu, giữ gìn bí mật lực lượng chờ thời cơ. Năm 1934-1935, phong trào cách mạng ở Tây Ninh dần khôi phục trở lại do đồng chí Lên (Tư Địa) là cán bộ Liên Tỉnh uỷ đến rừng Bàu Sen, Bàu Dài (thuộc huyện Dương Minh Châu ngày nay) hoạt động tuyên truyền, giác ngộ quần chúng. Từ đây, đồng chí Lên chuyển lên vùng Quán Cơm (nay thuộc Phường I, Thị xã Tây Ninh), trụ lại một thời gian rồi mở rộng phạm vi hoạt động ra các xã Ninh Thạnh,Thái Bình, Thanh Điền. Qua quá trình tuyên truyền vận động cách mạng, đồng chí Lên đã lựa chọn và kết nạp vào Đảng một số đồng chí, như: Nguyễn Văn Chấn, Nguyễn Văn Dú, Huỳnh Văn Sự, Trần Văn Đẩu, Trần Văn Mạnh, Nguyễn Văn Giang…hình thành cơ sở Đảng ở Quán Cơm. Về sau, đồng chí Lên đến hoạt động vùng Cẩm Giang (Gò Dầu), Đôn Thuận (Trảng Bàng) và kết nạp thêm đồng chí Xuyến.

Qua cao trào cách mạng 1930- 1931 và Xô Viết Nghệ Tỉnh, Đảng thấy rõ hơn vai trò của Mặt trận Dân tộc thống nhất chống đế quốc ở Đông Dương, ngày 18-11-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị thành lập Hội phản đế đồng minh nhằm tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, các thành phần dân cư, các giới và tổ chức đoàn thể vào Hội để đấu tranh vì mục tiêu chung là quyền lợi của dân tộc.

Đến năm 1935, phong trào cách mạng dần dần được khôi phục, nhưng hoạt động chủ yếu vẫn là tuyên truyền về sự khổ nhục của người dân mất nước, phải sống cảnh đời nô lệ, vạch trần sự áp bức, bóc lột của bọn thống trị và tay sai của địa phương, kêu gọi quần chúng đứng vào hàng ngũ đấu tranh để giải phóng mình, giành lại quyền sống tự do, giành lại cơm áo và ruộng đất.

Trong khi đó tình hình thế giới có nhiều chuyển biến, Chủ nghĩa phát xít ra đời, đe dọa hòa bình thế giới. Trong hoàn cảnh đó, Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ 7 (7- 1935) tổ chức tại Mát-cơ-va (Liên Xô) đề ra chủ trương thành lập Mặt trận Bình dân ở các nước, tập hợp rộng rãi các lực lượng dân chủ đấu tranh chống phát xít và nguy cơ chiến tranh.

Tháng 4-1936, Mặt trận Bình dân Pháp có Đảng Cộng sản Pháp tham gia làm nòng cốt giành được thắng lợi trong cuộc tổng tuyền cử và lập ra Chính phủ Mặt trận Bình dân có xu hướng chính trị tiến bộ, ban hành một số quyền tự do dân chủ tại các nước thuộc địa.

Trước tình hình đó, Đảng Cộng sản Đông Dương mở Hội nghị Trương ương lần thứ nhất ở Thượng Hải (Trung Quốc) bàn chủ trương và đường lối đấu tranh cách mạng trong giai đoạn mới. Hội nghị nhận định rằng: kẻ thù cụ thể trước mắt của nhân dân Đông Dương lúc này chưa phải là thực dân Pháp nói chung, mà là bọn phản động thuộc địa Pháp và bọn tay sai không chịu thi hành các chính sách của Mặt trận Bình dân Pháp ở các nước thuộc địa. Từ đó quyết định nhiệm vụ trước mắt của nhân dân Đông Dương là: “chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, chống bọn phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do dân chủ, cơm áo và hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ đó, Hội nghị thành lập “Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương” (tháng 3-1938 đổi thành Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương), nhằm tập hợp mọi lực lượng bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị, các tôn giáo, các dân tộc ở toàn xứ Đông Dương cùng nhau đấu tranh giành tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình.

Tháng 6-1936, chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp lên cầm quyền đã ảnh hưởng đến tình hình chính trị ở Đông Dương. Bọn thực dân Pháp ở Đông Dương cũng phải nới rộng một số quyền tự do, dân chủ cho nhân dân. Phong trào quần chúng hoạt động công khai phát triển rầm rộ khắp nơi. Tại Tây Ninh, phong trào cách mạng được nhen nhóm trở lại đấu tranh công khai, hợp pháp. Nổi bật là nhóm thanh niên ở Phước Chỉ (huyện Trảng Bàng), gồm các anh Lê Văn Vẳng, Dương Quang Thạnh và Bùi Văn Ngỡi được sự chỉ đạo của Tổng uỷ Cầu An Thượng (thuộc Quận uỷ Đức Hòa- Long An ngày nay) đã đứng ra thành lập Hội ái hữu, giúp nhau cày cấy, lo liệu ma chay, đám cưới, đám giỗ, ốm đau, túng thiếu…Hội phát triển mạnh mẽ, thu hút nhiều thanh niên vào làm việc nghĩa và được quần chúng đồng tình ủng hộ. Riêng tại ấp Phước Hưng (xã Phước Chỉ), Hội ái hữu có hàng trăm hội viên hoạt động công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp. Ở chợ Rạch Tràm, hình thành các nhóm xin giảm thuế được đông đảo quần chúng đồng tình ủng hộ. Năm 1938, phong trào quần chúng hoạt động công khai khá mạnh, đủ điều kiện tiến tới thành lập một Ủy ban hành động, đặt trụ sở tại chợ Rạch Tràm. Việc thành lập Ủy ban hành động là hình thức sơ khai của Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương trong điều kiện đấu tranh mới. Ủy ban hành động cử người đi Sài Gòn mua các tờ báo công khai như: báo Tranh Đấu, báo Dân Chúng về phổ biến rộng rãi trong quần chúng bằng hình thức tổ chức các buổi đọc báo tập thể.

Trước sự phát triển của phong trào dân chủ, bọn thống trị ở địa phương phải lo sợ tìm cách ngăn chặn. Tháng 6-1938, chúng cho tên Quản Điểm đem lính từ thị xã Tây Ninh về đóng đồn ở Rạch Tràm và cấm không cho tụ họp quá 20 người. Trước tình hình đó, Ủy ban hành động tổ chức từng đợt khoảng 18-19 người vào phòng họp nghe đọc báo.

Tháng 8-1938, Renoux, Tỉnh trưởng Tây Ninh, phải trực tiếp đến chợ Rạch Tràm tổ chức một cuộc diễn thuyết trước quần chúng. Ủy ban hành động vận động hàng trăm quần chúng đến nghe Renoux diễn thuyết, rồi nhân đó chuyển thành cuộc đấu tranh đưa yêu sách đòi giảm thuế. Các anh Lê Văn Vẳng, Bùi Quang Ngỡi, Dương Quang Thanh nhân danh những người tham dự đưa yêu sách xin giảm thuế lên tỉnh trưởng. Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, tên tỉnh trưởng Renoux phải nhận bản yêu sách và hứa sẽ báo cáo lên Thống đốc Nam kỳ, xem xét giải quyết. Cuộc đấu tranh của quần chúng giành thắng lợi bước đầu.

Sau cuộc đấu tranh này, các anh Lê Văn Vẳng, Bùi Quang Ngỡi, Dương Quang Thạnh được Tổng uỷ Cầu An Thượng kết nạp vào Đảng, hình thành cơ sở đảng vùng Phước Chỉ.

Cũng trong cao trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, ngày 21-9-1939, đồng chí Trần Văn Mạnh vận động tổ chức trên 200 công nhân sở cao su Franchini (xã Thái Bình, Châu Thành) đấu tranh đòi cung cấp nước nóng cho công nhân uống lúc làm việc  và trả lương tháng trước, phản đối đánh đập, v.v… Cuộc đấu tranh đã giành thắng lợi.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đến năm 1939 ánh sáng của Đảng đến với Tây Ninh, qua phong trào cách mạng, Đảng đã bồi dưỡng, đào tạo được đội ngũ cốt cán là người địa phương và hình thành các cơ sở Đảng ở Giồng Nần, Quán Cơm, Phước Chỉ. Các cơ sở Đảng đã tập hợp rộng rãi quần chúng và lãnh đạo quần chúng đứng lên đấu tranh để giải phóng mình, giành lại quyền sống, quyền tự do, góp phần xứng đáng vào phong trào chung của cả nước.

Ngày 1-9-1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ngay khi chiến tranh nổ ra, tại Pháp, Chính phủ phản động Đa-la-đi-ê lên cầm quyền thay thế Chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp đã đi vào con đường phát xít hoá, giải tán Đảng Cộng sản Pháp, thủ tiêu luật xã hội, huỷ bỏ các quyền tự do dân chủ. Lợi dụng tình hình đó, bọn cầm quyền Pháp ở Đông Dương thẳng tay đàn áp phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Tại tỉnh Tây Ninh, tên Tỉnh trưởng Renoux ra lệnh giải tán các tổ chức dân chủ ở Phước Chỉ và Châu Thành, bắt các đồng chí Bùi Quang Ngỡi, Lê Văn Vẳng, Dương Quang Thạnh và Trần Văn Mạnh. Sau 15 ngày bị giam cầm và tra tấn, chúng không khai thác được gì nên phải thả các đồng chí. Phong trào Mặt trận dân chủ trong tỉnh bị dập tắt. Tuy vậy, với những hình thức tổ chức đơn giản như vạn cấy, cúng miễu, cúng đình…Đảng đã tuyên truyền vận động, đoàn kết được hàng ngàn quần chúng. Đường lối của Đảng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, uy tín và ảnh hưởng của Đảng lan rộng. Vai trò của Mặt trận tiếp tục phát huy ở những giai đoạn cách mạng sau.

Trước sự chuyển biến của tình hình trong nước và thế giới, tháng 11-1939, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ sáu tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) đề ra chủ trương: Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để tranh lấy giải phóng dân tộc. Để tập trung mọi lực lượng của dân tộc vào nhiệm vụ chủ yếu là chống chiến tranh đế quốc và ách thống trị của phát xít thuộc địa, Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ không còn thích hợp; tạm gác lại khẩu hiệu cách mạng ruộng đất và thay bằng chính sách chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc và những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc; thay khẩu hiệu lập chính quyền Xô Viết công nông bằng khẩu hiệu lập chính phủ liên bang cộng hoà dân chủ Đông Dương. Đây là nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược quan trọng của Đảng thể hiện sự nhạy bén về chính trị và sự sáng tạo trong lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương[22].

Cho đến thời gian này, tỉnh Tây Ninh chưa có Đảng bộ chính thức, nên các đảng viên không được học nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 11- 1939). Nhưng nhờ liên lạc với tổ chức Đảng ở Đức Hoà (qua cơ sở Đảng ở Phước Chỉ), Gia Định, Thủ Dầu Một (qua đồng chí Lên, cán bộ Liên Tỉnh uỷ), các đảng viên ở Tây Ninh kịp thời chuyển hướng hoạt động, rút vào bí mật, thành lập các tổ chức Nông hội đỏ, phân tán theo từng nhóm nhỏ từ 3 đến 5 người, chuẩn bị lực lượng quần chúng, chờ thời cơ nổi dậy hương ứng cuộc khởi nghĩa.

Trong khi Đảng bộ và nhân dân Nam kỳ đang chuẩn bị khởi nghĩa, tháng 9- 1940, phát xít Nhật nhân cơ hội Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức (6-1940) cho quân vượt biên giới Việt- Trung đánh vào Lạng Sơn, đồng thời cho quân đổ bộ vào Đồ Sơn. Sau vài trận thử sức, quân Pháp mau chóng đầu hàng, dâng Đông Dương cho phát xít Nhật, nhân dân Đông Dương lâm vào cảnh “một cổ hai tròng”. Cuộc sống vốn đã cơ cực lại càng thêm cơ cực hơn vì thuế khoá tăng vọt, tô tức nặng nề… Song nhân dân Việt Nam không chịu khuất phục, ngày 27-9-1940, nhân dân ở Bắc Sơn đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.

Tình hình này đã thổi bùng thêm ý chí Khởi nghĩa ở Nam kỳ, Xứ uỷ Nam kỳ mở Hội nghị tại Xuân Thới Đông (nay thuộc xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh) quyết định khởi nghĩa. Ngày 20-11-1940, lệnh khởi nghĩa được gởi đi các nơi với quyết định toàn Xứ đồng loạt khởi nghĩa vào đêm 23-11-1940.

Tây Ninh nhận lệnh từ Đức Hoà, các đồng chí đảng viên ở Phước Chỉ mở cuộc họp chi bộ[23], gồm các đồng chí Lê Văn  Vẳng , Bí thư chi bộ, Bùi Quang Ngỡi, Trần Quang Thanh và Thân Văn Củ tại khu rừng cấm ở ấp Phước Hưng (xã Phước Chỉ). Đồng chí Lê Văn Vẳng, Bí thư chi bộ phổ biến lệnh khởi nghĩa và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận. Đêm 23-11-1940, nhận được lệnh hành động, các đồng chí huy động lực lượng Nông hội đỏ đào phá các đoạn đường xung yếu vào chợ Rạch Tràm, chặt đứt dây cáp chiếc xà lan làm phà qua sông; huy động lực lượng thanh niên vũ trang  bằng giáo mác sẵn sàng bao vây chiếm bót cảnh sát ở chợ Rạch Tràm. Mọi việc đang diễn ra khẩn trương thì khoảng nửa đêm có lệnh báo cuộc khởi nghĩa bị lộ, địch đang đàn áp phong trào, phải phân tán ngay lực lượng và có kế hoạch né tránh để đề phòng địch khủng bố trắng.

Ở Phước Trạch (Gò Dầu), đồng chí Đoàn Văn Tùng lãnh đạo một nhóm quần chúng đốn cây sao cặp quốc lộ 22 để ngăn đường tiến quân của quân Pháp một khi cuộc khởi nghĩa nổ ra.

Ở phía Bắc thị xã, các đảng viên của cơ sở đảng ở Quán Cơm cũng nhận được lệnh chuẩn bị khởi nghĩa (qua đồng chí Chín là liên lạc của Xứ uỷ), các đồng chí tổ chức một đội du kích gồm một số anh em phu cao su, chuẩn bị cờ Đảng, vũ khí (giáo, mác), ghi tên bọn hội tề có súng khi khởi nghĩa nổ ra. Đêm 22-11-1940, các đồng chí họp bàn kế hoạch cụ thể, sẵn sàng hành động khi có lệnh, nhưng sau đó có lệnh tạm ngừng khởi nghĩa. Tại đây, tên Hương chánh Cây tố giác với bọn Pháp, anh em hay tin phải phân tán, tạm lánh lên biên giới Campuchia.

Ở vùng Giai Hoá, các đảng viên ở cơ sở đảng ở Giồng Nần cũng chuẩn bị khởi nghĩa, nhưng vì liên lạc khó khăn, nên khi biết tin khởi nghĩa đã chậm.

Tại Tây Ninh, công tác chuẩn bị khởi nghĩa được tiến hành ráo riết, đến giờ phát lệnh là nổi dậy. Nhưng ở Sài Gòn, cuộc khởi nghĩa đã bị lộ từ trước do gián điệp của Pháp chui vào tổ chức của ta. Giặc Pháp kịp thời thông báo đi các nơi, ra lệnh đề phòng, ngăn chặn và sẵn sàng đàn áp. Ở chợ Rạch Tràm, địch cho tập trung một trung đội lính lê dương tiến hành lùng sục và nửa đêm kéo vào xóm phóng lửa đốt nhà của một số anh em tham gia việc chuẩn bị khởi nghĩa.Hôm sau, chúng cho tàu thuỷ từ Sài Gòn lên, chạy dọc theo bờ sông, bắn súng lớn vào đồng ruộng, uy hiếp tinh thần quần chúng và đưa thêm lính mã tà đến đóng đồn tại chợ Rạch Tràm. Bọn này tiếp tục lùng sục và theo dõi tình hình vùng này. Nhờ có sự đề phòng, nên khi cuộc khởi nghĩa thất bại, anh em nòng cốt đều vô sự, địch chỉ bắt được anh Liệu trong tổ chức Hội Ái hữu.

Tại Giồng Nần, các đồng chí Trương Văn Chẩn và Trương Văn Phú bị địch bắt với đầy đủ tài liệu chuẩn bị khởi nghĩa. Ngày 04-2-1941, hai đồng chí ra Tòa Đại hình của Pháp và bị kêu án tù 5 năm, 5 năm biệt xứ, đày đi Côn đảo. Đồng chí Trương Văn Chẩn hy sinh ngày 29-8-1942; đồng chí Trương Văn Phú hy sinh ngày 23-10-1942.  

Khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, thực dân Pháp đàn áp khốc liệt. Trước tình hình đó, các đảng viên phải chuyển vùng công tác hoặc tạm ngừng hoạt động để bảo vệ các cơ sở mật của Đảng. Phong trào cách mạng toàn tỉnh tạm thời lắng xuống, hoạt động của các cơ sở đảng chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau,đồng thời cũng chưa liên lạc thường xuyên với cấp trên. Đây là vấn đề hết sức khó khăn của Tây Ninh, nhưng các đảng viên vẫn ngấm ngầm hoạt động để lãnh đạo phong trào cách mạng của quần chúng, chờ thời cơ đứng lên đấu tranh mạnh mẽ hơn.

Sau khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, nhờ có địa thế rừng, Tây Ninh lại trở thành nơi ẩn náu của lực lượng cách mạng của các địa phương khác. Một cánh quân khởi nghĩa của Gia Định rút lên vùng Truông Mít (thuộc huyện Dương Minh Châu ngày nay), dựa vào thế rừng để duy trì lực lượng. Sau đó, thực dân Pháp phát hiện, tập trung quân tấn công, do tương quan lực lượng không cân sức, nghĩa quân rút xuống Đôn Thuận (huyện Trảng Bàng), Địch bủa vây truy kích, nghĩa quân rút về Lộc Hưng. Từ đó, nghĩa quân phân tán thành nhiều nhóm nhỏ rút về Đồng Tháp Mười.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, bị địch dìm trong biển máu vì nổ ra chưa đúng lúc, điều kiện cách mạng chưa chín muồi. Nhưng cuộc khởi nghĩa đã nêu cao quyết tâm chống đế quốc, giành độc lập, tự do,nêu cao khí thế cách mạng của nhân dân Nam Kỳ nói chung, nhân dân Tây Ninh nói riêng. Khởi nghĩa Nam Kỳ đã gây tiếng vang lớn, cổ vũ tinh thần yêu nước của đồng bào trong cả nước. Đây là cuộc tập dượt vô vùng anh dũng chuẩn bị cho cuộc Cách mạngTháng Tám năm 1945 thành công.

  1. BAN CÁN SỰ ĐẢNG TỈNH (TỈNH UỶ) THÀNH LẬP, LÃNH ĐẠO MẶT TRẬN VIỆT MINH VÀ THANH NIÊN TIỀN PHONG VẬN ĐỘNG NHÂN DÂN TIẾN LÊN KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1941-1945)

Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, phong trào cách mạng Tây Ninh tạm thời lắng xuống, chủ yếu là để bảo vệ lưc lượng, bảo vệ cơ sở mật và tiến hành tuyên truyền cách mạng trong quần chúng. Trong khi đó, phát xít Nhật có sự hỗ trợ của thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị hà khắc và ra sức vơ vét về kinh tế để phục vụ cho cuộc chiến tranh phát xít. Phát xít Nhật cho lập nhà kho ở khắp nơi, tiến hành thu mua các loại nông sản với giá rẻ mạt làm cho đời sống nhân dân càng thêm cơ cực.

Sau khi chiếm Đông Dương, phát xít Nhật đưa ra thuyết “ Đại Đông Á”, “ đồng chủng, đồng văn” kết hợp với việc phô trương thực lực, bọn chúng đã mê hoặc được một số người. Trong đó có một số chức sắc cao cấp đạo Cao Đài thân Nhật cho rằng cơ hội phất lên về thanh thế chính trị đã đến. Họ đưa thanh niên đạo Cao Đài đi lính cho Nhật[24].

Giữa lúc phong trào cách mạng ở Việt Nam gặp khó khăn, ngày 8-2-1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc bí mật về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Sau một thời gian chuẩn bị, từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, Hội nghị Ban  Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 tại rừng Khuổi Nậm ( Pắc Bó), do đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đại biểu của Quốc tế Cộng sản, chủ trì. Hội nghị đã phát triển và hoàn chỉnh các nghị quyết của Trung ương Đảng về vấn đề giải phóng dân tộc, và khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc.

Về vấn đề Mặt trận dân tộc thống nhất, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh thay cho Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương. Việc thành lập Mặt trận Việt Minh là nhằm “ liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”. Do đó, lực lượng gia nhập Mặt trận Việt Minh là các đoàn thể cứu quốc, như: Đoàn Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, Hội Nông dân cứu quốc.

Ngày 25-10-1941, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh công bố Tuyên ngôn, Điều lệ, Chương trình Việt Minh.

Tuyên bố của Việt Minh nói rõ: “Nguy cơ diệt vong đã bày ra trước mắt. Hiện thời chúng ta chỉ có một con đường mưu sống là đoàn kết thống nhất, đánh đuổi Nhật- Pháp, trừ khử Việt gian.

Mở con đường sống ấy cho đồng bào, Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) ra đời, chào các bạn”[25].

Trong khi đó, ở Tây Ninh, hệ thống tổ chức Đảng chưa được củng cố, việc liên lạc với cấp trên bị hạn chế, không nhận được Chương trình Việt Minh một cách đầy đủ và kịp thời. Nhưng do diễn biến của thời cuộc, các đảng viên hoạt động ở tỉnh đã chủ động tập hợp quần chúng, chuẩn bị lực lượng và triển khai một số hoạt động.

Ở vùng Quán Cơm, các đảng viên biết được chủ trương tổ chức Hội cứu quốc, nhưng vì chưa nắm được cụ thể Chương trình Việt Minh, nên còn hoạt động lúng túng. Các đồng chí vẫn vận  động quần chúng nông dân theo tinh thần của tổ chức Nông hội đỏ như trước đây.

Ở vùng Phước Chỉ (huyện Trảng Bàng), đồng chí Bùi Quang Ngỡi liên lạc với Tổng uỷ Cầu An Thượng, nhận chỉ thị trở về xã móc nối lại các cơ sở cũ, vận động nhân dân không đi lính, không làm xâu cho phát xít Nhật, tuyên truyền vạch trần thuyết “ Đại Đông Á”, “ đồng văn, đồng chủng”, luận điệu mị dân của bọn tay sai thân Nhật trong tôn giáo Cao Đài. Sau đó, đồng chí Lê Văn Vẳng liên lạc với quận uỷ Đức Hoà, nhận Chương trình Việt Minh, tổ chức “ Nông hội đỏ” được  chuyển thành các tổ chức theo giới: Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc. Phong trào cách mạng của quần chúng ở Phước Chỉ được khôi phục và phát triển nhanh chóng.

Tháng 9-1944, đồng chí Huỳnh Văn Thanh[26] liên lạc được với Xứ uỷ và cùng với vợ là đồng chí Mỹ Lan đem Chương trình Việt Minh về Tây Ninh phổ biến. Hai đồng chí ở nhà đồng chí Nguyễn Trí Túc, móc nối lại các cơ sở đảng và các đảng viên hoạt động lẻ. Sau đó, đồng chí Huỳnh Văn Thanh tổ chức cuộc họp tại nhà đồng chí Nguyễn Văn Chấn ở Quán Cơm, thông báo tình hình thời sự trong nước và quốc tế, phổ biến chỉ thị của Xứ uỷ và phân công trách nhiệm, phân vùng hoạt động cho các đảng viên. Từ đó, đảng viên hoạt động có tổ chức và thành lập Ban Cán sự Đảng tỉnh ( tương đương Tỉnh uỷ). Đồng chí Huỳnh Văn Thanh là Trưởng Ban Cán sự Đảng tỉnh. Đây là mốc quan trọng trong lịch sử Đảng bộ tỉnh Tây Ninh, và phong trào cách mạng ở Tây Ninh có những chuyển biến lớn.

Trong khi phong trào cách mạng ở Tây Ninh cũng như phong trào chung của cả nước đang chuyển biến mạnh thì ngày 9-3-1945, phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp, độc chiếm Đông Dương. Trước tình hình đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng tại Bắc Ninh từ ngày 9 đến ngày 12-3-1945, đã đề ra chủ trương “ đánh đuổi phát xít Pháp- Nhật” và phát động cao trào chống Nhật, cứu nước làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa, được thể hiện trong bản chỉ thị “ Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.

Với chủ trương mới của Đảng, từ cuối tháng 3-1945, cách mạng Việt Nam chuyển biến mạnh mẽ trở thành cao trào, những cuộc khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra ở nhiều nơi. Riêng ở tỉnh Tây Ninh, tình hình chính trị có phần phức tạp hơn, sau ngày phát xít Nhật đảo chính Pháp, ảnh hưởng của đạo Cao Đài lan rộng rất nhanh vì cung cấp cho phát xít Nhật nhiều nhân tài vật lực[27], nên đạo Cao Đài được Nhật ban cho một số quyền lợi chính trị như bộ máy trị sự của đạo vẫn được phép hoạt động. Lợi dụng cơ hội này, một số chức sắc phản động trong đạo Cao Đài đẩy mạnh việc huy động tiền của của tín đồ và lừa gạt thanh niên vào Toà Thánh, sau đó bắt thanh niên đi lính để xây dựng lực lượng quân sự riêng.

Ảnh hưởng của đạo Cao Đài không kéo dài được lâu. Từ tháng 4-1945, do phát xít Nhật liên tiếp thất bại trên chiến trường Châu Á- Thái Bình Dương, bọn tay sai thân Nhật hoang man, dao động, thế lực của đạo Cao Đài khựng lại. Trong khi đó, ở tỉnh Tây Ninh các tổ chức Đảng được củng cố và hoạt động theo Chương trình Việt Minh, nhất là sau cuộc họp ở Phồn Chàm (tháng 3-1945), đồng chí Huỳnh Văn Thanh truyền đạt chỉ thị của Xứ uỷ, phổ biến rõ thêm Chương trình Việt Minh, các đảng viên hoạt động ở các vùng tích cực vận động quần chúng, tuyên truyền Mặt trận Việt Minh, nêu lên chủ trương của Mặt trận Việt Minh là đánh đuổi Nhật-Pháp, giành độc lập dân tộc, lập chính quyền công nông, bảo đảm quyền lợi của dân tộc và đưa ra các đối sách của Mặt trận Việt Minh đối với công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, trí thức… Ngoài ra, còn có một số khẩu hiệu viết tay với nội dung chống Nhật- Pháp, ủng hộ Mặt trận Việt Minh và một số tờ báo công khai từ Sài Gòn được đem về phổ biến rộng rãi, kêu gọi quần chúng hưởng ứng phong trào của Mặt trận Viêt Minh; gia nhập các tổ chức của Mặt trận Việt Minh để sẵn sàng hành động cứu nước. Từ đây, phong trào hưởng ứng theo Mặt trận Việt Minh phát triển khắp tỉnh.

Tháng 4-1945, các đảng viên ở xã Thanh Điền bắt đầu tổ chức cơ sở Việt Minh trong công nhân Hãng đường, rồi mở rộng đến công nhân trồng mía. Ảnh hưởng của phong trào Mặt trận Việt Minh phát triển ra toàn xã Thanh Điền, thu hút cả người Việt là sĩ quan củ của Pháp về ở ẩn tại đây cũng tham gia hoạt động theo Mặt trận Việt Minh. Phong trào của Mặt trận Việt Minh dần lan xuống các xã thuộc Tổng Giai Hoá, bắt đầu từ xóm chùa Bàu Tượng mở ra toàn xã Tiên Thuận và dần dần phát triển khắp các xã trong Tổng.

 Tháng 5-1945, các đảng viên ở xóm Vịnh bắt đầu hoạt động xây dựng tổ chức Mặt trận Việt Minh ở nhiều nơi như: xã Hảo Đước, Hoà Hội… Hội cứu quốc trong các giới được hình thành, thu hút nhiều hội viên tham gia, nhất là trong giới thanh niên. Các hội viên thanh niên cứu quốc tham gia luyện tập võ nghệ, tuần tra, canh gác suốt ngày đêm.

Tháng 6-1945, các đảng viên ở huyện Trảng Bàng phân công đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền vận động Chương trình Việt Minh trong thị trấn và các xã chung quanh như An tịnh, Lộc Hưng…để xây dựng tổ chức trong các giới thuộc Mặt trận Việt Minh.

Ở xã Đôn Thuận, các đảng viên chọn những thanh niên giác ngộ cách mạng đưa vào các tổ chức cứu quốc theo từng nhóm 3 người. Những người ngoài lứa tuổi thanh niên cũng được tập hợp lại thành tổ. Cơ sở Việt Minh cũng được thành lập trong sở cao su Bến Củi.

Ở vùng Phước Chỉ, Bình Thạnh, chợ Rạch Tràm, các hội cứu quốc ngày càng phát triển và lan sang xã Mỹ Quí ( tỉnh Chợ Lớn).

Ở Suối Đá, Quán Cơm, Hiệp Ninh, phong trào Việt Minh hoạt động gần như công khai.

Ở vùng Gò Dầu, Võ Thành Cứ hoạt động tranh giành ảnh hưởng cho tổ chức “Việt Nam Quốc gia độc lập Đảng”, nhưng phong trào Việt Minh vẫn phát triển mạnh, nhất là ở các xã Thanh Phước và Phước Thạnh.

Đến thời điểm này, dưới sự lãnh đạo của Ban Cán sự Đảng, phong trào cách mạng của quần chúng hoạt động theo Mặt trận Việt Minh phát triển khắp trong toàn tỉnh. Đó là kết quả của sự lãnh đạo thống nhất của tổ chức đảng từ tỉnh xuống cơ sở, thể hiện bước phát triển nhảy vọt của cao trào cách mạng tỉnh Tây Ninh.

 Song song với phong trào cách mạng của Mặt trận Việt Minh, ở các thị trấn và một số ít xã trong tỉnh còn có phong trào “Thanh niên Tiền phong”[28] hoạt động công khai mạnh mẽ. Thủ lĩnh của Thanh niên Tiền phong là Nguyễn Công Mạnh, một chủ sự thương chính của chính quyền lúc bấy giờ. Số người trực tiếp lãnh đạo phong trào Thanh niên Tiền phong hầu hết là cán bộ của phong trào thanh niên, học sinh. Tháng 7-1945, thực hiện chỉ thị của Xứ uỷ Nam kỳ “ phải nắm lấy Thanh niên Tiền phong, các cấp bộ Đảng phải tranh thủ chỉ đạo và sử dựng phong trào công khai này”. Được sự phân công của cấp uỷ, một số đảng viên liên lạc được với Nguyễn Công Mạnh, Trần Văn Hương và những cán bộ Thanh niên Tiền phong ở thị xã Tây Ninh; Thanh niên Tiền phong ở thị trấn Trảng Bàng do thầy giáo Có làm thủ lĩnh cũng đã hoạt động theo Mặt trận Việt Minh.

Tại Phước Chỉ (huyện Trảng Bàng), các đảng viên  chưa nhận được lệnh nắm Thanh niên Tiền phong, nhưng các đồng chí vận động con cháu của một số hội tề làng và một số thanh niên tích cực ở chợ Rạch Tràm, thanh niên trong các hội Ái hữu cũ làm nòng cốt để hướng phong trào Thanh niên Tiền phong hoạt động theo Mặt trận Việt Minh.

Tất cả các cơ sở Đảng đều thực hiện được chủ trương của Xứ uỷ là nắm lấy phong trào Thanh niên Tiền phong. Nắm được Thanh niên Tiền phong là Đảng ta nắm được một lực lượng quần chúng khá đông đảo, vì đây là một tổ chức tập hợp nhiều thành phần trong xã hội, trong đó tầng lớp thanh niên, học sinh và tầng lớp nghèo thành thị chiếm đa số, có nơi lôi kéo cả công chức và những người thuộc tầng lớp trên. Như vậy, có hai phong trào thanh niên phát triển mạnh trong cùng một thời điểm, đó là Mặt trận Việt Minh với các đoàn thể cứu quốc toả rộng khắp các vùng nông thôn lan dần vào thị trấn, thị xã; phong trào Thanh niên Tiền phong từ thị trấn, thị xã toả về nông thôn tạo điều kiện cho Ban Cán sự đảng tỉnh nắm được đại bộ phận lực lượng quần chúng, chuẩn bị tiến lên tổng khởi nghĩa.

Trước đây, các đảng viên hoạt động chủ yếu là tuyên truyền, vận động quần chúng gây cơ sở cách mạng và xây dựng phong trào, đến thời điểm này, ý thức về một cuộc đấu tranh, nhất là sau khi Nhật đảo chính Pháp, bọn lính Pháp tháo chạy vứt  bỏ vũ khí trong rừng, dưới sông suối. Các đảng viên cho người tìm kiếm và thu gom súng đạn lại, đồng thời mua thêm của lính Nhật hoặc của người dân lượm được. Tất cả số vũ khí này được cất giấu kỹ, chờ ngày đem ra sử dụng. Về vũ khí thô sơ, các đảng viên vận động anh em công nhân của Mặt trận Việt Minh ở Hãng đường Thanh Điền rèn gươm, mã tấu, dao găm. Các loại tầm vông vót nhọn, giáo mác, cung tên được thanh niên và các hội viên cứu quốc chuẩn bị đầy đủ.

Trong khi phong trào quần chúng của tỉnh chuyển thành cao trào cách mạng chuẩn bị khởi nghĩa, thì tin phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện ngày 15-8-1945 truyền về tỉnh như một luồng gió mới, tăng thêm khí thế cách mạng của quần chúng. Các lực lượng trung gian ngả hẳn về phía cách mạng, còn những lực lượng hoài nghi hoặc đối lập rút vào thế tuỳ thời “ lựa gió phất cờ”. Ngay như Võ Thành Cứ, Trần Văn Hương là lãnh tụ tổ chức “ Việt Nam quốc gia độc lập Đảng” trước đây nắm Thanh niên Tiền phong để tranh giành ảnh hưởng với Mặt trận Việt Minh đến lúc này cũng thay đổi hẳn thái độ.

Trước khí thế cách mạng của nhân dân ngày càng cao, những lực lượng thân phát xít Nhật thêm hoang man và bắt đầu tan rã. Việc phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng minh khiến bọn cầm đầu trong bộ máy chính quyền tỉnh, huyện bị bỏ rơi như “ rắn mất đầu”, hoàn toàn mất tinh thần, còn số nhân viên lại nghiêng về phía cách mạng. Đối với những lãnh đạo trong giáo phái Cao Đài, tuy nắm được lực lượng quần chúng tín đồ đông đảo, nhưng với tình hình chuyển biến quá nhanh cũng hoang mang, dao động.

Nắm được thời cơ thuận lợi, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp từ ngày 13 đến ngày 15-8-1945 tại Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) quyết định lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa và lập ra Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc, phát động tổng khởi nghĩa trong cả nước.

Ở Tây Ninh, tuy chưa nhận được chủ trương tổng khởi nghĩa của Trung ương, nhưng ngày 16-8-1945, đồng chí Huỳnh Văn Thanh, Trưởng Ban Cán sự Đảng tỉnh triệu tập cuộc họp tại nhà đồng chí Trần Văn Đẩu ( Tư Đẩu) gần chợ cũ, thị xã Tây Ninh. Hội nghị thống nhất đánh giá tình thế cách mạng đã chín muồi, quyết định thành lập Ban vận động giành chính quyền và phân công nhau thực hiện một số việc quan trọng như liên lạc với Xứ uỷ để kịp thời tiếp nhận sự chỉ đạo của cấp trên; nắm trí thức và các chức sắc tiến bộ trong tôn giáo Cao Đài, vận động cảnh sát trưởng và lực lượng cảnh sát bảo vệ dinh tỉnh trưởng; tiếp xúc nhằm lôi kéo hoặc làm trung lập bọn sĩ quan và binh lính Nhật; tổ chức lực lượng vũ trang; tập hợp lực lượng công nhân ở Hãng đường Thanh Điền và các sở cao su; bố trí lực lượng quần chúng ở nông thôn, thị trấn, thị xã sẵn sàng đứng lên giành chính quyền.

Ở vùng nông thôn, bọn tề nguỵ rệu rã, số nằm im, số ngả theo Mặt trận Việt Minh. Các hoạt động của Mặt trận Việt Minh diễn ra công khai, lực lượng thanh niên tham gia tập luyện võ nghệ, quân sự suốt ngày đêm, tiến hành tuần tra, canh gác. Ở các ngả đường vào xóm làng đều đặt vọng gác, có trang bị một số súng hai nòng và súng trường.

Ngày 19-8-1945, ở Hà Nội cuộc khởi nghĩa nổ ra và giành thắng lợi. Trong khi đó ở Tây Ninh, Mặt trận Việt Minh đã kịp thời lãnh đạo quần chúng rải truyền đơn với khẩu hiệu “ Đả đảo chính quyền bù nhìn Trần Trọng Kim”, “ Ủng hộ Mặt trận Việt Minh” và kêu gọi chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 23-8-1945, được tin ở Sài Gòn đang chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, Ban Cán sự Đảng tỉnh cử đồng chí Trần Kim Tấn và nữ đồng chí Trương Mỹ Lan đến Sài Gòn liên lạc với Xứ uỷ để xin chỉ đạo hành động. Ngay ngày hôm đó, đồng chí Trương Mỹ Lan trở về Tây Ninh báo cáo tình hình, còn đồng chí Trần Kim Tấn ở lại Sài Gòn dự mít tinh. Nhận được chỉ đạo của Xứ uỷ, đồng chí Huỳnh Văn Thanh, Trưởng Ban Cán sự Đảng tỉnh triệu tập hội nghị gồm những đảng viên và cán bộ nòng cốt bàn việc tổ chức một cuộc mít- tinh có đông đảo quần chúng tham gia để Mặt trận Việt Minh tỉnh ra hoạt động công khai, đồng thời kêu gọi nhân dân ủng hộ Mặt trận Việt Minh. Hội nghị còn cử ra Ban lãnh đạo hành động giành chính quyền.

Thực hiện chủ trương của Hội nghị, ngay trong đêm 23-8-1945, Ban lãnh đạo hành động giành chính quyền đã phân công các đảng viên đi các nơi huy động nhân dân, lực lượng Thanh niên Tiền phong và học sinh về dự mít- tinh ở thị xã. Cơ sở Mặt trận Việt Minh ở Hãng đường Thanh Điền lấy vải của nhà máy đem về nhuộm đỏ và cắt may băng cờ để trang bị cho đoàn người đi dự mít- tinh. Mọi việc chuẩn bị hết sức khẩn trương và chu đáo.

Chiều ngày 24-8-1945, lực lượng quần chúng đầu tiên ở vùng Bến Cầu được ghe xuồng đưa lên Hãng đường Thanh Điền. Sau đó, quần chúng tập trung tại xóm Dốc, ấp Thanh Thuận, xã Thanh Điền để ổn định tổ chức và chuẩn bị xuất phát.

Trong khi những người lãnh đạo đạo Cao Đài còn hoang mang, dao động, Ban lãnh đạo hành động giành chính quyền cử thầy thuốc Vĩnh vào Toà Thánh vận động ông Đặng Trung Chữ, tổ chức quần chúng tín đồ tham gia cuộc mít tinh ủng hộ Mặt trận Việt Minh. Đồng thời, Ban lãnh đạo hành động giành chính quyền còn thực hiện chủ trương tranh thủ, trung lập hoá quân đội Nhật, không tấn công chúng nếu chúng không can thiệp vào các hoạt động khởi nghĩa.

Sáng sớm ngày 25-8-1945, từ Thanh Điền, Xóm Vịnh, Quán Cơm, lực lượng quần chúng giương cao cờ đỏ sao vàng, mọi người đều có băng trắng với nền chữ Việt Minh màu đỏ hoặc băng đỏ đeo ở cánh tay, các đảng viên mang súng ngắn dẫn đầu đội ngũ, rầm rập kéo vào sân vận động thị xã.

 Từ Đình Hiệp Ninh, lực lượng Thanh niên Tiền phong trang bị súng và tầm vông lên đường tiến vào sân vận động. Từ Toà Thánh, quần chúng tín đồ Cao Đài mang theo cờ đạo ( vàng, xanh, đỏ), đội ngũ chỉnh tề cũng đến sân vận động thị xã dự mít- tinh. Thế là một  cuộc mít tinh lớn chưa từng có ở Tây Ninh đã diễn ra.

Tại cuộc mít tinh, đồng chí Huỳnh Văn Thanh, Trưởng Ban Cán sự Đảng tỉnh đọc diễn văn nêu rõ: quân đội Nhật đã đầu hàng quân Đồng minh, chính quyền ở Hà Nội và khắp miền Bắc, miền Trung đã thuộc về Việt Minh và kêu gọi nhân dân Tây Ninh hãy đứng lên sẵn sàng giành chính quyền.

Quần chúng dự mít- tinh hết sức phấn khởi, hô vang khẩu hiệu ủng hộ Mặt trận Việt Minh.

Cuộc mít tinh của quần chúng chuyển thành đoàn biểu tình kéo qua dinh Tỉnh trưởng, quanh chợ và các đường phố chính trong thị xã. Trước khí thế cách mạng của quần chúng, chính quyền bù nhìn Tây Ninh không dám phản ứng. Đến trưa, đoàn biểu tình mới trở về các xã.

Khoảng 14 giờ ngày 25-8-1945, một đoàn cán bộ từ Sài Gòn lên Tây Ninh mang theo chỉ thị giành chính quyền của Xứ uỷ, Ban lãnh đạo giành chính quyền tỉnh triệu tập hội nghị mở rộng, gồm các thành viên Ban lãnh đạo hành động và một số cán bộ nòng cốt để lập kế hoạch giành chính quyền. Theo kế hạch, một bộ phận lực lượng xung kích đã đột nhập vào dinh tỉnh trưởng, tước súng của hai tên lính gác giao lại cho lực lượng bảo vệ để chiếm giữ và bảo vệ trật tự, an toàn trong khu vực dinh tỉnh trưởng. Mọi việc đều tiến hành nhanh gọn, không gặp phải một sự kháng cự nào của địch. Các đồng chí trong Ban lãnh đạo hành động giành chính quyền cùng với cán bộ từ Sài Gòn lên, đi bằng ô tô có cắm cờ đỏ sao vàng vào dinh tỉnh trưởng Tây Ninh. Lê Văn Thạnh, tỉnh trưởng Tây Ninh được gọi ra, ta yêu cầu nộp sổ sách, giấy tờ và nộp chính quyền. Trước khí thế cách mạng, tỉnh trưởng Lê Văn Thạnh đáp lại: “chúng tôi đã chuẩn bị chờ các ông”.

Ban lãnh đạo hành động giành chính quyền buộc Lê Văn Thạnh phải gọi những người cầm đầu các công sở đến, ai có vũ khí phải mang theo (lúc này, lực lượng tự vệ đã chiếm xong các công sở), lực lượng cách mạng tước hết vũ khí. Việc chuyển giao chính quyền tỉnh được giải quyết ngay trong đêm 25-8-1945.

Sau đó, lực lượng cách mạng chỉ bắt giữ tỉnh trưởng Lê Văn Thạnh, Jean Baptiste Hà Văn Sua, y sĩ có quốc tịch Pháp và Đốc phủ Đường, tên tay sai đắc lực của Pháp. Những người còn lại được cho về tiếp tục công việc, trừ một vài nơi trọng yếu như nhà máy đèn, nhà máy nước, do lực lượng cách mạng trực tiếp nắm giữ.

Tại huyện Châu Thành, các công sở đóng ở thị xã cũng được tiếp quản ngay sau khi bộ máy chính quyền nguỵ cấp tỉnh không còn.

Ở huyện Trảng Bàng, cán bộ của Mặt trận Việt Minh nhận được chỉ thị của Ban Cán sự Đảng tỉnh về tổ chức cuộc míttinh ủng hộ Mặt trận Việt Minh và chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Ban lãnh đạo khởi nghĩa được thành lập kịp thời gồm, đồng chí Huỳnh Hà, Lê Phẩm Ba. Sáng ngày 25-8-1945, một cuộc mít-tinh trọng thể tại bãi chợ Trảng Bàng, toàn bộ lực lượng Thanh niên Tiền phong của huyện và đông đảo quần  chúng ở các xã tham dự.

Tại cuộc mít tinh, đồng chí Huỳnh Hà nhân danh đại biểu của quận bộ Việt Minh phát biểu nhấn mạnh: phát xít Nhật đầu hàng, ở miền Bắc và miền Trung, chính quyền đã thuộc về Việt Minh, đồng thời kêu gọi quần chúng sẵn sàng khởi nghĩa giành chính quyền ở Trảng Bàng. Những người dự mít tinh phấn khởi hô vang khẩu hiệu “chính quyền về tay Việt Minh”, “Mặt trận Việt Minh muôn năm”.

Kết thúc cuộc biểu tình, quần chúng tham gia thành đoàn biểu tình thị uy quanh phố chợ rồi toả về các xã.

Tối ngày 25-8-1945, anh Phiên, cơ sở cách mạng đang làm thư ký hành chính quận Trảng Bàng đã khôn khéo ra lệnh cho bọn lính cất hết vũ khí vào kho. Vào lúc đó, một lực lượng nhỏ Thanh niên Tiền phong bao vây bên ngoài dinh quận. Sau đó, hai đồng chí Huỳnh Hà, Lê Phẩm Ba cùng với anh Phiên vào quận đường buộc tên quận trưởng Huỳnh Tường Tấn đầu hàng và chuyển giao chính quyền. Trước đó, tên Huỳnh Tường Tấn nghe động đã đóng kín các cửa nhưng liệu bề không chống nổi nên xin chấp nhận chuyển giao chính quyền.

Lực lượng khởi nghĩa chiếm quận đường, quận trưởng Huỳnh Tường Tấn bị bắt giam. Việc giành chính quyền ở Trảng Bàng hoàn thành. Sáng hôm sau (ngày 26-8-1945), cờ đỏ sao vàng tung bay khắp thị trấn Trảng Bàng.

 Ở vùng Phước Chỉ, sau khi nhận lệnh khởi nghĩa từ Đức Hoà, các đảng viên họp bàn kế hoạch và thành lập Ban Tuyên truyền vận động khởi nghĩa giành chính quyền, gồm các đồng chí Lê Văn Vẳng, Bùi Quang Ngỡi, Dương Quang Thanh, Lê Đặng Côn, Bùi Quang Tấn, thầy giáo Quang và Ba Màng.

Theo kế hoạch, một đội vũ trang bao vây đồn Rạch Tràm và gọi hàng bọn lính. Trong đồn, bọn chúng mất hết tinh thần trước khí thế sôi sục của quần chúng đã vội vàng hạ súng đầu hàng. Bọn cầm quyền ở khu vực chợ Rạch Tràm cũng hoang mang dao động cao độ, nên khi đoàn biểu tình của quần chúng kéo đến đã chấp nhận giao chính quyền.

Sau khi giành chính quyền ở tỉnh và quận, Ban Cán sự Đảng tỉnh cử một số đồng chí về các vùng nông thôn hướng dẫn nhân dân giành chính quyền ở tổng, xã. Việc giành chính quyền ở nông thôn cũng diễn ra thuận lợi do bọn hương lý đã tan rã từ những ngày trước đó, không dám hành động chống lại.

Chỉ trong một ngày đêm (25-8-1945), chính quyền địch từ tỉnh đến quận đều sụp đổ hoàn toàn. Ba ngày sau, chính quyền các xã đều thuộc về nhân dân. Tổng khởi nghĩa Tháng Tám ở tỉnh Tây Ninh đã diễn ra nhanh chóng và giành thắng lợi hoàn toàn.

Cùng với cả nước, cuộc khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 ở tỉnh Tây Ninh thắng lợi rực rỡ. Dưới sự lãnh đạo của Ban Cán sự Đảng tỉnh, Mặt trận Việt Minh đã tập hợp được quần chúng rộng rãi, tạo thành đội quân chính trị đông đảo vùng lên khắp trong tỉnh, đứng lên giành chính quyền, thoát khỏi ách thống trị của chế độ thực dân, phong kiến, làm chủ vận mệnh của mình.

Sau khi giành chính quyền thắng lợi, chính quyền cách mạng và Mặt trận các cấp được thành lập để từng bước ổn định đời sống nhân dân. Tỉnh uỷ lâm thời được Xứ uỷ chỉ định, gồm 11 đồng chí, trong đó có 6 đồng chí hoạt động cách mạng trước đó như các  đồng chí: Trần Văn Mạnh, Phạm Tung, Trần Kim Tấn, Trương Mỹ Lan, Nguyễn Văn Chấn, Trần Văn Đẩu và năm đồng chí được Xứ uỷ đưa về, là các đồng chí: Trần Xuân, Lê Đình Nhơn, Nguyễn Trọng Cát, Trần Thuần, Đặng Ngọc Chinh (Vũ)[29] do đồng chí Trần Xuân làm Bí thư Tỉnh uỷ lâm thời.

Thánh 9-1945, Tỉnh uỷ lâm thời đề ra một số chủ trương như:

  • Uỷ ban nhân dân các cấp phải ban hành kịp thời các quyền tự do dân chủ và áp dụng các biện pháp nhằm ổn định tình hình, củng cố bộ máy chính quyền, bảo đảm trật tự an ninh cho nhân dân.
  • Củng cố và phát triển Mặt trận Việt Minh các cấp, xây dựng cơ sở quần chúng, mở lớp huấn luyện cho các đoàn thể cứu quốc.
  • Xây dựng lực lượng dự trữ về người và lương thực, đưa số đồng chí và anh em công nhân cao su ở Mimốt ( Campuchia) về, vận chuyển gạo từ Đồng Tháp Mười về Tây Ninh.

Chấp hành chủ trương của Tỉnh uỷ lâm thời, các cấp khẩn trương tiến hành một số công việc:

  • Xây dựng lực lượng vũ trang để bảo vệ chính quyền cách mạng, trấn áp bọn phản động.
  • Thành lập Quốc gia tự vệ cuộc ( Công an).
  • Thành lập Uỷ Ban kháng chiến.[30]
  • Củng cố các đoàn thể cứu quốc.
  • Tăng cường cán bộ đến xã để tổ chức chính quyền và Mặt trận.

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ lâm thời, Mặt trận Việt Minh, nhân dân Tây Ninh đoàn kết vượt qua những khó khăn gian khổ, giải quyết những công việc hết sức nặng nề để từng bước ổn định cuộc sống nhân dân và quyết tâm đập tan âm mưu thâm độc của kẻ thù; chuẩn bị lực lượng vật chất và tinh thần sẵn sàng kháng chiến chống thực dân Pháp khi chúng tấn công lên Tây Ninh lần thứ hai.

CHƯƠNG III

MẶT TRẬN VIỆT MINH, MẶT TRẬN LIÊN VIỆT TỈNH TÂY NINH VỚI NHIỆM VỤ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP  XÂM LƯỢC LẦN THỨ HAI

(1945-1954)

 

  1. MẶT TRẬN VIỆT MINH CỦNG CỐ CÁC ĐOÀN THỂ CỨU QUỐC CÙNG NHÂN DÂN TRONG TỉNH ĐỨNG LÊN KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1947)

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Vừa mới ra đời, nước ta đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn: nạn đói, nạn mù chữ, dịch bệnh và một nền kinh tế- tài chính kiệt quệ; bên cạnh đó, thù trong, giặc ngoài tìm cách lật đổ chính quyền cách mạng, thực hiện mưu đồ trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai.

Đối với tỉnh Tây Ninh, tình hình càng khó khăn phức tạp. Đạo Cao Đài  qua quá trình đưa thanh niên tín đồ vào các lực lượng thân binh của Nhật, khi Nhật đầu hàng, thì số phần tử thân Pháp tập hợp lực lượng này lại để thành lập những đơn vị vũ trang riêng, sẵn sàng theo Pháp. Nhiều nhóm vũ trang không phải là lực lượng cách mạng như Hồng Tảo ( HT29), Đệ tam sư đoàn, Đệ tứ sư đoàn đã lên Tây Ninh, gây thêm khó khăn cho tỉnh. Chính quyền cách mạng từ tỉnh, huyện đến xã mới thành lập gồm nhiều thành phần, trong đó có cả hội đồng tề của chính quyền cũ tham gia và còn phải lo củng cố lực lượng vũ trang để sẵn sàng đánh địch. Trong khi đó, kinh tế  chủ yếu của Tây Ninh là nông nghiệp, lúa chỉ cấy một vụ mùa, có một số vùng có trồng thêm hoa màu. Sau những năm tháng bị giặc Pháp, Nhật vơ vét của cải để nuôi bộ máy chiến tranh xâm lược, nhân dân Tây Ninh gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.

Chấp hành chủ trương của Tỉnh uỷ lâm thời, song song với việc thành lập các cơ quan chính quyền, Mặt trận Việt Minh tỉnh được củng cố, gồm có:

– Đồng chí Đặng Ngọc Chinh (Vũ), Chủ nhiệm.

– Ông Đặng Trung Chữ (chức sắc đạo Cao Đài), Phó chủ nhiệm.

– Đồng chí Trần Kim Tấn, Uỷ viên.

– Đồng chí Lê Đình Nhơn, Uỷ viên.

– Nữ đồng chí Trương Mỹ Lan, Uỷ viên.

– Cô giáo Hoan, uỷ viên.[31]

Mặt trận Việt Minh còn tăng cường cán bộ đến huyện và các xã tổ chức chính quyền và Mặt trận.

Chính quyền non trẻ của tỉnh Tây Ninh vừa mới ra đời đã giải quyết những công việc hết sức nặng nề, từng bước ổn định và bảo vệ đời sống nhân dân, củng cố chính quyền cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ lâm thời, nhân dân Tây Ninh đã vượt qua khó khăn, chuẩn bị lực lượng, quyết tâm đập tan mọi âm mưu thâm độc của thực dân Pháp khi chúng tấn công lên Tây Ninh lần thứ hai.

Ngày 23-9-1945, được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp nổ súng chiếm một số công sở ở Sài Gòn và tập trung lực lượng đánh chiếm các tỉnh. Trước yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, Uỷ ban kháng chiến tỉnh lên kế hoạch phòng thủ Tây Ninh và quyết định tổ chức lực lượng đưa xuống Sài Gòn hỗ trợ cho mặt trận Tham Lương, Bà Quẹo chống giặc Pháp. Mặc dù việc tổ chức và chỉ huy chưa được tốt, nhưng các chiến sĩ Tây Ninh đã đóng góp đáng kể công sức là kìm chân địch trong thành phố.

Sau một tháng bị kìm chân trong nội thành, nhờ viện binh từ Châu Âu và Châu Phi sang, giặc Pháp bắt đầu tấn công phá vòng vây và đánh chiếm các tỉnh miền Đông Nam bộ.

Biết thế nào giặc Pháp cũng tấn công lên Tây Ninh, Tỉnh uỷ lâm thời chỉ đạo lập các phòng tuyến dọc Quốc lộ 1 ở Suối Sâu (xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng), Trâm Vàng (Thanh Phước, Gò Dầu); Quốc lộ 22 ở Bến Kéo. Đồng thời, dự trữ lương thực, chuẩn bị tiêu thổ kháng chiến[32], phá các công sở quan trọng trong thị xã không cho chúng chiếm nguyên vẹn.

Ngày 8-11-1945, giặc Pháp tấn công lên Tây Ninh, nhưng chúng đã bị lực lượng vũ trang địa phương Trảng Bàng chặn đánh tại phòng tuyến Suối Sâu, Trâm Vàng và lực lượng vũ trang tỉnh đánh mạnh ở Bến Kéo. Phòng tuyến Bến Kéo bị vỡ, giặc Pháp tràn vào chiếm thị xã, nhân dân ở đây không ra đường, không họp chợ, thực hiện khẩu hiệu “vườn không nhà trống”.

Các phòng tuyến bị vỡ,  dù không tiêu hao nhiều sinh lực địch, nhưng đây là bước tập dượt và xây dựng ý thức chống giặc trong nhân dân và lực lượng vũ trang, tạo được niềm tin trong nhân dân là dám đương đầu với lực lượng hùng hậu của giặc Pháp.

Trước tình hình giặc Pháp tấn công tái chiếm Tây Ninh, Tỉnh uỷ lâm thời chỉ đạo phải bảo toàn lực lượng rút ra vùng nông thôn, rừng núi tổ chức kháng chiến. Cơ quan Mặt trận Việt Minh tỉnh cũng phân tán, một bộ phận chủ chốt do hai đồng chí Đặng Ngọc Chinh (Vũ), Nguyễn Trọng Cát phụ trách cùng với lực lượng vũ trang tỉnh rút về Bến Củi.

Về lực lượng vũ trang tỉnh, sau khi được củng cố, ngày 5-3-1946, Khu bộ trưởng khu 7 tướng Nguyễn Bình quyết định thành lập Chi đội 11 Tây Ninh gồm các đơn vị đã hành quân về An Điền (Bến Cát) và lực lượng vũ trang ở lại tỉnh.

Ngày 6-3-1946, Hiệp định sơ bộ được ký kết là điều kiện thuận lợi cho cách mạng có thêm thời gian để củng cố lực lượng cách mạng kháng chiến lâu dài.

Tháng 4-1946, trước sự kiện Chi đội 11 được thành lập có ý nghĩa quyết định cho công cuộc mở rộng hoạt động kháng chiến, Tỉnh uỷ lâm thời Tây Ninh tổ chức Hội nghị cán bộ tại Bù lu- Chuối nước để trao đổi thống nhất tình hình ở địa phương, bàn phương hướng lãnh đạo kháng chiến. Hội nghị cán bộ đã phân công các đồng chí trong Tỉnh uỷ lâm thời nắm các ngành, huyện, xã để tuyên truyền, vận động quần chúng tổ chức các mặt công tác phục vụ kháng chiến. Các bộ phận chính quyền và Mặt trận Việt Minh tỉnh cũng được sắp xếp lại tổ chức để lãnh đạo kháng chiến.

Trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, theo chủ trương của cấp trên, Uỷ ban hành chính sáp nhập với Uỷ ban kháng chiến thành Uỷ ban kháng chiến hành chính, do đồng chí Trần Thuần quyền Chủ tịch, ông Trương Văn Xương, chức sắc của đạo Cao Đài làm Phó chủ tịch, đồng chí Huỳnh Văn Thanh làm Tổng thư ký. Sau bổ sung đồng chí Dương Minh Châu[33], cán bộ chủ chốt người địa phương làm Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh.

Tình hình hết sức khó khăn, cán bộ cốt cán là người địa phương thiếu nghiêm trọng. Đối với Mặt trận Việt Minh tỉnh, cán bộ ít, lại tập trung ở Văn phòng Mặt trận Việt Minh tỉnh, cho nên Tỉnh uỷ lâm thời chủ trương đưa cán bộ hiện có xuống cơ sở để tuyên truyền, vận động và xây dựng các tổ chức đoàn thể cứu quốc từ xã lên huyện, tỉnh để mau chóng thành lập Mặt trận Việt Minh từ cơ sở lên. Trong công tác tuyên truyền, chú ý vận động đồng bào theo đạo vào các tổ chức cứu quốc; tiến hành xây dựng cơ sở trong Toà thánh Cao Đài, bằng cách chọn những người thân có gia đình theo đạo, đào tạo họ để đưa vào hoạt động trong Toà thánh, và chọn thân nhân của cán bộ ở thị xã, thị trấn đưa vào căn cứ để đào tạo rồi đưa về xây dựng cơ sở trong lòng địch. Đồng thời, phải có một bộ phận cán bộ biết tiếng và chữ khmer để làm công tác vận động đồng bào Khmer, Tỉnh uỷ điều đồng chí Nguyễn Văn Chấn, Nguyễn Văn Dú[34] về công tác ở Mặt trận Việt Minh tỉnh.

Việc tổ chức Mặt trận Việt Minh ở hai huyện Trảng Bàng và Châu Thành được tiến hành ngay.

  Mặt trận Việt Minh huyện Trảng Bàng do đồng chí Nguyễn Trọng Cát (Ba Cát) phụ trách. Đồng chí Nguyễn Trọng Cát mở nhiều lớp ngắn ngày đào tạo cán bộ Việt Minh, cán bộ dân quân ở Giồng Điều và Thổ Địa (xã Phước Chỉ, huyện Trảng Bàng) để đưa về xây dựng chính quyền, đoàn thể ở các xã Lộc Hưng, Đôn Thuận, An Hoà, Gia Bình…

Mặt trận Việt Minh huyện Châu Thành do đồng chí Trần Kim Tấn (Sáu Tấn) phụ trách. Ngoài việc lo tiếp tế cho Chi đội 11, Mặt trận Việt Minh huyện còn móc nối các giáo chức ở trong thành ra tham gia kháng chiến và tổ chức bộ máy chính quyền và Mặt trận Việt Minh ở các xã.

Tại các địa phương, nơi Chi đội 11 đóng quân, nhân dân rất phấn khởi. Các mẹ, các chị trong Hội Mẹ chiến sĩ hăng hái vận động đồng bào góp lương thực, thực phẩm để nuôi quân. Nhờ đó đã phần nào giúp bộ đội vượt qua khó khăn. Bộ đội biết dựa vào dân, nên dù có lưu động chiến đấu xa địa bàn đóng quân, chiến sĩ cũng thấy yên tâm, còn đồng bào an tâm sản xuất.

Một vấn đề cấp bách là đào tạo cán bộ để đáp ứng cho nhu cầu kháng chiến, Tỉnh uỷ lâm thời tổ chức lớp Quân chính đầu tiên tại Bù Lu- Chuối Nước đào tạo cán bộ cho Chi đội 11 và các huyện. Lớp Quân chính do đồng chí Nguyễn Hữu Dụ và Trần Văn Quán phụ trách, đây là lớp đầu tiên  có giảng dạy thêm Chương trình Việt Minh với mười chính sách lớn của Việt Minh[35]:

  1. Giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập.
  2. Võ trang nhân dân, phát triển quân giải phóng Việt Nam.
  3. Tịch thu tài sản của giặc và của Việt gian, tuỳ từng trường hợp sung công làm của Quốc gia hay cho dân nghèo.
  4. Bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra, đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ.
  5. Ban bố những quyền của dân cho dân:
  6. Nhân quyền
  7. Tài quyền ( quyền sở hữu)
  8. c) Dân quyền: phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ ( tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền.
  9. Chia lại ruộng công cho công bằng, giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ, cứu tế nạn nhân.
  10. Ban bố luật lao động: ngày làm 8 giờ, định mức lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm.
  11. Xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát triển nông nghiệp, mở quốc gia ngân hàng.
  12. Xây dựng nền quốc dân giáo dục, chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng bức giáo dục đến bậc sơ cấp, kiến thiết nền văn hoá mới.
  13. Thân thiện và giao hảo với các nước Đồng minh và các nước nhược tiểu dân tộc để giành lấy sự đồng tình và sự ủng hộ của họ.

Qua việc mở lớp đào tạo cán bộ, các cơ quan tỉnh, huyện có thêm cán bộ hoạt động và có cán bộ của Mặt trận Việt Minh về công tác ở các xã trong tỉnh.

Ngày 20-6-1946, đồng chí Đặng Ngọc Chinh( Vũ), Phó bí thư Tỉnh uỷ, Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh tỉnh trên đường đi công tác bị địch phục kích sát hại tại Bời Lời ( huyện Trảng Bàng ).

Sau khi đồng chí Đặng Ngọc Chinh ( Vũ), Phó bí thư Tỉnh uỷ, Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh tỉnh hy sinh, đồng chí Tư Dũng được cử làm Chủ nhiệm, đồng chí Nhất Sơn, Phó chủ nhiệm; ông Thượng chánh phối sư Đặng Trung Chữ, Phó chủ nhiệm; ông Tòng, Tổng thư ký; Linh mục Nguyễn Bá Kính (Công giáo Tha La), Uỷ viên và một số cán bộ như đồng chí Oanh, Hoè…

Thực dân Pháp tập trung lực lượng càn quét không tìm diệt được lực lượng kháng chiến, không bình định ngay được tỉnh Tây Ninh, nên trở lại bài bản cũ là thực hiện âm mưu chia rẽ lương giáo, tìm cách nắm lấy đạo Cao Đài để chống phá lực lượng kháng chiến. Thực dân Pháp lôi kéo Trần Quang Vinh, mua chuộc Hộ pháp Phạm Công Tắc[36], thông qua Hộ pháp Phạm Công Tắc, Trần Quang Vinh môi giới chiêu hàng binh lính Cao Đài do Nguyễn Văn Thành, Trình Minh Thế chỉ huy. Đồng thời dùng uy thế của Hộ pháp Phạm Công Tắc và một số chức sắc trong Hội Thánh để lôi kéo quần chúng tín đồ theo Pháp chống lại Việt Minh. Ngày 30-8-1946, Hộ pháp Phạm Công Tắc về đến Toà Thánh. Ngày 8-1-1947, Hiệp ước quân sự giữa thực dân Pháp và Hộ pháp Phạm Công Tắc được ký kết.

Thế là thực dân Pháp thực hiện được âm mưu nắm chức sắc cao cấp phản động của đạo Cao Đài để đưa lực lượng vũ trang của đạo về đầu hàng Pháp, chống lại cuộc kháng chiến của nhân ta. Tình hình từ đây diễn biến phức tạp hơn, quân dân Tây Ninh vừa phải kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, vừa phải đối phó mưu đồ phản động của một số chức sắc trong đạo Cao Đài.

Ngoài việc một số chức sắc cao cấp phản động trong đạo Cao Đài theo thực dân Pháp, tỉnh Tây Ninh còn có biên giới giáp với Vương quốc Campuchia. Khi thực dân Pháp tái chiếm Tây Ninh, chúng xúi giục bọn Khmer gian giết người Việt, cướp tài sản của đồng bào ta ở biên giới, do đó phải có bộ phận làm công tác vận động đồng bào Khmer. Nay có bộ đội hải ngoại số 1 do đồng chí Ngô Thất Sơn chỉ huy[37] từ Thái Lan đi qua nước Campuchia về đến Tây Ninh. Tỉnh uỷ lâm thời báo cáo xin Xứ uỷ Nam bộ cho bộ đội hải ngoại số 1 ở lại Tây Ninh lo công tác Khmer vận. Được Xứ uỷ chấp thuận, Tỉnh uỷ lâm thời ra sức tạo mọi điều kiện cho bộ đội hải ngoại số 1 hoạt động. Sau khi nhận nhiệm vụ, đơn vị này không chỉ hoạt động ở 4 tổng người Khmer: Khăng Xuyên, Chơn Bà Đen, TaPenDuyn, BăngChơnRum, mà còn mở rộng hoạt động sang cả khu Đông Bắc Campuchia. Nhờ có cán bộ biết tiếng Khmer, đơn vị tiến hành khá thuận lợi trong công tác tuyên truyền vận động đồng bào Khmer, chủ yếu là vận động lập các hội cứu quốc, góp phần ổn định tình hình biên giới trong suốt thời gian kháng chiến.

Cuối năm 1946, theo sự chỉ đạo của Xứ uỷ Nam bộ về việc củng cố tổ chức Đảng, đồng chí Nguyễn Đức Thuận về tỉnh Tây Ninh triệu tập Hội nghị đảng viên. Hội nghị đã kiểm điểm đánh giá tình hình vừa qua, xác định âm mưu chung của giặc Pháp và âm mưu lôi kéo đạo Cao Đài để phá vỡ mặt trận đoàn kết dân tộc, chống lại kháng chiến. Hội nghị cũng khẳng định các chủ trương, đối sách vừa qua là đúng đắn, kịp thời, bước đầu tháo gỡ một số khó khăn. Hội nghị đã thống nhất phương hướng nhiệm vụ là tiếp tục củng cố và phát triển các mặt, chính quyền, Mặt trận, quân đội và thành lập Tỉnh uỷ. Hội nghị bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 5 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Hữu Dụ làm Bí thư Tỉnh uỷ.

Hội nghị đảng viên cuối năm 1946 có ý nghĩa như Đại hội Đảng bộ tỉnh, kết thúc nhiệm vụ lịch sử của Tỉnh uỷ lâm thời trong thời kỳ Đảng hoạt động bí mật[38], mở ra thời kỳ mới của Đảng bộ Tây Ninh. Hội nghị đảng viên đã xác lập những yếu tố căn bản về tổ chức và chủ trương để tiếp tục đưa cuộc kháng chiến đi lên.

  1. II. MẶT TRẬN VIỆT MINH, MẶT TRẬN LIÊN VIỆT CỦNG CỐ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT, ĐẨY MẠNH KHÁNG CHIẾN TOÀN DIỆN, KIÊN CƯỜNG CHỐNG PHÁP VÀ LỰC LƯỢNG PHẢN ĐỘNG TRONG ĐẠO CAO ĐÀI ( 1947-1950)

Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Từ đây, quân dân Tây Ninh bước vào thời kỳ cùng cả nước kháng chiến toàn dân, toàn diện , lâu dài và dựa vào sức mình là chính.

Từ đầu năm 1947, thực dân Pháp bắt đầu dốc sức bình định Nam bộ, xem đây là khâu then chốt trong chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của chúng. Muốn bình định có hiệu quả, chúng mua chuộc, lôi kéo một số chức sắc phản động trong tôn giáo để tạo thêm lực lượng chính trị, quân sự nhằm thực hiện âm mưu  “dùng người Việt đánh người Việt”.

Tại tỉnh Tây Ninh, sau khi Hiệp ước quân sự được ký kết giữa thực dân Pháp và Hộ pháp  Phạm Công Tắc (ngày 8-1-1947), thực dân Pháp dùng nhiều thủ đoạn nắm chặt Hộ pháp  Phạm Công Tắc và một số tướng tá, chức sắc cao cấp trong đạo Cao Đài, thúc đẩy họ chống lại chính quyền cách mạng. Giới chức sắc phản động trong đạo Cao Đài cấu kết với Pháp chống lại Việt Minh cũng được công khai, bằng cách rải truyền đơn, một mặt dựng trò lừa bịp là quân đội Cao Đài chỉ dùng kế “ Hàn Tín trá hàng” để lấy súng của Pháp rồi đánh lại Pháp, mặt khác kêu gọi lãnh đạo Việt Minh giao chiến trường Tây Ninh lại cho chúng; đồng thời gửi giấy mời đại diện Quân Dân Chính của tỉnh vào Toà Thánh hội đàm.

Trước tình hình đó, Tỉnh uỷ xem xét các diễn biến mới trong âm mưu của địch, chỉ đạo các ngành khẩn trương chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đối phó với các hành động cấu kết đánh phá kháng chiến của Pháp và Cao Đài. Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Mặt trận Việt Minh tỉnh và Ban Tuyên truyền tập trung cán bộ xuống xã, ấp tiến hành ngay các đợt tuyên truyền giáo dục, vận động quần chúng vào các đoàn thể cứu quốc và ủng hộ kháng chiến. Đối với truyền đơn “Hàn Tín trá hàng” của chức sắc phản động phải giải thích trong các buổi sinh hoạt đoàn thể để cho dân hiểu thủ đoạn lừa bịp của kẻ thù.  Kêu gọi đồng bào có đạo hay không có đạo đoàn kết chống lại âm mưu giành dân và đánh phá kháng chiến của địch.

Về giấy mời vào Toà Thánh hội đàm, Tỉnh uỷ chủ trương cần phải đi vì nếu không họ sẽ có lý do đổ lỗi cho ta thiếu thiện chí. Biết rằng không quy phục được họ, nhưng đây là cách làm chậm việc cấu kết với thực dân Pháp. Qua hội đàm, ta có thể biết được ý đồ của họ và nêu cao thiện chí chính nghĩa của chính quyền cách mạng.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ, đoàn đại biểu vào Toà Thánh hội đàm, gồm các đồng chí: Nguyễn Hữu Dụ, Bí thư Tỉnh uỷ; Dương Minh Châu, Chủ tịch uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh; Trần Văn Đẩu, Chi đội phó chi đội 11. Trong cuộc hội đàm, đoàn đại biểu của chính quyền cách mạng đã nêu rõ quan điểm, lập trường đúng đắn của Chính phủ cụ Hồ về đoàn kết toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp và bác bỏ hoàn toàn mọi yêu sách của giới chức sắc phản động trong đạo Cao Đài đưa ra.

Ngày 7-2-1947, sau khi chuyển giao vũ khí theo hiệp ước quân sự với bọn phản động trong tôn giáo Cao Đài, giặc Pháp cho tàu chở quân chạy dọc theo hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông, đổ quân lên nhiều điểm rồi đánh vào chiến khu kháng chiến ở Gò Nổi, Cây Chò, Xóm Mía, Rừng Nhum… Dựa vào lực lượng lớn, chúng tổ chức bao vây, Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh, Mặt trận Việt Minh tỉnh phải phân tán tránh né. Đồng chí Dương Minh Châu, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh cùng một anh em rút ra rừng Cây Chò, nhưng lại lọt vào khu vực càn quét của địch, đồng chí Dương Minh Châu đã hy sinh.

Sau cuộc càn lớn này của quân Pháp, Tỉnh uỷ đánh giá âm mưu cấu kết giữa thực dân Pháp và bọn phản động trong đạo Cao Đài đã bắt đầu thực hiện cụ thể, Tỉnh uỷ chỉ đạo các ban ngành, Mặt trận và các đoàn thể phải phân tán theo vùng, triệt để giữ bí mật, bảo tồn và phát triển lực lượng, dự trữ lương thực, vật dụng, tiết kiệm từng hạt muối, từng trang giấy… đồng thời hỗ trợ nhau khi cần thiết.

Lực lượng vũ trang Cao Đài với quân số gồm nhiều tiểu đoàn liên tiếp mở nhiều cuộc càn quét, truy tìm lực lượng kháng chiến. Trận đầu tiên đánh ra Bàu Cóp ( Chà Là). Hôm ấy, Chi đội 11- lực lượng vũ trang của tỉnh phục kích đánh quân Pháp đi càn. Giặc Pháp lọt vào khu vực phục kích, Chi đội 11 vây đánh và sắp bị tiêu diệt thì lực lượng Cao Đài từ hướng Tòa Thánh đến đánh Chi đội 11, giải thoát cho giặc Pháp. Để trả thù cho trận thua này, giặc Pháp đã có hành động man rợ, chặt đầu 2 người dân, xách về thị xã. Sau đó, giặc Pháp  đem 41 người bị bắt giam ở thành Săn Đá ra sân bay bắn và chặt đầu. Chúng xách đầu đi khắp phố, rồi lấy đầu cắm vào khúc tầm vông để hai bên đầu cầu Quan, số đầu còn lại chúng mang ra xếp đầy hai tam cấp nhà lồng chợ thị xã, rạp hát Kassy.

Quân Cao Đài tung  hoành phá phách, cướp phá, bắn giết khắp nơi. Với chính sách “tam quang” (đốt sạch, phá sạch, giết sạch), chỉ trong thời gian ngắn lực lượng phản động trong tôn giáo Cao Đài đã làm cho làng mạc xung quanh các khu căn cứ kháng chiến trở nên tiêu điều, xác xơ. Những người trung thành với cách mạng thì đưa gia đình vào chiến khu, người lưng chừng vào các Thị trấn. Không những thế, lực lượng phản động Cao Đài còn lập ra các đồn bót, gom dân vào các châu vi đạo, tạo nên sự ngăn cách giữ lực lượng kháng chiến và nhân dân.  Từ đây trên chiến trường Tây Ninh, bên cạnh hệ thống đồn bót của Pháp, còn có thêm hệ thống đồn bót của bọn phản động Cao Đài. Hệ thống đồn bót này đã toả rộng vào các khu căn cứ, gây cho cách mạng khó khăn về việc tiếp tế lương thực, thực phẩm, gạo muối đến mức “một hạt gạo lãnh đạo bảy củ mì”, “một lon gạo chia làm 07 ngày cho một định suất thương binh”.

Với ưu thế ban đầu, bằng chính sách “tam quang” nhằm tiêu diệt lực lượng kháng chiến để độc chiếm Tây Ninh, lực lượng phản động trong tôn giáo Cao Đài đã gây cho phong trào kháng chiến tỉnh Tây Ninh những khó khăn vô cùng to lớn. Cán bộ, chiến sĩ và nhân dân phải đương đầu với sự bắn giết khốc liệt, đốt phá dã man, phải chịu đựng biết bao hy sinh, gian khổ do thủ đoạn “dùng người Việt đánh người Việt”, “dùng tôn giáo đánh cách mạng” của thực dân Pháp và bọn phản động đội lốt tôn giáo gây ra.

Để từng bước đưa phong trào kháng chiến tiến lên, quân dân Tây Ninh phải đương đầu với nhiều thử thách cam go ác liệt.

Cùng với các cơ quan đảng, chính quyền, Mặt trận Việt Minh tỉnh phải phân tán hoạt động, giữ bí mật. Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh và Mặt trận Việt Minh tỉnh chuyển đến Giồng Điều (xã Phước Chỉ, nay thuộc xã Mỹ Quí Đông, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An) xây dựng căn cứ. Giồng Điều gần Đồng Tháp Mười thuận lợi cho việc vận chuyển lương thực nên Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh quyết định thành lập đường dây tải gạo đi dọc đồng “chó ngáp”[39], cắt lên Rừng Nhum về huyện Châu Thành.

 Hội Nông dân cứu quốc tỉnh, thành viên của Mặt trận Việt Minh được chỉ đạo huy động nông dân đi tải gạo. Lực lượng đi tải gạo chủ yếu là nông dân huyện Châu Thành. Lúc đầu, có hàng chục xe trâu, xe bò đi chở gạo, cùng hàng trăm dân công của các xã Ninh Điền, Hoà Hội, Hảo Đước, Thanh Điền, Trí Bình, nhưng lần này trên đường tải gạo về đã bị lực lượng phản động trong tôn giáo Cao Đài phục kích cướp hết gạo. Không thể dùng xe trâu, xe bò chở gạo được nữa, phải dùng sức người, dân công phải mang bao, gánh để tải gạo, muối về. Đường đi tải gạo, muối dài hàng mấy chục cây số, gặp phải mùa mưa nước lớn muốn nghỉ mệt, phải lấy cây nạng tạm chống cho đỡ đôi vai, mùa nắng lại khô cằn, đất cứng không may đạp phải gốc cây tràm là ứa máu. Khổ nhất là giao điểm giữa hai mùa mưa nắng, sình ngập tới gối, lội sình mấy giờ liền mà không có chỗ nghỉ chân. Đã gian truân khổ ải lại còn bị bọn phản động Cao Đài và Khmer gian chặn đánh liên tục. Để an toàn cho việc tải gạo, một tiểu đội du kích tập trung do đồng chí Nguyễn Văn Thân (Sáu Thân) làm tiểu đội trưởng, phối hợp với du kích các xã luôn luôn bảo vệ tuyến đường vận chuyển này. Dù vất vã, đội ngũ dân công tải gạo là những tấm gương dũng cảm, vượt qua gian khổ, hy sinh để mang về những hạt gạo, muối để nuôi bộ đội và nhân dân.

Trước tình hình càn quét của giặc Pháp và bọn phản động Cao Đài, nhiều cơ sở chính quyền, Mặt trận Việt Minh các xã bị tan vỡ. Mặt trận Việt Minh tỉnh chỉ đạo từng bước củng cố lại các đoàn thể. Tháng 7-1947, hai huyện Châu Thành, Trảng Bàng chính thức bầu ra Uỷ ban Mặt trận Việt Minh và đã hình thành 3 đoàn thể cứu quốc: Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân. Các cán bộ chủ chốt của các đoàn thể cứu quốc đa số là từ cán bộ Việt Minh và một số nhân sĩ trí thức. Hoạt động chủ yếu của các đoàn thể là tổ chức quần chúng đều khắp ở cả vùng địch tạm chiếm, vận động nhân dân đoàn kết chống càn quét, phòng gian bảo mật, tham gia phong trào dân quân, xây dựng xã ấp chiến đấu, nuôi quân và đưa thanh niên vào bộ đội, du kích.

Thời gian này, Mặt trận Việt Minh tỉnh mở  lớp huấn luyện đầu tiên 30 ngày tại Xơ Rơ-Phước Chỉ (nay thuộc xã Mỹ Quí Đông, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An) cho cán bộ chủ chốt của hai huyện Châu Thành và Trảng Bàng. Đầu năm 1948, Mặt trận Việt Minh tỉnh mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ dân quân ở Thổ Địa-Đức Huệ (nay thuộc xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An).

Các cơ quan đảng, chính quyền, Mặt trân Việt Minh đã vượt qua những thử thách ban đầu, từng bước ổn định chỉ đạo kháng chiến. Mặt trận Việt Minh tỉnh chỉ đạo các đoàn thể cứu quốc đưa lực lượng thanh niên nam, nữ vào tổ chức dân quân. Trước hết ở huyện Trảng Bàng có một tiểu đội dân quân, được trang  bị 6 cây súng do lực lượng vũ trang huyện cấp. Tiểu đội dân quân đến xã An Tịnh tổ chức thí điểm dân quân. Phong trào quần chúng xã An Tịnh khá mạnh nên nhanh chóng hình thành tổ chức dân quân. Từ xã An Tịnh, phong trào dân quân chuyển sang  xã Lộc Hưng, Gia Lộc, Phước Thạnh, Thanh Phước. Tổ chức dân quân dựa vào đoàn thể cứu quốc lựa chọn hội viên tốt, tích cực để tổ chức huấn luyện chính trị,  với nội dung: Chương trình Việt Minh, quân sự và võ thuật. Được học ba nội dung này, anh chị em dân quân rất phấn khởi và hăng hái đi vào nhiệm vụ bảo vệ xóm làng. Phong trào dân quân phát triển ngày càng mạnh trong huyện Trảng Bàng. Sau thí điểm ở huyện Trảng Bàng, Mặt trận Việt Minh tỉnh triển khai cho huyện Châu Thành, được Huyện uỷ và Mặt trận Việt Minh huyện ủng hộ, phong trào dân quân nhanh chóng thành lập và lan rộng ra các xã. Phong trào dân quân từng bước mở rộng hoạt động như: tổ chức các trạm canh gác bảo vệ xóm làng; thông báo tin kịp thời cho đồng bào cất giấu tài sản khi giặc càn quét, khi địch rút quân, giúp dân thu dọn tài sản. Về sau, lực lượng dân quân phối hợp với thanh niên phá đường, chặt cao su phá kinh tế địch.

 Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoài việc chống giặc ngoại xâm,  giặc đói được Mặt trận Việt Minh tỉnh chỉ đạo các đoàn thể cứu quốc là thành viên của Mặt trận vận động đồng bào thực hiện khá tốt. Trong phong trào chống giặc dốt,  mỗi tối, các lớp học được mở cho đồng bào đến học, những cụ già cũng mang đèn đến học. Dọc theo đường đi ở các xã giải phóng, có những trạm gác ngăn đường bằng tấm bảng ghi: i-tờ, tờ-i-ti, ai biết đọc thì đi, không biết chữ thì về… Phong trào diệt giặc dốt ở các xã hoạt động tốt, nạn mù chữ được  giải quyết dần ở những năm sau. Phong trào diệt giặc đói cũng được vận động rộng rãi. Các vùng ruộng đất phì nhiêu cặp hai bên sông Vàm Cỏ Đông từ  huyện Châu Thành đến huyện Trảng Bàng dần dần được nông dân và bộ đội vừa tổ chức chống càn bảo vệ mùa màng, vừa khai hoang phục hoá để cấy lúa. Đồng thời, khắp căn cứ cặp mé rừng được dọn chồi phá rẫy, tỉa lúa, trồng khoai. Phong trào sản xuất tự túc lương thực ngày càng phát triển, ước lượng chung trong toàn tỉnh hàng năm thu được trên 100.000 giạ lúa. So với các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long là không nhiều, nhưng đối với Tây Ninh đây là sản lượng khá lớn. Ăn được bát cơm đầy nhớ những ngày ăn cháo, ăn củ nần hoặc hạt gạo kèm theo mồ hôi và máu từ Đồng Tháp Mười tải về qua Đồng Chó Ngáp để nuôi quân và dân.

Các mặt công tác kháng chiến vượt qua thời kỳ khó khăn, khôi phục lại vùng nông thôn, phong trào kháng chiến của tỉnh khá toàn diện.

Công cuộc kháng chiến ở tỉnh Tây Ninh có những bước phát triển toàn diện, trong thực tiễn đầy gian nan thử thách, quân dân Tây Ninh đã đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp xã hội, tự lực tự cường ra sức xây dựng Đảng, chính quyền và Mặt trận, xây dựng lực lượng 3 thứ quân vừa kháng chiến chống Pháp, vừa kiên trì đấu tranh chống âm mưu của một số chức sắc phản động trong tôn giáo Cao Đài.

Đầu năm 1949, Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ hai được tổ chức tại căn cứ địa Trà Vong. Đại hội đã nghiêm túc kiểm điểm những chủ trương của Tỉnh uỷ vừa qua. Việc lãnh đạo của Tỉnh uỷ nhạy bén và kiên quyết. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương  của Đảng bộ với tinh thần nghiêm túc, dũng cảm. Các mặt công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận, quân đội, sản xuất tự túc đều tiến hành tốt. Do đó, trong một thời gian ngắn, cách mạng Tây Ninh từ khó khăn đã vững vàng tiến lên. Đại hội đã đề ra chủ trương các mặt công tác cho thời gian tới, trong đó có công tác Mặt Trận là phải tăng cường công tác vận động quần chúng tín đồ Cao Đài, đồng bào Khmer, quần chúng tín đồ Phật giáo, trí thức, nhất là giáo chức, tư sản dân tộc. Bồi dưỡng cán bộ về công tác vận động quần chúng và củng cố các cơ quan lãnh đạo trong Mặt Trận từ tỉnh đến cơ sở. Đối với chính quyền, tạo điều kiện giúp đỡ mọi mặt cho công tác Mặt Trận, Cao Đài vận, Khmer vận.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ hai đi vào cuộc sống, trở thành một động lực hết sức quan trọng thúc đẩy phong trào kháng chiến của tỉnh phát triển. Mọi mặt công tác kháng chiến đều được đẩy mạnh và thu được những thành tích đáng kể.

Công tác Mặt Trận được củng cố, giữa năm 1949, tại Bời Lời ( xã Đôn Thuận, huyện Trảng Bàng), Đại hội đại biểu Mặt Trận sáp nhập Mặt Trận Việt Minh tỉnh với Hội Liên hiệp Quốc dân tỉnh Tây Ninh[40] thành Mặt Trận Liên Việt. Hội nghị đã bầu ông Nguyễn Văn Điều (giáo chức) làm Chủ tich; Ông Dương Minh Huê (trí thức), ông Hộ (luật gia), ông Bùi Ngọc Hà (Cao Đài 12 phái), ông Sanh (Cao Đài phái Bến Tre) và một đại diện Công giáo ở Tha La đồng làm Phó Chủ tịch; Ông Nguyễn Văn Tốt (Hai Bình) đươc bầu Tổng thư ký.

Sau Đại hội, Mặt Trận Liên Việt ngoài việc tuyên truyền vạch rõ các âm mưu gây chia rẽ giữa người có đạo và người không có đạo, còn vận động giúp đỡ quần chúng tín đồ Cao Đài trở về ruộng vườn cũ sản xuất, phá bỏ sự ràng buộc ở các châu vi chung quanh đồn bót. Chủ trương này rất phù hợp với tình cảm của quần chúng tín đồn bị gom vào các châu vi nhiều năm qua. Nhiều quần chúng tín đồ Cao Đài đã bung ra sản xuất quanh núi Bà, bìa các khu căn cứ kháng chiến, dọn đất rừng làm rẫy, sản xuất hoa màu. Việc này vừa giải quyết đời sống của đồng bào, vừa tạo lương thực cho kháng chiến. Từ đó, công tác vận động quần chúng tín đồ Cao Đài có nhiều chuyển biến mới. Đồng bào tín đồ lần lượt bắt liên lạc với cách mạng, vì vậy sự cách biệt giữa đồng bào có đạo và không đạo dần dần được hàn gắn, tạo được sự đoàn kết giữa đạo và đời.

Tháng 02-1950, Xứ uỷ Nam bộ ra Nghị quyết bước đầu tạm cấp ruộng đất cho nông dân nghèo nhằm đẩy mạnh kháng chiến.  Thực hiện chủ trương của Xứ uỷ về việc tạm cấp ruộng đất, theo sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Mặt trận Việt Minh tỉnh đã đề xuất và được Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh đồng ý là tịch thu các đồn điền cao su của Pháp, đất của địa chủ phản động và ruộng công điền cho nông dân nghèo hoặc nông dân không có ruộng sản xuất. Đông thời Mặt trận Việt Minh tỉnh chỉ đạo các đoàn thể cứu quốc, chủ yếu là Hội Nông dân cứu quốc mở rộng hoạt động đưa bà con bung về ruộng vườn cũ sản xuất, lấp vành đai trắng do địch càn quét trước đây.  Công tác này vừa đáp ứng yêu cầu của nhân dân vùng bị kìm kẹp, vừa phá thế bao vây, vừa tạo điều kiện để móc nối dân xây dựng cơ sở vùng yếu, vận động nhân dân tiếp tế cho kháng chiến. Việc làm này, có ý nghĩa góp phần củng cố khối đoàn kết toàn dân, mở vùng, lấp vành đai trắng do bọn phản động Cao Đài gom dân lập các châu vi, đẩy mạnh kháng chiến, tạo thế đấu tranh đòi tự do đi lại sản xuất.

Đoàn Thanh niên cứu quốc sau các khoá học đào tạo đã trực tiếp xuống cơ sở phát động phong trào như tải gạo, phá kinh tế địch ( chủ yếu là cây cao su), phá các đường giao thông quan trọng; nhất là phong trào thanh niên xung phong tòng quân giết giặc, có lúc các huyện phải ngăn bớt để giữ phong trào ở địa phương. Hội Phụ nữ cứu quốc ở các huyện đã đưa tổ chức hội vào thị trấn, các chị đã cung cấp nhiều mặt hàng cần thiết cho kháng chiến. Nổi bật nhất là Hội mẹ chiến sĩ. Các mẹ tìm mọi cách vận động ủng hộ bộ đội bằng nhiều hình thức khác nhau như: “ hủ gạo kháng chiến”, “ con gà chiến sĩ”, “ liếp rau bộ đội” để bộ đội bớt khổ. Cho nên “Hội mẹ” có vai trò rất to lớn trong đời sống vật chất và tinh thần của anh em chiến sĩ.

Trong kháng chiến dù có khó khăn, gian khổ quân dân Tây Ninh vẫn nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Mặt trận Liên Việt kết hợp với huyện Châu Thành tổ chức cuộc mittinh lớn tại Bàu Sen ( xã Hảo Đước) mừng sinh nhật lần thứ 60 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lễ đài trang trí đẹp với bức chân dung thật lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng bào các xã của huyện Châu Thành về dự rất đông. Đặc biệt là đồng bào ở Thị xã bấp chấp sự phong tỏa của địch cũng đến dự lễ và mang theo nhiều quà để tặng bộ đội. Kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân Tây Ninh kính dâng lên Bác Hồ quyết tâm thư: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” để đẩy mạnh hơn nữa mọi mặt công tác kháng chiến đến “ Thành công, thành công, đại thành công”.

Từ ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đến cuối năm 1950, cuộc kháng chiến ở tỉnh Tây Ninh đã trãi qua đầy gian lao thử thách, nhưng với sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ, Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt tỉnh đã tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân đoàn kết tham gia vào cuộc kháng chiến. Với ý chí chiến đấu kiên cường vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, với tinh thần tự lực tự cường, quân và dân vượt qua khó khăn, vừa đánh đuổi quân xâm lược Pháp, vừa kiên trì đấu tranh chống bọn phản động trong tôn giáo Cao Đài đưa cuộc kháng chiến có bước phát triển nhảy vọt.

III. BỐ TRÍ LẠI CHIẾN TRƯỜNG, MẶT TRẬN LIÊN VIỆT TỈNH GIA ĐỊNH-NINH ĐÃ TẬP HỢP CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN ĐỨNG LÊN ĐẤU TRANH, GÓP PHẦN KẾT THÚC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1951-1954)

Sau những thất bại ở biên giới phía bắc, thực dân Pháp buộc phải chuyển từ chiến lược tấn công sang chiến lược phòng thủ. Để thực hiện chiến lược này, thực dân Pháp quay về tăng cường củng cố Nam bộ, áp dụng chiến thuật mới “giăng tháp canh”, đồng thời tung các đội Commăngđô[41] luồn sâu, đánh lẻ để ngăn chặn giao thông liên lạc, ngăn chặn nguồn tiếp tế của lực lượng kháng chiến.

Trước tình hình địch ráo riết thực hiện chính sách bao vây mọi mặt, Trung ương Cục miền Nam[42] quyết định bố trí lại chiến trường. Toàn Nam bộ lấy sông Tiền làm ranh giới, chia thành hai Phân liên khu: Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây. Đồng thời sắp xếp lại lực lượng, thay đổi tổ chức và kiện toàn các cấp lãnh đạo ở tỉnh, huyện, xã. Các cơ quan của tỉnh được sắp xếp lại gọn nhẹ, vừa có lực lượng chiến đấu ở phía trước, vừa có lực lượng sản xuất ở hậu phương, nhằm giảm bớt gánh nặng cho công tác tiếp tế lương thực, thực phẩm.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Cục, tỉnh Tây Ninh cùng với hai huyện Đức Hoà Thành, Trung Huyện của tỉnh Chợ Lớn và hai huyện Hóc Môn, Gò Vấp của tỉnh Gia Định sáp nhập thành tỉnh Gia Định- Ninh. Sau đó Tỉnh uỷ thành lập huyện căn cứ Dương Minh Châu gồm 5 xã: Ninh Thạnh, Thạnh Bình, Chơn Bà Đen, Phước Ninh và Định Thành.

Khi huyện căn cứ Dương Minh Châu xây dựng ổn định, Trung ương Cục, Bộ Tư lệnh Nam bộ, Phân liên Khu uỷ miền Đông chọn vùng Tà Dơ ( Đồng Rùm, huyện Dương Minh Châu) làm căn cứ.

Việc bố trí lại chiến trường, thành lập huyện Dương Minh Châu, căn cứ kháng chiến đầu não của Nam bộ, tỉnh Tây Ninh được tiếp cận sự lãnh đạo của Trung ương Cục, Phân liên Khu uỷ miền Đông đã tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào kháng chiến tiếp tục phát triển trong tình hình mới.

Sau khi tỉnh Gia Định- Ninh được hình thành, Tỉnh uỷ có nhiều cuộc họp với các ngành, các huyện để sắp xếp đội ngũ cán bộ, củng cố nội bộ, ổn định tình hình hoạt động kháng chiến. Mặt trận Liên Việt tỉnh Gia Định- Ninh do ông Mười Thới giữ chức Chủ tịch, ông Nguyễn Văn Tốt (Hai Bình) làm Phó chủ tịch và gồm nhiều thành phần khác trong Mặt trận, tiêu biểu cho mọi giai cấp và tầng lớp xã hội trong tỉnh.

Song song với hoạt động vũ trang chống địch càn quét lấn chiếm, ở vùng tạm chiếm Mặt trận Liên Việt các cấp cùng với các đoàn thể cứu quốc vận động đồng bào đấu tranh chống thuế, chống làm xâu bằng cách trốn tránh, kêu đói nghèo. Ở vùng tranh chấp, vận động đồng bào cất giấu bớt đồ đạc, chống cướp bóc, bắt do thám và sẵn sàng làm tai mắt cho du kích, bộ đội diệt địch.

Ngày 16-8-1951, Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Gia Định- Ninh ra thông báo về việc mua cổ phiếu kháng chiến để tiếp tục ủng hộ kháng chiến, Mặt trận Liên Việt các cấp cùng với các đoàn thể cứu quốc đã vận động tuyên truyền trong đồng bào mua cổ phiếu kháng chiến là cho Chính phủ vay tiền, vừa có lợi cho kháng chiến, vừa có lợi cho dân; mua cổ phiếu kháng chiến là cách tham gia kháng chiến thiết thực giết giặc cứu nước. Tại tỉnh Tây Ninh (cũ), cổ phiếu kháng chiến bán được 7.000 đồng.[43]

Năm 1952, Trung ương Cục miền Nam đề ra hai chính sách: Cao Đài vận và thuế nông nghiệp.

Đối với công tác Cao Đài vận, tỉnh Tây Ninh (cũ) có trung tâm tôn giáo Cao Đài nên tiến hành tổ chức nhiều lớp học tập cho cán bộ đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể thông suốt về đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng, từ đó mở rộng tuyên truyền ra dân. Nhiều đội tuyên truyền xung phong luồn sâu vào vùng Toà Thánh và “châu vi” các đồn bót vừa tuyên truyền vận động tín đồ trở về ruộng vườn cũ sinh sống, vừa phân hoá chức sắc, vừa vận động binh lính đào rã ngũ hoặc làm nội ứng hạ tháp canh, diệt đồn. Ngoài ra, ta còn tuyên bố chỉ đánh đồn Pháp và đồn Cao Đài ngoan cố theo Pháp, không đánh những đơn vị, đồn bót Cao Đài không quấy nhiễu dân.

Với sự nổ lực hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể, công tác Cao Đài vận trong hai năm 1952, 1953 đạt kết quả tốt, xoá được phần lớn ranh giới thành kiến giữa đạo và đời, giữa binh lính Cao Đài và bộ đội kháng chiến, khoét sâu mâu thuẫn nội bộ bọn phản động trong tôn giáo Cao Đài, hiện tượng đào rã ngũ ngày càng nhiều trong hàng ngũ binh sĩ Cao Đài.

Trong công tác thuế nông nghiệp, được các đoàn thể của Mặt trận đảm nhiệm tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt chính sách thuế nông nghiệp. Đây là việc làm mới, nhưng cán bộ các đoàn thể kiên trì phát động, giải thích, thuyết phục được đại đa số nhân dân đồng tình hưởng ứng.

Ở vùng nông thôn bị tạm chiếm, cán bộ các đoàn thể len lỏi vào tuyên truyền chính sách thuế nông nghiệp, kết hợp với việc lãnh đạo nhân dân chống thuế, chống xâu, chống bắt lính. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và với sự tác động của bộ đội, nhân dân tự giải phóng mình khỏi sự bóc lột, kìm hãm của giặc.

Từ đó, việc thực hiện chính sách thuế nông nghiệp đạt kết quả khá cao, nhân dân vừa làm nghĩa vụ của mình, vừa mang tình cảm với kháng chiến. Chính sách thuế nông nghiệp còn đáp ứng được một phần cung cấp lương thực cho bộ đội và cán bộ. Cán bộ, chiến sĩ thêm an tâm phấn khởi và nhân dân cảm thấy việc đóng góp của mình là thiết thực nuôi quân đánh giặc, chứng tỏ kháng chiến ngày càng lớn mạnh.

Trong khi mọi mặt kháng chiến đang trên đà đi lên thì tháng 10-1952, cơn bão lụt Nhâm Thìn ập đến gây nhiều thiệt hại. Huyện Châu Thành bị ngập 4 xã: Đước Hoà Bình, Khăng Xuyên, Thái Bình, Long Xuyên Điền, thiệt hại 80% ruộng, 40% rẫy. Huyện Trảng Bàng thiệt hại 2/3 số lúa. Huyện Dương Minh Châu thiệt hại hơn 50% diện tích ruộng. Tính chung ba huyện của tỉnh Tây Ninh (cũ) thiệt hại khoảng 500.000 giạ lúa.

Hậu quả nghiêm trọng nhất của lũ lụt là gây ra nạn đói. Hàng vạn chiến sĩ, đồng bào trong vùng căn cứ lâm vào cảnh thiếu ăn từng ngày, có nơi không đủ gạo nấu cháo cho thương binh ăn.

Trước tình hình đó, để ổn định đời sống của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, Tỉnh uỷ Gia Định- Ninh chủ trương:

– Tất cả các cơ quan Dân Chính Đảng đều phải đẩy mạnh tăng gia sản xuất, trồng cây hoa màu ngắn ngày và chăn nuôi gia súc, gia cầm.

– Tổ chức đường dây vận tải tiếp tế, lấy gạo các tỉnh miền Tây về để cứu đói.

– Tập trung thu thuế nông nghiệp ở vùng tranh chấp và vùng giải phóng không bị thiên tai (ở mỗi vùng có biện pháp khác nhau).

– Vận động nhân dân tích cực đóng góp ủng hộ cách mạng.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ, các huyện của tỉnh Tây Ninh (cũ) chỉ đạo Mặt trận cùng thành viên là các đoàn thể vận động nhân dân trong căn cứ sản xuất chống đói. Nước rút đến đâu là trồng ngay hoa màu đến đó. Ở huyện Châu Thành và Trảng Bàng còn phát động mạnh phong trào trồng khoai ruộng, trồng xen vụ bắp để kịp thời cứu đói. Đường dây tải gạo từ Đồng Tháp Mười về được củng cố và mở rộng. Tất cả cán bộ, chiến sĩ đều sản xuất tự túc.

Các huyện của tỉnh Tây Ninh (cũ) vừa thoát khỏi cảnh thiếu muối, đói cơm vì địch hoạ trong mấy năm trước, nay lại bị thiên tai nặng nề, nhưng đồng bào và chiến sĩ vẫn cố gắng vượt qua. Đặc biệt, không vì khó khăn về lương thực mà sút giảm tinh thần kháng chiến.

Giặc Pháp liên tiếp thất bại trên các chiến trường, thế và lực ngày càng suy yếu, lợi dụng tình hình này, đế quốc Mỹ nhảy vào nắm nhiều tôn giáo, nên thực dân Pháp dùng thủ đoạn “ thân binh hoá” các lực lượng vũ trang giáo phái. Một số tên phản động trong tôn giáo muốn lợi dụng cả Pháp và Mỹ đã hình thành Mặt trận Quốc gia kháng chiến gọi là Liên minh vào tháng 6-1952.

Quân đội Quốc gia Liên minh do Trình Minh Thế chỉ huy, đưa ra tôn chỉ, mục đích, lời kêu gọi hô hào đoàn kết đánh Pháp, chính Quân đội quốc gia Liên minh mới là Cao Đài chính thống, quyết tâm tách khỏi Toà Thánh ra rừng đánh Pháp. Bọn chúng dựa vào lời kêu gọi bịp bợm đó để kêu gọi nhân dân ủng hộ đánh Pháp. Nhưng thực chất hoạt động của chúng là cướp của giết người hết sức dã man, bóc lột tô tức cả đồng bào Campuchia ở biên giới. Chúng thành lập đội quân Hắc y (biệt kích), chia từng nhóm nhỏ luồn sâu vào căn cứ cách mạng, giả dạng dân đi mò cua, bắt cá để bắt dân cướp của, chặn đường bắt cán bộ, truy lùng du kích và dò la tình hình cách mạng. Bắt được cán bộ, đồng bào trong vùng căn cứ là giết chết, hoặc bỏ người vào bao bố, cột miệng bao lại, treo đá thả sông, gọi là cho đi “mò tôm”, bắt phụ nữ hãm hiếp. Ngoài ra, còn có những nhóm Hắc y khác đột nhập vào xóm làng do Pháp kiểm soát, bắt dân đóng tiền, ai đóng không đủ, không đúng yêu cầu của chúng là bị đe doạ hoặc thủ tiêu. Quân đội quốc gia Liên minh là hung thần, là nổi kinh hoàng của nhân dân ở vùng tạm chiếm cũng như trong vùng căn cứ.

Năm 1953, do thất bại nặng nề ở chiến trường Bắc Bộ, giặc Pháp lúng túng bị động, rút vào thế phòng ngự, ý đồ củng cố chiến trường Nam bộ không thực hiện được. Trong khi đó phong trào kháng chiến ở Nam Bộ không ngừng lớn mạnh. Ở tỉnh Gia Định-Ninh, các tiểu đoàn tập trung của tỉnh cùng bộ đội địa phương và du kích xã hoạt động mạnh có tác dụng thúc đẩy phong trào kháng chiến chung.

Ở các sở cao su, công nhân tiếp tục đấu tranh chống chế độ bóc lột hà khắc như tăng giờ làm, nhưng không tăng lương, còn bị cúp phạt; phá kinh tế như đổ mủ cao su, lãng công, tham gia du kích mật kết hợp với du kích xã và bộ đội địa phương diệt địch tại sở cao su. Phong trào phát triển mạnh nhất ở sở cao su Bến Củi, Vên Vên.

Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Uỷ ban kháng chiến hành chính các huyện, Mặt trận đã phục vụ kịp thời cho yêu cầu chung của chiến trường, nhất là tiếp tục và mở rộng việc thực hiện hai chính sách lớn: Cao Đài vận và thuế nông nghiệp. Đồng thời lãnh đạo đồng bào sản xuất tự túc lương thực, hoa màu, đẩy mạnh việc tiếp vận và giao lưu hàng hoá giữa các vùng để ổn định đời sống đồng bào và bộ đội yên tâm kháng chiến.

 Thành viên của Mặt trận là các đoàn thể quần chúng đẩy mạnh công tác hơn trước. Hội Nông Dân tích cực tổ chức và lãnh đạo cuộc vận động đòi giảm tô, giảm tức ở vùng tạm chiếm và tiến hành lấy đất  của địa chủ phản động, công điền tạm cấp cho nông dân nghèo không có ruộng. Đoàn Thanh niên phát động mạnh phong trào tòng quân vào bộ đội giết giặc, gia nhập du kích thoát ly và du kích mật để bảo vệ xóm ấp. Hội Phụ nữ tổ chức tốt công tác binh vận, làm rệu rã tinh thần binh lính địch, khiến cho việc đào rã ngũ của địch trở thành hiện tượng phổ biến.

Đầu năm 1954, tình hình chung của cuộc kháng chiến của nhân dân ta diễn biến hết sức thuận lợi: Chiến dịch Thượng Lào (1-1954) toàn thắng; tỉnh Kom Tum được giải phóng; Plâyku bị uy hiếp nặng khiến địch phải huỷ bỏ cuộc đánh chiếm đồng bằng duyên hải Khu I và rút quân ở Bình Trị Thiên, Nam Bộ lên tăng viện cho Plâyku. Trong cục diện thuận lợi đó, chiến dịch Điện Biên Phủ trở thành trận quyết chiến chiến lược.

Hoạt động kháng chiến của quân dân các huyện: Dương Minh Châu, Châu Thành và Trảng Bàng trong những ngày đầu năm 1954 diễn ra khẩn trương , sôi nổi. Huyện Dương Minh Châu, bộ đội địa phương  mở rộng hoạt động ra ngoại vi căn cứ, khống chế lộ 26, phục kích tiêu diệt nhiều đoàn xe quân sự của địch tại Cầu Nhỏ. Từ đó, địch không dám lùng sục vào vùng căn cứ. Huyện Trảng Bàng, bộ đội địa phương kết hợp với bộ đội chủ lực tỉnh đánh giao thông chiến trên các trục lộ 26, 1, diệt nhiều đoàn côngvoa của địch, bao vây bức rút hoặc tiêu diệt các bót Bùng Binh, Mang Chà, Trảng Sa, Bà Nhã, Truông Mít và đánh thiệt hại nặng bót Gia Bình, đánh tan tiểu đoàn Cơ Thánh Vệ tại đồng Đất Đậu ( xã Đôn Thuận) khi chúng từ Toà Thánh xuống giải vây cho bót Cao Đài ở Cầu Xe. Một tháng sau, địch đưa thêm một tiểu đoàn Hắc Y ( Quân đội Quốc gia Liên minh) xuống ứng cứu cho bót Bùng Binh, bị ta phục kích tiêu diệt gần hết đơn vị này. Huyện Châu Thành, tiêu diệt bót Năm Dinh khiến bọn chúng co lại không dám đánh phá nữa. Một vùng rộng lớn bên hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông được giải phóng. Bội đội địa phương huyện chuyển sang tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông,  cùng du kích các xã kìm chế lộ 13, phối hợp với tiểu đoàn 306 diệt bót Oconell. Làm chủ lộ 7, đẩy địch lùi về cố thủ thị xã.

Với những chiến thắng này, cùng với tin tức từ mặt trận Điện Biên Phủ và các chiến trường khác dồn dập bay về nhân dân các huyện nô nức phấn khởi. Mọi người tìm cách giúp đỡ bộ đội, quyên góp lương thực, thuốc men ủng hộ kháng chiến để mau chóng giành thắng lợi hoàn toàn.

Ngày 7-5-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc toàn thắng. Ngày 21-7-1954, Hiệp định Giơnevơ lập lại hoà bình ở Đông Dương được ký kết, lệnh ngừng bắn được tiến hành trên toàn chiến trường Nam Bộ.

Để thiết thực chào mừng thắng lợi, cơ quan Tuyên huấn tỉnh xuất bản nhiều các loại sách báo với nội dung tuyên truyền về chiến thắng Điện Biên Phủ, về thắng lợi của Hiệp định Giơnevơ, về nhiệm vụ đấu tranh sắp tới được phân phát rộng rãi ở vùng căn cứ, vùng tranh chấp, vùng tạm chiếm, vào các đồn bót địch. Đồng thời, khắp nơi trong tỉnh đã diễn ra các cuộc mittinh mừng chiến thắng.

Qua chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quân dân Tây Ninh đã phải chịu biết bao gian khổ, hy sinh, kiên trì gây dựng lực lượng, phát động phong trào chiến đấu không mệt mỏi với bọn xâm lược và bè lũ tay sai mạnh hơn hẳn về quân số và trang bị vũ khí để giành thắng lợi quyết định. Đạt được thắng lợi đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền, còn có Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt đóng vai trò là trung tâm đoàn kết vận động toàn dân chung tay góp sức đánh giặc.      

 

CHƯƠNG IV

MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG TỈNH TÂY NINH TRONG SỰ NGHIỆP KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954-1975)

  1. VẬN ĐỘNG NHÂN DÂN ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ GIỮ GÌN LỰC LƯỢNG, TIẾN LÊN ĐỒNG KHỞI VŨ TRANG GIẢI PHÓNG ĐẠI BỘ PHẬN NÔNG THÔN VÀ SỰ RA ĐỜI MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM (1954-1960)

Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương được ký kết (7-1954). Theo qui định của Hiệp định đất nước tạm thời chia làm hai miền Nam- Bắc, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Miền Nam tạm thời do thực dân Pháp nắm giữ, lực lượng bên nào tập kết về bên ấy và sau hai năm sẽ hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất nước nhà.

Thực hiện Hiệp định Giơnevơ, theo sự chỉ đạo của Đảng, 283 cán bộ, chiến sĩ của Tây Ninh cùng một số cán bộ của Phân liên khu miền Đông từ chiến khu Dương Minh Châu về Cao Lãnh (Đồng Tháp), khu tập kết 100 ngày, sau đó tập kết ra Bắc. Bên cạnh đó, để chuẩn bị cho nhiệm vụ cách mạng mới là đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Giơnevơ, tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, đấu tranh chống địch khủng bố, trả thù những người kháng chiến cũ, đòi quyền dân sinh, dân chủ; lực lượng cách mạng cũng nhanh chóng sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời tổ chức chôn giấu vũ khí.

Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, ngày 23-7-1954, hàng ngàn người ở Bến Cầu giương băng cờ mừng hoà bình, kéo qua Gò Dầu để phối hợp với đồng bào ở đây tổ chức một cuộc biểu tình lớn, nhưng vừa đến cầu Gò Dầu bị giặc Pháp chặn lại. Đồng bào giằng co với địch đến trưa vẫn không qua được cầu, đành phải quay về. Tại Gò Dầu, hàng ngàn người giương cao biểu ngữ, cờ đỏ sao vàng mừng Hiệp định Giơnevơ và hô to khẩu hiệu “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!”. Địch hoảng sợ bắn vào đoàn biểu tình làm hai người chết, hai người bị thương, nhưng vẫn không giải tán được đoàn biểu tình. Ngày 26-8-1954, tại Trảng Bàng, đoàn biểu tình hàng ngàn người từ các xã kéo ra thị trấn chào mừng hoà bình, địch đàn áp, bắn chết một người dẫn đầu đoàn biểu tình và làm nhiều người khác bị thương.

Tháng 10-1954, để công tác lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời thích ứng với tình hình mới, Liên tỉnh uỷ miền Đông[44] quyết định tách tỉnh Tây Ninh khỏi tỉnh Gia Định thành tỉnh riêng theo ranh giới như cũ và chỉ định Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tây Ninh gồm 11 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Trọng Cát (Ba Cát) làm Bí thư Tỉnh uỷ.

Tỉnh uỷ Tây Ninh tổ chức Hội nghị tại xóm Lợi Hoà Đông ( xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng), đề ra hương trình hành động, củng cố lại các tổ chức Đảng các cấp, giáo dục cho đảng viên phương thức hoạt động công khai, bí mật, lãnh đạo tư tưởng cán bộ, đảng viên tránh ảo tưởng hoà bình. Cán bộ, đảng viên phải tạo chỗ dựa trong dân, thực hiện cùng ăn, cùng ở, cùng làm và cùng quần chúng đấu tranh để qua đó xây dựng và phát triển thực lực cách mạng. Tỉnh uỷ còn chỉ đạo các địa phương, trong khi tạm giải thể các đoàn thể cứu quốc, phải dựa vào tập quán và sinh hoạt bình thường của quần chúng mà tổ chức ra các tổ chức công khai biến tướng như hội banh, hội làm nhà, hội cúng đình, miếu, vạn cấy, vạn đổi công…Ở thị xã, thị trấn, tận dụng các tổ chức của địch như nghiệp đoàn, phụ nữ, thanh niên để tập hợp quần chúng theo giới của mình; rà soát và nắm lại các cơ sở cách mạng trước đây. Đồng thời lựa chọn người tốt và số cán bộ, đảng viên, đoàn viên đưa vào Hội đồng hương chính, dân vệ, các sắc lính và trong bộ máy nguỵ quyền, gây cơ sở trong lòng địch để nắm âm mưu hoạt động, nhằm hạn chế việc thi hành các chính sách áp bức, bóc lột của địch. Đặc biệt ở thời điểm này, ta vẫn in ấn tài liệu, truyền đơn, tờ rơi với nội dung tuyên truyền thắng lợi của Hiệp định Giơnevơ được tán phát rộng rãi trong nhân dân và ngay trong trụ sở Tòa hành chính tỉnh của địch tại thị xã.

Về phía địch, chúng nhanh chóng xây dựng chính quyền, quân đội để đàn áp lực lượng cách mạng miền Nam. Riêng ở Tây Ninh, sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, lực lượng Cao Đài Liên minh như “ rắn mất đầu”, đa số hoảng loạn tan rã, một số khác ra đầu hàng Ngô Đình Diệm, như lực lượng của nhóm Văn Thành Cao. Cao Đài Liên minh của nhóm Trình Minh Thế lẫn trốn ở núi Bà Đen và khu vực Bến Cầu giáp biên giới Campuchia. Do không còn ai chi viện, không còn đất sống nên  bung ra cướp bóc, chúng tổ chức truy lùng, bắt bớ, bắt giết, thủ tiêu, chôn sống, mổ bụng, moi gan cán bộ kháng chiến và những người yêu nước. Hàng trăm người bị chúng giết hại, trong đó có nhiều phụ nữ bị chúng hãm hiếp rồi giết chết. Thời gian này gọi là nạn Liên minh ở Tây Ninh.

Đầu năm 1955, Tỉnh uỷ kiểm điểm việc thực hiện chương trình hành động, nhận thấy việc giữ gìn lực lượng đạt kết quả khá tốt, đại đa số cán bộ, đảng viên bước đầu bám dân, xây dựng được “lõm chính trị” an toàn, có hàng rào quần chúng bảo vệ, Tỉnh uỷ, Huyện uỷ đều đóng trong nhà dân, có hầm bí mật và hệ thống thông báo tin khi giặc càn, giặc rút.

Tôn giáo Cao Đài có quân đội riêng, nguỵ quyền Sài Gòn tính toán không để cho lực lượng này tồn tại riêng rẽ. Để thực hiện kế hoạch này, chúng dùng thủ đoạn một mặt thương lượng với các lãnh tụ đạo Cao Đài, giả vờ chấp nhận các yêu sách của họ về quyền lợi và địa vị, mặt khác đưa một số chuyên viên quân sự từ Sài Gòn lên lập Mặt trận đối lập với Chính phủ Ngô Đình Diệm, rồi phanh phui việc này ra ánh sáng. Nguỵ quyền Sài Gòn lấy cớ này, cho quân bao vây Toà thánh, khống chế Hội Thánh, buộc Hộ pháp Phạm Công Tắc phải chạy sang Phnôm Pênh (Campuchia). Trước tình hình đó, đa số những người lãnh đạo Cao Đài trước đó từng hợp tác với Pháp, Nhật, trong đó có Trình Minh Thế, đều buộc phải quy phục Ngô Đình Diệm. Để xoa dịu và tiếp tục dụ dỗ Hội Thánh, các chức sắc, chức việc và đông đảo tín đồ, chính quyền Ngô Đình Diệm ký Hiệp ước Bính Thân với các lãnh tụ Cao Đài, hứa cho Cao Đài quyền tự trị.

Nắm được âm mưu và thủ đoạn của địch đối với tôn giáo Cao Đài, Tỉnh uỷ Tây Ninh đã bí mật lựa chọn một số cán bộ vừa có năng lực, vừa có người thân quen tốt ở Toà Thánh, như đồng chí Hai Kết, Huyện uỷ viên Gò Dầu; đồng chí Nguyễn Trung Đạo (Bảy Đạo), Bí thư xã Trí Bình (huyện Châu Thành) được đưa vào hoạt động trong vùng Toà Thánh để vận động và lãnh đạo quần chúng đấu tranh, xây dựng cơ sở cách mạng. Riêng đồng chí Nguyễn Văn Tốt (Hai Bình) được Xứ uỷ Nam Bộ giao nhiệm vụ ẩn mình vào cửa đạo, tạo thế xây dựng lực lượng hoạt động lâu dài, vận động quần chúng tín đồ Cao Đài, chức sắc, chức việc, tập hợp vào Mặt trận đoàn kết chống Mỹ- Diệm.

Giữa năm 1955, thông qua cơ sở cách mạng, Tỉnh uỷ tổ chức “Mặt trận hoà bình chung sống” trong tôn giáo Cao Đài để tập hợp quần chúng tín đồ đấu tranh chống Mỹ – Diệm. Đồng thời, chống lại tổ chức “Hoà bình giáo hội” là một công cụ của địch do một số chức sắc cao cấp trong Hội Thánh có thành kiến với cách mạng bày ra. Hoạt động chủ yếu của tổ chức “Hoà bình giáo hội” là xuyên tạc về thắng lợi cách mạng của nhân dân ta. “Mặt trận Hoà bình chung sống” ra đời với cương lĩnh, điều lệ hoà hợp dân tộc, đấu tranh cho sự yên lành đã huy động đông đảo quần chúng tín đồ tham gia, trong đó có nhiều chức sắc, chức việc.

Theo ngọn cờ của “Mặt trận Hoà bình chung sống”, tại Toà Thánh, hàng ngàn quần chúng tín đồ với khẩu hiệu chống quân nguỵ lấn chiếm Toà Thánh và chống mở Long Hoa hội để đón tiếp Ngô Đình Diệm đến Toà Thánh. Khi Ngô Đình Diệm đến Toà Thánh, đứng trên lễ đài đọc diễn văn, quần chúng với các hình thức đấu tranh làm mất trật tự, xen lẫn với những tiếng la vang “đả đảo Ngô Đình Diệm”, “Hồ Chí Minh muôn năm”. Trên lễ đài, Ngô Đình Diệm đang huênh hoang bài diễn văn đầy lời lẽ dụ dỗ, phải hoảng sợ trước sức mạnh của quần chúng và tức tốc về Sài Gòn.

Trong những năm đấu tranh chính trị giữ gìn lực lượng, trên danh nghĩa không còn tổ chức Mặt trận, nhưng tất cả cán bộ đảng viên đều làm công tác Mặt trận, vận động quần chúng, tổ chức xây dựng lực lượng đấu tranh chính trị, thực hiện phương châm hoạt động: cùng ăn, cùng ở, cùng làm và cùng quần chúng đấu tranh. Đồng thời, sử dụng thế hợp pháp kết hợp với nửa hợp pháp và không hợp pháp tuỳ cơ ứng biến phù hợp với từng vùng địch kiểm soát. Không còn lực lượng vũ trang và nghiêm chỉnh chấp hành các điều khoản Hiệp định, ta dùng thế công khai hợp pháp vận động quần chúng đấu tranh.

Phong trào đấu tranh chống địch làm u tối đời sống, địch cấm đoán mọi cuộc hội họp, đám giỗ, đám cưới cũng phải xin phép, doạ bắt tù những ai vi phạm, gây căng thẳng trong đời sống xã hội. Ta tổ chức các hội biến tướng như: hội đờn ca, hội lân, hội banh, vạn cấy… thu hút thanh niên, kể cả con của tề xã, ấp vào tham gia hội, địch không cấm được. Các hội biến tướng tạo thuận lợi cho cán bộ ta thâm nhập để phổ biến chủ trương của Đảng cho quần chúng đấu tranh.

Về phía địch, đế quốc Mỹ nhanh chóng nhảy vào miền Nam. Với sự chi phối và tài trợ của Mỹ, ngày 07-7-1955 Ngô Đình Diệm được dựng lên làm Thủ tướng Chính phủ để thực hiện âm mưu phá hoại Hiệp định, chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa và căn cứ quân sự của Mỹ. Chính quyền Ngô Đình Diệm công bố Đạo dụ số 2   “Cải cách điền địa” để cho bọn địa chủ cướp đoạt ruộng đất của nông dân được cách mạng cấp trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Đạo dụ số 2 bắt nông dân ký khế ước là 5 năm và đóng tô cho bọn địa chủ, khôi phục lại giai cấp địa chủ. Nông dân ký khế ước tức là từ bỏ quyền sở hữu ruộng đất, nếu không ký khế ước bị xem là “Việt cộng”, có thể bị bắt đi tù. Ở nông thôn, phong trào nông dân chống cướp đất diễn ra mạnh mẽ, kiên quyết không cho địa chủ cướp đất, như chống lại tên đốc phủ Đẩu ở xã An Hoà (huyện Trảng Bàng). Đồng bào đấu tranh quyết liệt, dám đưa Quyết định cấp đất của Ủy ban Kháng chiến- Hành chính xã An Hòa cho địch xem. Quận trưởng Trảng Bàng vẫn cho lính đến đo lấy đất, nông dân xã An Hoà dùng dao mác, rựa chặt hết cọc cắm đo đất. Trước đấu tranh của quần chúng, binh lính không dám đàn áp. Tại xã Gia Lộc (huyện Trảng Bàng), quần chúng đấu tranh không cho Hàm Đứa lấy lại đất đã được chính quyền cách mạng cấp trong thời chống Pháp. Đặc biệt, có cuộc đấu tranh trực diện với tên Tỉnh trưởng Tây Ninh liên tục 2-3 ngày, với yêu sách không được ủng hộ bọn địa chủ cướp đất của nông dân.    

Chống âm mưu địch trong vấn đề quốc gia hóa quân đội Cao Đài và gây chia rẽ đạo đời, tỉnh tổ chức học tập chính sách tôn giáo của Đảng trong quần chúng có đạo và không đạo nêu rõ âm mưu chia rẽ của địch, giải quyết ruộng đất cho số đồng bào các châu vi bung về làng cũ sản xuất. Tỉnh đưa cán bộ giúp đỡ binh lính Cao Đài chạy ra rừng và nắm lấy những đơn vị Cao Đài ly khai, sau ta dùng danh nghĩa này hoạt động tạo lực lượng vũ trang bí mật của ta.

Thời gian từ tháng 7-1956 đến cuối năm 1959, địch bắt đầu khủng bố có quy mô, có thể nói đây là thời kỳ cán bộ ta bị tổn thất nghiêm trọng nhất, nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt tù đày và hy sinh.

Sau khi ban hành luật “Luật bảo vệ trị an”, địch đưa ra quốc sách chống cộng nhằm dụ dỗ mua chuộc, rún ép, đấu tố cộng, diệt cộng sản… Và chọn Tây Ninh làm thí điểm chiến dịch tố cộng, diệt cộng mang tên Trương Tấn Bửu từ ngày 17-9-1956 đến ngày 15-3-1957. Trước tiên, địch đánh vào hai xã Phước Vinh và Hòa Hội (2 xã có phong trào đấu tranh của quần chúng mạnh nhất). 20 ngày sau, chúng đánh sang một số xã khác thuộc huyện Châu Thành như Thái Bình, Thanh Điền, Trí Bình, Ninh Điền và đánh tràn đến các huyện Gò Dầu, Trảng Bàng. Địch đã vấp phải tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân, kiên quyết không tố cộng, không ly khai, không xé cờ, không khai báo cơ sở cách mạng.

Trong những năm đấu tranh chính trị, nhân dân và các dân tộc tỉnh Tây Ninh đã liên tục đấu tranh chống địch với hình thức phong phú làm cho địch bị động lúng túng. Đạt được một số thắng lợi đó chứng tỏ lòng yêu nước của nhân dân được nâng lên cao độ, đồng bào càng thấy rõ dã tâm của đế quốc Mỹ và tay sai, càng quyết tâm xây dựng thế trận đấu tranh chính trị vững mạnh, xây dựng nền móng cho lực lượng vũ trang, tạo tiền đề cho hình thái đấu tranh mới.

Qua thực tiễn sinh động đầy gian khổ của phong trào quần chúng, các tổ chức Đảng được củng cố sinh hoạt nề nếp phù hợp với tình hình mới. Riêng ở Tòa Thánh đã thành lập Ban cán sự Đảng (tương đương Huyện ủy) với hệ thống cán bộ cốt cán và cơ sở chuyên công tác Cao Đài vận. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban cán sự Đảng Tòa Thánh, phong trào đấu tranh của quần chúng tín đồ chống địch bảo vệ sự trong sáng của đạo đi vào chiều sâu. Hàng ngàn quần chúng tín đồ trở về quê cũ hoặc bung ra khai hoang phục hóa làm rẫy, tỉa lúa, trồng khoai tận các vùng giải phóng của ta. Mối quan hệ hiểu biết giữa đồng bào có đạo và không đạo ngày càng được củng cố và phát triển.

Trước sự đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, địch tăng cường bộ máy đàn áp, chém giết, trong đó có đồng chí Hoàng Lê Kha, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy bị địch bắt khi vào thị xã công tác và bị chính quyền Ngô Đình Diệm kết án tử hình bằng máy chém theo luật 10/59. Với tôn giáo Cao Đài Tây Ninh, cái chết của Chơn nhơn Trịnh Phong Cương và Thừa sử Phạm Hữu Phước là tiếng gọi cứu đạo, cứu nước mãi mãi bừng dậy trong lòng mỗi đồng bào đạo Cao Đài.

Từ thực tế tình hình đó, tư tưởng cán bộ và quần chúng không ổn định. Tỉnh ủy chủ trương điều lắng cán bộ bị lộ, tổ chức học tập nâng cao khí tiết đảng viên, học tập gương chiến đấu của các chiến sĩ cách mạng. Qua học tập tư tưởng cán bộ chuyển biến tốt, càng khó khăn cán bộ càng có nhiều sáng kiến che mắt địch bảo vệ cán bộ đảng viên. Nhiều nơi bí mật thủ tiêu bọn ác ôn, giữ vững các cơ sở.

Trong bối cảnh chung đó, cuộc nổi dậy ở Trảng Cỏ (xã Đôn Thuận, huyện Trảng Bàng) đã tạo khí thế mới trong đấu tranh. Đầu năm 1958, xã Đôn Thuận là xã có phong trào cách mạng mạnh. Sau nhiều lần địch thanh lọc chấn chỉnh bộ máy cai trị ở cơ sở, nhưng cũng còn trưởng ấp Trảng Cỏ là người của cách mạng. Trong phong trào chống bắt lính, các hình thức đấu tranh rất đa dạng được áp dụng, như biểu tình xin miễn, hoãn quân dịch, thanh niên khai bệnh tật…Riêng ở ấp Trảng Cỏ, hàng đêm thanh niên thường đến nhà trưởng ấp xin miễn, hoãn quân dịch, phản kháng không đi lính và trưởng ấp phải đến xã, quận báo cáo gây tâm lý căng thẳng đối với địch.

 Địch nghi ngờ Trưởng ấp Trảng Cỏ có quan hệ với cách mạng, chúng cho lệnh bắt. Địch tăng cường rình rập, sau đó, một trung đội lính Bảo an bao vây nhà trưởng ấp Nguyễn Văn Rông (Tư Bịch). Quần chúng được huy động ra giải vây, lực lượng phụ nữ xông ra trước và la “ phiến quân bắt trưởng ấp”, địch nhanh chân tháo chạy, nhưng vẫn kéo theo người bị bắt. Quần chúng đánh trống mõ, thùng thiếc để báo động, một lúc sau quần chúng ở các ấp lân cận với gậy gộc xông ra sẵn sàng tiếp ứng.

Bọn lính Bảo an rút qua Cầu Xe, nhưng không dám chạy tiếp, vì phía trước cũng có tiếng trống mõ, tiếng hò la của quần chúng. Địch đành đứng lại giải thích với đồng bào là có lệnh của cấp trên mời trưởng ấp. Quần chúng không nghe chúng giải thích, vừa bao vây, vừa cố vận động thuyết phục. Trước sức mạnh và lời lẽ của quần chúng, địch buộc phải thả trưởng ấp, rồi vội vàng rút lui. Nhân dân tự động đứng lên làm chủ hoàn toàn xóm ấp. Nhưng sau đó chưa kịp báo cáo với cấp trên và nhất là nhân dân chưa kịp triển khai tổ chức tự vệ chiến đấu nên địch đưa quân đến đàn áp.

Cuộc nổi dậy của đồng bào ở ấp Trảng Cỏ là kiểu khởi nghĩa của cách mạng trong tình hình ấy, nhưng vì quá đơn độc nên bị địch tập trung lực lượng đập tan. Đây là bài học quý giá trong công tác vận động quần chúng giành quyền làm chủ.[45]  

Tháng 1-1959, Nghị quyết lần thứ 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng chủ trương: Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là con đường bạo lực. Đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân.

Thực hiện Nghị quyết 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Xứ ủy chỉ đạo tập trung lực lượng đồng khởi vũ trang Tua Hai ( hiện nay thuộc xã Đồng Khởi, huyện Châu Thành).

Tua hai (Tour) là tháp canh số 2 nằm trên Quốc lộ 22B đi  Campuchia, cách thị xã Tây Ninh 7km về phía bắc, được thực dân Pháp xây dựng trong “kế hoạch De la Tour”. Năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng nơi đây làm căn cứ quân sự lấy tên là thành Lam Sơn, nơi đóng quân của Trung đoàn 39 thuộc Sư đoàn 13 quân chủ lực ngụy, đồng thời là trung tâm huấn luyện và có một kho vũ khí được bảo vệ nghiêm ngặt.

Tháng 3- 1958, Đồng chí Võ Văn Tỏ và đồng chí Huyền là cán bộ mật giao của Ban Binh vận huyện Châu Thành xây dựng được các anh Nguyễn Kúc, Lê Cơ, Lê Huy làm cơ sở nội tuyến trong Trung đoàn 39. Qua quá trình công tác các anh được kết nạp vào Đảng và hình thành Chi bộ Đảng, do đồng chí Nguyễn Kúc làm Bí thư chi bộ. Chi bộ được giao nhiệm vụ xây dựng Chi đoàn Thanh niên Lao động trong binh lính gồm 30 đoàn viên, chia làm 3 phân đoàn ( mỗi phân đoàn 10 đoàn viên). Đội ngũ đoàn viên này đã giáo dục, giác ngộ được khoảng 235 quần chúng cảm tình với cách mạng. Thời gian sau, do hoạt động sơ xuất, địch bắt hết cơ sở nội tuyến. Tòa án quân sự của địch kết án đồng chí Nguyễn Kúc 20 năm tù, đồng chí Lê Cơ, Lê Huy mỗi người từ 7 đến 10 năm tù, các đoàn viên từ 2 đến 5 năm tù, đồng chí Võ Văn Tỏ và đồng chí Huyền mỗi người 17 năm tù. Tất cả bị đày ra Côn Đảo.

  Tháng 8- 1958, trước sự kiện Trung đoàn 39 thuộc sư đoàn 13 có nhiều cơ sở nội tuyến của ta, địch quyết định giải thể sư đoàn 13. Địch điều Trung đoàn 32 thuộc sư đoàn 21 từ miền Tây Nam Bộ lên đóng ở Tua hai và đổi tên thành Lam Sơn thành Nguyễn Thái Học.

Vào lúc 0 giờ 30 ngày 26-1-1960, trận bão lửa Tua Hai bùng cháy, ta giành được thắng lợi hoàn toàn diệt trên 400 tên địch, bắt 500 tên, thu 1.200 súng các loại, phá hủy nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh. Lực lượng ta hy sinh 07 đồng chí, bị thương 12 đồng chí.

Chiến thắng Tua Hai là thắng lợi đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng, đạt được yêu cầu về chính trị và quân sự do Xứ ủy Nam Bộ đề ra. Với chiến thắng vang vội này, cổ vũ cho phong trào đấu tranh của nhân dân Tây Ninh, miền Đông Nam Bộ và cả miền Nam vùng lên mạnh mẽ, mở đầu cho thời kỳ đấu tranh chính trị có vũ trang hỗ trợ.

Ảnh hưởng của chiến thắng Tua Hai vang dội, tinh thần địch hoang mang. Khắp nơi trong tỉnh nhiều đồn bót bị lực lượng quần chúng hù dọa cướp đồn. Trong vòng 5 tháng đã có 2/3 số xã trong toàn tỉnh được giải phóng, hơn 120 bộ máy tề ấp, tề xã bị phá vỡ.

Trong khí thế Đồng Khởi vũ trang ở miền Nam thắng lợi, ngày 20-12-1960 Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, công bố tuyên ngôn và chương trình mười điểm, đem lại sự phấn khởi lớn trong quần chúng nhân dân, đã gây nỗi lo sợ trong bè lũ Mỹ-Diệm.

Mặt trận chính thức tuyên bố: “Đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo và nhân sĩ yêu nước, không phân biệt xu hướng chính trị, để đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn Ngô Đình Diệm tay sai của Mỹ, thực hiện độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc”.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là trung tâm đoàn kết rộng lớn các lực lượng yêu nước dân chủ, hòa bình trung lập đem lại cho phong trào cách mạng đang dấy lên một danh nghĩa chính thức (từ cuối năm 1954 đến cuối năm 1960 sự hoạt động của Mặt trận diễn ra liên tục, nhưng danh nghĩa Mặt trận thì không chính thức), một phương hướng cách mạng rõ ràng. Mặt trận đã kêu gọi quần chúng tiếp tục tham gia đấu tranh cách mạng, giải phóng đất đai là trả lại ruộng đất cho nông dân do địa chủ cướp đoạt, giải phóng đến đâu là tổ chức các đoàn thể quần chúng đến đó.

Những thắng lợi to lớn của quân dân miền Nam trong cao trào Đồng khởi năm 1960 đã làm phá sản chiến lược “ Chiến tranh một phía” của Mỹ- ngụy, đưa cách mạng miền Nam chuyển sang giai đoạn mới.     

  1. MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG TỈNH TÂY NINH RA ĐỜI VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” (1961- GIỮA NĂM 1965)

Sau cao trào Đồng khởi miền Nam, tình thế cách mạng chuyển sang giai đoạn mới. Dù đế quốc Mỹ bị thất bại, nhưng chúng chưa chịu thua. Tổng thống Mỹ Kenedi đối phó bằng việc thực hiện chiến lược “ Chiến tranh đặc biệt”. Nội dung cơ bản của chiến lược này là đặt quân đội và chính quyền ngụy dưới sự chỉ huy và trang bị của Mỹ nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng.

Mục tiêu chiến lược “ Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ- ngụy là cô lập và tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam, tiêu diệt cơ sở Đảng Cộng sản, giành lại trận địa nông thôn, phong tỏa vùng biên giới, cắt đứt mọi chi viện từ miền Bắc, để cuối cùng bóp chết phong trào quần chúng, đánh bại chiến tranh cách mạng của nhân dân miền Nam, giành thắng lợi trong thời gian ngắn.

Để đạt được mục tiêu trên đây, đế quốc Mỹ đưa ra kế hoạch Xtalây- Taylor (Staley- Taylor) nhằm bình định miền Nam trong vòng 18 tháng ( từ giữa năm 1961 đến cuối năm 1962), với mục tiêu cơ bản là gom 90% dân vào ấp chiến lược. Ấp chiến lược được coi là “ quốc sách”, là “ xương sống” của chiến lược “ Chiến tranh đặc biệt”, nhằm tách lực lượng cách mạng ra khỏi dân để dể tiêu diệt. Đồng thời, đẩy mạnh đánh phá miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Về phía cách mạng, từ sau phong trào Đồng khởi vũ trang năm 1960, thế và lực của Tây Ninh tăng lên rõ rệt.

Trong vùng giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân lập ra  chính quyền tự quản để đảm bảo an ninh, trật tự, quản lý kinh tế – xã hội, tổ chức sản xuất lương thực, tiến hành các công tác văn hóa, giáo dục, y tế, tổ chức công tác chiến đấu, giết giặc bảo vệ quê hương, lấy lại ruộng đất địch cướp của nông dân do cách mạng cấp trước đây đem chia cho các gia đình liệt sĩ, thương binh, cán bộ và đồng bào không có hoặc có ít ruộng đất.

Để chào mừng sự kiện trọng đại: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, Huyện ủy Trảng Bàng tổ chức một cuộc biểu tình đấu tranh chính trị to lớn với hàng ngàn quần chúng tham gia, kéo dài 3 ngày.

Sáng ngày 17-01- 1961, với sự hợp đồng chặt chẽ, trên các con đường: lộ 1, lộ 6, lộ 7, lộ 19, khoảng 7.000 người rầm rập kéo về thị trấn Trảng Bàng và tập trung trước dinh quận. Các má, các chị lấy khẩu hiệu đấu tranh trong túi xách, tra vào gậy trúc rồi giương cao. Đoàn người hô vang khẩu hiệu chống bắt lính, đòi cho dân nghèo được mua diêm tro bón lúa…Quần chúng đòi gặp Quận trưởng Trảng Bàng đưa yêu sách. Bọn lính ào ra bao vây và đánh đập đoàn người biểu tình. Chúng dùng sơn viết khẩu hiệu phản động lên nón lá, áo của các má, các chị thì các má, các chị bỏ nón, cởi áo ( áo ngoài) xông vào xô xát với địch. Trước sự đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, địch điều 1 trung đoàn từ Sài Gòn và thị xã Tây Ninh tới xé lẻ đoàn người ra, đến trưa chúng mới tách ra gần 1.000 người đưa vào sân vận động. Trong vòng vây của kẻ thù, các má, các chị vẫn vui đùa, kể chuyện đấu tranh, ca hát những câu hò, vè tranh thủ binh sĩ ngụy:

Gió đưa cành trúc la đà,

Anh đi theo Mỹ, mẹ già ai nuôi.

Súng này bảo vệ nước nhà,

Phải đâu canh giữ bà già, trẻ em![46]

Trước lời lẽ chân tình của đồng bào, nhiều binh lính ngụy quay sang giúp đỡ người biểu tình.

Ngày 18 và 19-1-1961, Ban chỉ huy thống nhất cuộc đấu tranh điều tiếp hàng ngàn người nữa kéo vào thị trấn. Khí thế đấu tranh quyết liệt, quần chúng dùng đòn gánh, gạch đá đánh lại bọn lính ra chặn đường. Bà con ở thị trấn hết lòng giúp đỡ cơm nước, bánh trái cho đoàn biểu tình.

Trước khí thế đấu tranh của quần chúng, địch buộc thả hết số người bị bắt giam giữ ở sân vận động. Tên Đào Quận trưởng thất thế phải đấu dịu, hứa với đồng bào sẽ giải quyết các yêu sách.

Tại Tây Ninh, Ban vận động thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng được hình thành. Qua thời gian chuẩn bị, tháng 5-1961, tại xã Định Thành, (huyện Dương Minh Châu), Đại hội lần thứ nhất Mặt trận Dân tộc Giải phóng Tây Ninh được tổ chức và thành công tốt đẹp. Hơn 200 đại biểu đại diện cho các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đến dự với niềm phấn khởi trước sự chuyển biến lớn của cách mạng. Đại hội đã nghe trình bày cương lĩnh, chương trình của Mặt trận. Sau khi đồng chí Võ Văn Truyện ( Tám Hòa), Bí thư Tỉnh ủy phát biểu, đại diện các thành phần khác phát biểu tham luận, như anh Nguyễn Văn Thắng ( Hai Thắng) đại diện Thanh niên; chị Nguyễn Thị My Na ( Ba Mỹ) đại diện giới tiểu thương; anh Phạm Công Khiêm ( Ba Nông) đại diện nông dân; chị Nguyễn Thị Phấn ( Ba Phấn) đại diện phụ nữ; Giáo hữu Thượng Thâu Thanh đại diện đạo Cao Đài; ông Ba Thanh Long đại diện Phật giáo…tất cả đều nói lên tấm lòng của mình, giới mình hướng về cách mạng, hướng về Mặt trận quyết tâm đoàn kết một lòng đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược và bọn tay sai, giải phóng nhân dân thoát khỏi ách nô lệ.

Để đảm bảo bí mật cho các đại biểu là cán bộ, nên được bố trí vào một phòng riêng, vẫn có thể theo dõi diễn biến của Đại hội, người ở ngoài không nhìn thấy mặt. Chỉ riêng Giáo hữu Thượng Thâu Thanh ra công khai tham luận.

  Sau hai ngày Đại hội, Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Tây Ninh ra đời với những thành phần như sau:

– Đạo nhơn Lê Văn Buội đại biểu Cao Đài Tây Ninh làm cố vấn Mặt trận.

– Giáo hữu Thượng Thâu Thanh đại biểu Cao Đài Tây Ninh làm Chủ tịch.

– Đồng chí Võ Văn Truyện (Tám Hòa), Bí thư Tỉnh ủy làm Phó chủ tịch.

– Ông Lưu Kiết (Ba Cách), đại diện người Hoa, Phó chủ tịch.

– Ông Trương Tùng Quân (Sáu Trương), Ủy viên Quân sự.

– Ông Nguyễn Văn Thắng (Hai Thắng), Ủy viên Thường trực.

– Ông Phạm Công Khiêm (Ba Nông), Ủy viên.

– Bà Nguyễn Thị My Na (Ba Mỹ), Ủy viên phụ trách vận động tiểu thương.

– Bà Nguyễn Thị Phấn (Ba Phấn), Ủy viên.

Trong hai ngày Đại hội, Đoàn Văn công Giải phóng tỉnh đã phục vụ hai đêm văn nghệ vui tươi đầy ấp tính chiến đấu.

Sau khi Đại hội kết thúc, trên 3.000 quần chúng vùng giải phóng và những vùng lân cận đến dự mít tinh trọng thể chào mừng Đại hội thành công. Trong đó, có khoảng 100 chức sắc, chức việc, tín đồ Cao Đài ở Chà Là, Phan, Suối Đá và vùng Tòa Thánh ra dự.

Ở huyện Bến Cầu tổ chức cuộc Hội nghị trọng thể ở căn cứ gần rừng Bàu Năng ( nay thuộc ấp Phước Tây, xã Long Phước), trên 200 đại biểu phần đông là chức sắc, chức việc, tín đồ Cao Đài và các tầng lớp nhân dân nghe báo cáo kết quả Đại hội. Hội nghị đã ra nghị quyết tích cực thực hiện Chương trình hành động của Đại hội Mặt trận tỉnh.     

 Tại Bời Lời ( huyện Trảng Bàng) đã diễn ra cuộc mít tinh trọng thể có cả ngàn  đồng bào tham dự chào mừng thành công của Đại hội. Sau cuộc mít tinh, Đoàn ca vũ thiếu nhi của tỉnh phục vụ đồng bào liên tục trong 3 ngày.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng Tây Ninh ra đời đã đề ra chương trình hành động hiệu triệu đồng bào, cán bộ chiến sĩ Tây Ninh đoàn kết tích cực tham gia mặt trận chống Mỹ cứu nước, phong trào nam nữ thanh niên lên đường nhập ngũ vào các cơ quan đơn vị rầm rộ hơn lúc nào hết. Hàng nghìn người hăng hái tham gia công tác dân công tải súng đạn  phục vụ chiến trường. Các đoàn thể Thanh niên giải phóng, Phụ nữ giải phóng, Nông dân giải phóng …ân cần tổ chức tiễn đưa, nhiều gia đình gởi theo thóc gạo cho chồng con, em lên đường để có cái ăn đánh giặc, nhằm thực hiện Chính sách 10 điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, đó là:

1- Đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm.

2- Thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi và tiến bộ.

3- Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, thực hiện cải tạo dân sinh.

4- Thực hiện giảm tô, tiến tới giải quyết vấn đề ruộng đất.

5- Xây dựng nền văn hóa, giáo dục dân tộc, dân chủ.

6- Xây dựng quân đội bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân.

7- Thực hiện dân tộc bình đẳng, nam , nữ bình quyền.

8- Thực hiện chính sách ngoại giao hòa bình, trung lập.

9- Lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền, tiến tới hòa bình thống nhất.

10- Chống chiến tranh xâm lược, tích cực bảo vệ nền hòa bình thế giới.

Từ đây, trong công tác vận động quần chúng đều lấy danh nghĩa của Mặt trận dân tộc Giải phóng.

Trong thời kỳ 1961-1965, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” tiến hành bình định gom dân lập ấp chiến lược. Với khẩu hiệu “tát nước bắt cá”, địch tăng cường hoạt động ngày đêm thả bom, bắn pháo, đốt nhà, giết hại dân lành nhằm gom dân vào các ấp chiến lược. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận và các đoàn thể tuyên truyền vận động quần chúng liên tục đấu tranh chống địch gom dân lập ấp chiến lược, đòi không được bắn pháo, chống rải chất độc hóa học, tố cáo tội ác giặc, đòi bồi thường thiệt hại trở thành phong trào đấu tranh sôi nổi mạnh mẽ tiến công địch.

Trong kế hoạch bình định ở tỉnh Tây Ninh, đầu tiên địch tiến hành gom dân ở Bàu Mây (ấp An Đước, xã An Tịnh). Nhân dân Bàu Mây kiên quyết thực hiện khẩu hiệu “ một tấc không đi, một ly không rời”, “ bám đất, giữ dân, tiến công địch”. Trong cuộc đấu tranh này, lực lượng chính là phụ nữ.

Địch huy động lính Bảo an huyện Trảng Bàng, lính Dân vệ ở bót Suối Sâu và lực lượng trừ bị của tỉnh đến cào nhà gom dân. Xã ủy An Tịnh đã nắm chắc địch tình, họp bàn kế hoạch cụ thể và phân công từng xã ủy viên bám trụ các ấp, nhất là tại xóm Bàu Mây. Từ đây, kế hoạch ba mũi giáp công được tổ chức thực hiện tốt và rất linh hoạt kịp thời đấu tranh chống địch. Bác Tư Rành là lão nông cấm rựa chỉ vào mặt tên ác ôn, nói: Tao sống nơi đây, thề chết tại đây, thằng nào rấn lên một bước, tao đổi mạng!. Lực lượng phụ nữ là nòng cốt trong cuộc đấu tranh, cho nên khi địch đến Bàu Mây, chị em nắm chặt tay nhau chặn bọn lính. Bọn lính trèo lên nóc nhà dỡ tranh, chị em chia nhau lấy rơm chất đốt xung quanh nhà hun khói, người tìm sào thọc buộc chúng xuống. Dỡ nhà không được, địch ra lệnh đốt nhà, chị em người cầm dao, người cầm rựa xông ra rượt đuổi bọn lính.

Sau đó, địch đưa thêm 5 tiểu đoàn chủ lực đến, thay phiên nhau đi cào nhà, gom dân nhưng đều không thực hiện được.

Khí thế đấu tranh quyết liệt của đồng bào Bàu Mây, làm cho bọn lính chủ lực phải suy nghĩ. Bà con dùng tình  cảm thâm nhập và giác ngộ chúng. Một số binh sĩ đã đồng tình với đồng bào, chống lại lệnh cào nhà, gây mâu thuẩn giữa lính Bảo an và bọn ác ôn.

Đồng bào ở Bàu Mây hàng ngày tranh thủ bọn lính chủ lực đóng ở đây, mời chúng vào nhà nghỉ trưa, và nói với chúng: Các chú thấy đó, chúng tôi sống ở đây từ lâu, ruộng vườn, nhà cửa qua biết bao đời mới có được chừng này, bây giờ biểu chúng tôi đi nơi khác làm sao chúng tôi sống, không đi thì mấy ông cho lính vào cào nhà, nếu gia đình mấy chú bị như vậy thì mấy chú có chịu không?

Binh lính địch nghe nói phải, đều đồng tình. Từ đó, mỗi lần bọn Bảo an, Dân vệ đến đòi dỡ nhà đồng bào, bọn lính chủ lực đến đuổi đi không cho dỡ. Suốt 2 tháng như vậy, nhà cửa của đồng bào vẫn nguyên vẹn.

Chính cuộc đấu tranh chống cào nhà gom dân Bàu Mây đã xuất hiện đầu tiên ở địa phương khẩu hiệu: “ một tấc không đi, một ly không rời”.

Trong đấu tranh gian khổ, bà con thương yêu đùm bọc nhau. Ở chỗ này bị đốt nhà, bà con ở chỗ khác lại góp lá, tầm vông đến giúp dựng lại nhà khác.Vì vậy trước tinh thần đấu tranh bất khuất, với truyền thống bám đất giữ làng của đồng bào Bàu Mây, âm mưu cào nhà gom dân của địch thất bại.

Kế hoạch bình định ở tỉnh Tây Ninh, đầu tiên gom dân ở xã An Tịnh bị thất bại vì gặp phải sự chống đối quyết liệt của quần chúng. Do đó địch chuyển sang các vùng có đồng bào tín đồ Cao Đài, vì nơi đây có sự tiếp sức đắc lực của số chức sắc phản động, như ấp Thanh Hà và “ châu vi” Kỳ Đà, xã Thanh Phước (huyện Gò Dầu) làm thí điểm cho toàn tỉnh về xây dựng ấp chiến lược.  

 Trong phong trào đấu tranh chống địch gom dân lập ấp chiến lược, trước sức mạnh của quần chúng, đến đầu năm 1963, thời gian thực hiện kế hoạch bình định cấp tốc của Xtalây- Taylor (Staley- Taylor) sắp hết, nhưng Mỹ- ngụy không thực hiện được ý đồ gom dân lập ấp chiến lược. Do đó, địch tăng cường hoạt động quân sự, ngày đêm thả bom, bắn pháo, đốt nhà, giết hại dân nhằm hủy diệt xóm làng ở các vùng nông thôn.

Trước tình hinh đó, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị mở rộng tại căn cứ Bời Lời đề ra Nghị quyết đẩy mạnh hoạt động của các lực lượng vũ trang, chống địch càn quét lấn chiếm gom dân, phá ấp chiến lược, đấu tranh chống địch bắn pháo vào làng, đòi bồi thường thiệt hại. Tích cực móc ráp quần chúng trong vùng yếu, ấp chiến lược; tuyên truyền giáo dục, phát động từng bước xây dựng cơ sở đảng- đoàn, xây dựng nòng cốt, tự vệ mật để tạo điều kiện hợp đồng chặt chẽ giữa hai lực lượng bên trong và ngoài ấp chiến lược đánh địch.

Sau hội nghị này, Tỉnh ủy thành lập Ban chống bình định lấn chiếm. Ở huyện Dương Minh Châu, đoàn cán bộ chống bình định lấn chiếm đường 26, gồm các đồng chí Phạm Công Khiêm (Ba Nông), Ủy viên Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh, Thư ký Hội Nông dân giải phóng tỉnh;  nữ đồng chí Ba Phấn, Ủy viên Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh, đồng chí Tư Tịnh cán bộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng Tây Ninh, đồng chí Nguyễn Văn Rong (Năm Lé) Phó bí thư huyện ủy Dương Minh Châu, do đồng chí Phạm Công Khiêm ( Ba Nông) làm Trưởng đoàn. Với yêu cầu phá hỏng, phá rã, phá banh các ấp chiến lược, đoàn cán bộ chống bình định lấn chiếm của tỉnh và các huyện tìm cách móc nối những người dân tốt ra ruộng, rẫy sản xuất để tuyên truyền vận động xây dựng cơ sở bên trong ấp chiến lược. Riêng huyện Tòa Thánh đã tạm cấp hơn 2.000ha đất ở các vùng thuộc xã Thạnh Tân, Tân Bình ngày nay cho chức sắc, chức việc và tín đồ Cao Đài để sản xuất.

 Phá ấp chiến lược được xem là công tác chiến đấu, nhân dân vùng giải phóng phải đi hàng 5-6 cây số mưu trí vượt qua các đồn bót, chốt chặn của địch kết hợp với nhân dân bên trong ấp chiến lược và lực lượng vũ trang đánh phá ấp chiến lược. Những cụ già, có chị vừa sinh con mới 3 tháng, khi có lệnh phá ấp chiến lược là xung phong đi. Nhiều người đã anh dũng hy sinh hoặc bị thương, nhưng người trước ngã xuống, người sau tiến lên, đánh phá ấp chiến lược hết đợt này đến đợt khác; cứ như thế diễn ra liên tục và quyết liệt như,  ấp chiến lược Gia Lâm (xã Gia Lộc, huyệnTrảng Bàng) ta phá 10 lần, ấp chiến lược xóm Sóc (xã Gia Bình, huyện Trảng Bàng) phá 15 lần, ấp chiến lược Lộc Trát phá 17 lần.

Để làm tốt hơn nữa công tác vận động quần chúng, được sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh cùng các thành viên là Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ mở lớp huấn luyện tại rừng Trà Vong. Mỗi lớp học là ba tháng, chương trình học ngoài những bài học chính trị, các học viên còn học về công tác vận động quần chúng, nhất là phải thực hiện năm bước công tác: điều tra nghiên cứu, tuyên truyền giáo dục, huấn luyện, tổ chức và hoạt động phong trào. Năm bước công tác có thể hiểu như sau:

Điều nghiên: điều tra, nghiên cứu trong một cuộc đối đầu bao giờ người ta cũng bắt đầu bằng bước “ điều nghiên”, biết ta biết người trăm trận trăm thắng. Do đó, điều nghiên đối thủ rất quan trọng.

– Tuyên truyền là quảng bá sự thật, là phổ biến sự thật nhằm giác ngộ quần chúng, sự thật bao giờ cũng có sức thuyết phục cao, bóp méo sự thật để tuyên truyền là hạ sách. Dĩ nhiên những sự thật bất lợi sẽ không phải là nội dung tuyên truyền.

Tổ chức là bước đi kế tiếp khi công tác tuyên truyền đã được sự đồng thuận cao nhất. Khi đã đồng thuận người ta sẽ sẵn sàng hy sinh để đạt được mục tiêu; tập hợp quần chúng trong một tổ chức có quy mô chặt chẽ và khoa học. Mọi hành động đều có sự đồng thuận và nhất trí cao của tập thể tạo ra sức mạnh vô cùng tó lớn.

Huấn luyện: những thành công hay thất bại trong các cuộc đấu tranh đều được rút kinh nghiệm triệt để để đưa vào bước huấn luyện phát động phong trào. Những nhân tố nòng cốt được huấn luyện rất kỹ để làm hạt nhân lãnh đạo phong trào. Huấn luyện phải dựa trên kế hoạch hành động được hoạch định kỹ càng và có sự nhất trí cao.

– Đấu tranh: bằng tất cả các phương thức và lực lượng phát động đẩy mạnh phong trào nhằm vào đối phương để giành thắng lợi từ thấp lên cao đến thắng lợi hoàn toàn.

 Năm bước công tác trở thành bài bản huấn luyện nằm lòng của cán bộ, chiến sĩ cách mạng. Từ thực tiễn phục vụ nhiệm vụ cách mạng, cán bộ, chiến sĩ đã gần gũi, gắn bó và tạo được niềm tin trong quần chúng, biết khơi gợi những tâm tư tình cảm, nguyện vọng của nhân dân để có những hình thức tuyên truyền, vận động phù hợp. Vì vậy đã tạo được sự ủng hộ, giúp đỡ và hăng hái tham gia cách mạng, góp phần quan trọng vào thắng lợi kháng chiến chống Mỹ cứu nước. 

Đối với tôn giáo Cao Đài, Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh tổ chức nhiều cuộc hội thảo ở Núi Bà, Bến Cầu, Bàu Đồn, Bùng Binh, Phước Chỉ, Trà Vong quy tụ hàng nghìn chức sắc, chức việc, hàng vạn quần chúng tín đồ hướng vào cuộc kháng chiến chống Mỹ. Kết hợp với phong trào đấu tranh trong tỉnh, ở vùng Tòa Thánh và các châu vi đạo, quần chúng bám đất giữ làng, đấu tranh chống gom dân, chống khủng bố, đòi bồi thường thiệt hại, chống lập ấp chiến lược, chống tái vũ trang Cao Đài. Sau khi địch đánh bom hủy diệt Thánh thất Cao Đài ở Chợ Cầu (Bến Cầu) năm 1963, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Tây Ninh  tổ chức lễ cầu siêu cho những người bị nạn đúng theo nghi thức đạo Cao Đài, có rất nhiều quần chúng tín đồ chức việc, chức sắc đến dự. Đó là sự biểu hiện cụ thể của công tác tôn giáo của Đảng và thể hiện phong trào cách mạng toàn dân.

Do yêu cầu vận động giác ngộ chức việc, chức sắc và quần chúng tín đồ Cao Đài đoàn kết hơn nữa dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh, huyện ủy Tòa Thánh chủ trương thành lập Ban củng cố Hòa bình chung sống do đạo nhơn Lê Văn Buội làm Trưởng ban, Thiếu tá Cao Đài Huỳnh Thanh Mừng làm Phó ban, đồng chí Nguyễn Trung Đạo ủy viên. Sau đó, để có một tổ chức vũ trang thiết thực góp phần vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc, được sự đồng ý của Tỉnh ủy, huyện ủy Tòa Thánh thành lập “Lực lượng thống nhất toàn lực quốc gia” với gần 70 quân, trang bị vũ khí đầy đủ do Thiếu tá Cao Đài Huỳnh Thanh Mừng, Chỉ huy trưởng; đồng chí Nguyễn Trung Đạo, Ủy viên chính trị.

Dưới lá cờ “tận trung báo quốc” và mục tiêu đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa hợp dân tộc, dân chủ, Ban Củng cố hòa bình chung sống và Lực lượng thống nhất toàn lực quốc gia hoạt động có hiệu quả, phát huy được thanh thế, hiệu triệu được quần chúng tín đồ và chức sắc, chức việc vào cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ.

Ngoài công tác vận động quần chúng tín đồ Cao Đài, Mặt trận và các đoàn thể còn vận động đồng bào dân tộc thiểu số, điển hình như vận động giác ngộ ông Lâm Văn Cầm, người dân tộc Tà Mun theo đạo Cao Đài làm chức lễ sanh và cũng là già làng. Năm 1960, hầu như tất cả dân Tà Mun ở ấp Ninh Lợi, xã Ninh Thạnh đã nhận ra được cuộc sống luôn bị chèn ép, áp bức và kỳ thị, họ đã bỏ nhà di chuyển đến nơi ở mới thuộc vùng đất bến Cây Cầy  (xã Thạnh Tân ngày nay) để phát rẫy làm nương sinh sống. Trong quá trình bám trụ ở đây, đồng chí Nguyễn Văn Phú (Bảy Phú) đã vận động ông Lâm Văn Cầm tham gia cách mạng. Cho nên tất cả những công việc gì trong nội bộ Cao Đài gây bức xúc đến họ và các hoạt động do thám gián điệp mà ông biết đều báo cho cách mạng. Với tư cách là một chức sắc (lễ sanh) và là già làng, ông đã vận động người Tà Mun làm nghĩa vụ rất tốt, lúa thu hoạch một phần để ăn, còn lại đóng góp cho cách mạng. Hình thành các tổ nhóm tham gia hoạt động hăng say trong các sinh hoạt chính trị, văn hóa văn nghệ (các bài hát cách mạng lúc bấy giờ hầu hết người Tà Mun ở đây đều thuộc và hát hăng say). Năm 1965, ông Lâm Văn Cầm được đề cử làm Ủy viên Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh.     

Từ năm 1961 đến giữa năm 1965, quân dân Tây Ninh đã kiên trì bám trụ giữ vững vùng giải phóng, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân với hệ thống xã ấp chiến đấu vừa phòng thủ, vừa chủ động tấn công đánh bại các cuộc càn quét gom dân của địch, góp phần cùng toàn miền Nam đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

III. MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG TỈNH ĐOÀN KẾT NHÂN DÂN ĐẤU TRANH CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” (1965-1968)

Thất bại trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” nhằm cứu vãn tình thế và giành thắng lợi trong thời gian ngắn nhất bằng chính lực lượng của Mỹ. Quân Mỹ ồ ạt vào miền Nam, đồng thời tiến hành đánh phá miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Trước âm mưu chiến lược mới của đế quốc Mỹ, ngày 20-7-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi “Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu; dù phải  chiến đấu 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta phải kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”[47].

Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 03-8-1965, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã xác định lập trường chống Mỹ cứu nước: Nhân dân miền Nam sẽ hy sinh tất cả, thà chết chứ không chịu làm nô lệ, sẽ chiến đấu đến cùng  để bảo vệ Tổ quốc, giành độc lập hoàn toàn. Mặt trận còn nhấn mạnh: Dù Mỹ có đưa thêm 5 vạn hay 50 vạn quân, dù trang bị bằng vũ khí gì, bất kỳ chúng đặt chân lên nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam, chúng ta cũng kiên quyết đánh bại chúng, đánh cho tới khi không còn bóng một tên xâm lược nào trên dải đất thân yêu của chúng ta. Mặt trận kêu gọi thanh niên tòng quân, toàn dân vũ trang để chống Mỹ cứu nước.

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 (tháng 12-1965) cũng xác định: kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà. Đây là một cuộc chiến tranh chính nghĩa, được đông đảo nhân dân tiến bộ trên thế giới ủng hộ; cách mạng miền Nam lại đang ở thế thắng, tinh thần chiến đấu của quân và dân lên cao.

 Miền Đông Nam bộ là chiến trường mà Mỹ- ngụy đặc biệt quan tâm, chúng lấy tỉnh Tây Ninh làm trọng điểm, vì nơi đây là khu căn cứ địa cách mạng, nơi trú đóng của các cơ quan đầu não lãnh đạo cuộc cách mạng miền Nam. Chúng tung vào đây nguyên vẹn bộ máy chiến tranh xâm lược, từ quân chủ lực đến tình báo. Mỹ-ngụy liên tục mở những chiến dịch đánh phá càn quét ở nông thôn, đi đôi với việc gom dân vào các ấp chiến lược, tăng cường đôn quân bắt lính.

 Trước tình hình đó, Tỉnh ủy đã tổ chức Hội nghị cán bộ đánh giá thắng lợi những năm qua và rút kinh nghiệm chống địch gom dân lập ấp chiến lược. Trên cơ sở đó, xác định tư tưởng tiến hành phương châm chiến lược quân sự, chính trị, binh vận gắn chặt với ba vùng chiến lược đi đôi với phát động toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm đánh Mỹ và xây dựng mạnh mẽ ba thứ quân, nhất là quả đấm chủ lực của tỉnh đủ mạnh làm đòn xeo cho phong trào chung của tỉnh.  Ta phát huy cao độ khả năng tất thắng của chiến tranh nhân dân, phát động mạnh mẽ phong trào toàn dân đánh Mỹ, kiên trì tư tưởng cách mạng tiến công, quyết tâm đập tan mọi âm mưu thủ đoạn của chúng để giành những thắng lợi quyết định.

Với chủ trương tập trung lực lượng để đánh Mỹ với bất kỳ tình huống nào, với chức năng nhiệm vụ của mình và dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh tổ chức “Hội đồng cung cấp” nhằm huy động sức người, sức của chi viện cho chiến trường. Hội đồng cung cấp được tổ chức từ tỉnh đến huyện, xã.

Hội đồng cung cấp tỉnh còn phối hợp với các đoàn hậu cần 82, 83 của Miền tổ chức khai luồng nhiều tuyến thu mua lương thực trong dân, trong vùng địch kiểm soát để đủ sức cung cấp cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương như các tuyến: An Tịnh – Lộc Hưng; Gia Bình – Gia Lộc; Thanh Phước, Phước Thạnh, Hiệp Thạnh, Thạnh Đức, Mỏ Công.

Tất cả các tuyến này, ta thu mua lương thực đến đâu đều tổ chức xe bò, xe thồ vận chuyển về căn cứ. Trong công tác chuyển hàng, lực lượng dân công được tổ chức thành những đơn vị có sự chỉ huy nên đảm bảo hàng không rơi rớt, mất mát hư hao. Tất cả hàng hóa đều được vận chuyển đến nơi an toàn. Việc vận chuyển như vậy không phải dễ dàng, ngoài khó khăn gian khổ là sự hy sinh, phải vượt qua biết bao đồn bót, biệt kích, đạn bom.

Song song với phong trào diệt Mỹ, Tỉnh đoàn thực hiện phong trào  “Năm xung phong” do Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng  phát động.

– Xung phong tiêu diệt sinh lực địch.

– Xung phong tòng quân và tham gia du kích chiến tranh.

– Xung phong đi dân công và Thanh niên xung phong phục vụ tiền tuyến.

– Xung phong đấu tranh chính trị và chống bắt lính.

– Xung phong sản xuất  nông nghiệp trong Nông hội.

Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng và vinh quang, nhưng cũng rất gian khổ đối với tuổi trẻ Tây Ninh phải xung phong cầm súng giết giặc. Đồng thời, còn tổ chức đơn vị Thanh niên xung phong phục vụ chiến trường của ba cấp tỉnh, huyện, xã để kịp thời phục vụ tại chỗ, và tổ chức thành lập đại đội Thanh niên xung phong, với biên chế 3 chi đội, 10 phân đội, trong đó lực lượng nữ chiếm 2/3 quân số. Đại đội Thanh niên xung phong mang tên Hoàng Lê Kha- Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy bị địch bắt và xử tử bằng máy chém theo luật 10/59 của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm.

 Tháng 8-1965, thể theo yêu cầu phục vụ chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, Đại đội Thanh niên xung phong Hoàng Lê Kha  được rút về biên chế của Tổng đội Thanh niên xung phong Giải phóng miền Nam.

 Ngày 23-11-1965, Đại đội Thanh niên xung phong Hoàng Lê Kha  chính thức ra quân tại căn cứ Long Nguyên ( huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương) nhân ngày kỷ niệm Nam kỳ khởi nghĩa, nên đơn vị mang ký hiệu C2311 và ngày này được xem là ngày chính thức thành lập Đại đội.

Trong chiến đấu, Thanh niên xung phong có nhiệm vụ: tải đạn, tải thương và thu chiến lợi phẩm. Trước khi trận đánh nổ ra, Đại đội phải tải đủ cơ số đạn cho trận chiến đấu. Thanh niên xung phong phụ trách kho đạn lưu động cho pháo binh và cao xạ. Trong quá trình vận chuyển, năng suất mang tải đạn của đơn vị không ngừng được nâng lên. Buổi đầu, mỗi đội viên chỉ tải được 15 đến 20kg, vài tháng sau nâng lên 30 đến 40kg, đột xuất có đội viên tải được 45-50kg đi nhiều ngày cùng với trang bị của cá nhân.

Đơn vị C2311 của Tây Ninh được Tổng đội Thanh niên xung phong Giải phóng miền Nam giao trực tiếp phục vụ cho Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 9. Qua hai mùa khô 1965-1966, 1966-1967, trên các chiến trường Tây Ninh, Bình Long, Phước Long, Thủ Dầu Một và chiến khu Đ, vừa làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, vừa chiến đấu, C2311 đã đánh trên 20 trận lớn nhỏ, diệt hơn 50 tên địch, bảo vệ an toàn cho thương binh, vũ khí, đạn dược.

Để ca ngợi tinh thần phục vụ kháng chiến của các nữ Thanh niên xung phong, đã có bài thơ mà tất cả Thanh niên xung phong Hoàng Lê Kha ai cũng thuộc, bài thơ như sau:

Em là Thanh niên xung phong,

Nghiêng vành nón vải, càng trông càng dòn.

Nếu phải hỏi chuyện chồng con,

Lắc đầu ngoe ngoẩy, Mỹ còn chưa ưng.[48]

 C2311 luôn là lá cờ đầu, là đơn vị chủ công, đảm nhận hầu hết các nhiệm vụ nặng nề ở những nơi khó khăn nhất, xứng đáng với truyền thống “Phục vụ quên mình, anh dũng xung phong, lập công vẻ vang” và khẩu hiệu hành động “không tiền tuyến, không hậu phương, đâu Đảng cần đó là tiền tuyến”.

Qua quá trình phục vụ chiến đấu, với những thành tích xuất sắc, C2311 và hai đội viên được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. [49]

Tháng 10-1965, đế quốc Mỹ đưa lữ đoàn 196 lên Tây Ninh đóng ở Trảng Lớn (xã Thái Bình, huyện Châu Thành) làm hậu cứ để đánh phá vùng căn cứ kháng chiến.

Ngay khi giặc Mỹ đặt chân đến Trảng Lớn, Tỉnh ủy chủ trương xây dựng “vành đai diệt Mỹ”. Vành đai diệt Mỹ được chia thành 4 cụm chiến đấu liên hoàn bao vây căn cứ Trảng Lớn.

Cùng với các chiến sĩ chiến đấu trực tiếp trên “vành đai”, các đoàn thể vận động quần chúng ở các xã của huyện Châu Thành tích cực tham gia các mặt công tác kháng chiến để góp phần làm nên chiến thắng. Quần chúng không chỉ đào hầm cấm chông, mà còn đảm nhận làm liên lạc và phát hiện giặc báo cho bộ đội, du kích tiến công tiêu diệt. Nhằm giúp đỡ cho du kích trên vành đai có vật liệu làm trái gài đánh địch, quần chúng lượm đạn lép, vỏ đạn cho công trường sản xuất vũ khí đánh địch. Chính những vũ khí tự tạo với bãi trái gài, hầm chông được bố trí dày đặc làm cho quân Mỹ phải khiếp sợ.

Vấn đề sản xuất lương thực cũng hết sức quan trọng trên “vành đai diệt Mỹ” không những để có lương thực tại chỗ đóng góp cho cách mạng, mà còn là vấn đề bám trụ, giữ vững khí tiết ở vùng đất bị hủy diệt dưới bom đạn ác liệt, buộc địch phải công nhận thế hợp pháp của quần chúng. Đây là sự thể hiện tinh thần bám đất giữ làng, nâng việc sản xuất lên ngang với chiến đấu. Trong sản xuất lương thực, người phụ nữ đảm trách vai trò chính, các chị giữ tập quán vần đổi công để giúp đỡ nhau sản xuất cho kịp thời vụ. Bom đạn ác liệt, có nơi phải cày cấy ban đêm. Hình ảnh tiêu biểu này được ca dao kháng chiến ca ngợi:

Bà mẹ tóc bạc tuổi già,

Cấy đêm mẹ vẫn xông pha chẳng sờn.

Ngón tay bật máu đạn bom,

Cấy bao nhiêu mạ căm hờn bấy nhiêu.[50]

Với sự cần cụ lao động, không sợ gian khổ  hy sinh của các mẹ, các chị là những người nông dân trên vành đai diệt Mỹ ở Trảng Lớn nên lúa vẫn trổ bông trong những ngày tháng ác liệt, những hạt gạo thắm đậm tình quân dân được chuyển đến từng hầm để nuôi du kích, bộ đội đánh địch. Việc làm này đã nêu bật ý chí tự lực, tự cường, sản xuất phục vụ kịp thời cho kháng chiến, đóng góp một phần rất quan trọng làm nên chiến thắng quân Mỹ ở vành đai Trảng Lớn.

Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, Mặt trận đã vận động nhân dân không những cho con em mình vào bộ đội, mà còn cho cách mạng mượn lúa, gạo, xe trâu, xe bò, vàng, tiền dùng để nuôi quân ăn no đánh thắng. Biết bao tấm gương của nhân dân hy sinh tích cực góp công, góp của cho kháng chiến. Đảng bộ tỉnh Tây Ninh xây dựng quyết tâm và thống nhất hành động từ đảng viên đến quần chúng và chủ động tổ chức thế trận chiến tranh nhân dân, tìm mọi phương thức đánh địch khắp ba vùng với ba thứ quân, ba mũi giáp công, đồng thời tạo điều kiện để phối hợp lực lượng vũ trang của trên đánh Mỹ- ngụy.

 Sau khi đã triển khai lực lượng đều khắp và sau giai đoạn “tìm hiểu khả năng của đối phương và tập sự cho lính Mỹ và chư hầu quen chiến trường”, quân Mỹ bắt đầu thực hiện kế hoạch phản công mùa khô lần thứ nhất (1965 -1966)

Trên chiến trường miền Đông, quân Mỹ mở 8 cuộc càn, trong đó có 3 cuộc càn trực tiếp vào vùng rừng núi Tây Ninh.

Cuộc càn Mistiff (từ ngày 20.02 đến ngày 27.02.1966), do lữ đoàn 2 của sư đoàn I (sư đoàn Anh cả đỏ) đánh vào căn cứ Bời Lời, Bàu Đồn, Bà Nhã nhằm phá thế liên hoàn căn cứ ba huyện Trảng Bàng, Gò Dầu, Dương Minh Châu.

Cuộc càn Hattisburg  (từ ngày 1.3 đến ngày 5.3.1966), do lữ đoàn 2 thuộc sư đoàn 25 (Tia chớp nhiệt đới) và 3 tiểu đoàn của sư đoàn 25 ngụy càn giải toả áp lực của ta ở khu vực Bến Cầu, bị bộ đội và du kích đánh thiệt hại.

Cuộc càn Birmingham diễn ra từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1966 do lữ đoàn 173 dù và 2 lữ đoàn thuộc sư đoàn 1 tiến hành, đánh vào căn cứ Dương Minh Châu và càn quét khu vực rộng từ Tà Păng, Lò Gò, Bàu Cỏ, Sóc Ky đến Suối ông Hùng, Bến Củi.

Mỹ tiến hành các cuộc hành quân nói trên là nhằm nới rộng vành đai an toàn cho căn cứ Mỹ, đồng thời đánh thăm dò ở cả 2 hướng: hướng đông từ Trảng Bàng lên Bời Lời đến Dương Minh Châu, hướng tây cặp biên giới từ Bến Cầu lên Tà Păng, Sóc Ky, Bàu Cỏ. Hai mũi này sẽ gặp nhau tại Bàu Cỏ (Tân Hưng thuộc huyện Tân Châu ngày nay), nhằm tạo thế bao vây chủ lực quân giải phóng.

Nhưng các cuộc hành quân này đã vấp phải sự chống trả liên tục và mãnh liệt của quân và dân Tây Ninh khiến kế hoạch của Mỹ bị phá vỡ, buộc chúng phải kết thúc sớm cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất trước tháng 6.1966.

Thất bại nặng nề trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất đã làm cho tinh thần chiến đấu của quân Mỹ bị sa sút nghiêm trọng, nội bộ mâu thuẫn gay gắt. Tuy nhiên, đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố tiếp tục tăng quân, tăng phương tiện chiến tranh, chuẩn bị mở cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai ( 1966- 1967) với hy vọng tìm ra giải pháp quân sự trên chiến trường có lợi cho chúng. Đế quốc Mỹ tập trung vào trọng điểm tây bắc Sài Gòn. Mục đích là tiêu diệt cơ quan Trung ương Cục và chủ lực quân giải phóng ở căn cứ Bắc Tây Ninh. Cho nên trên chiến trường Tây Ninh, địch tập trung thường trực 20.000 quân và cơ giới, từ 1 đến 2 trung đoàn pháo binh (từ 100 đến 120 khẩu pháo), phi cơ các loại, B52 liên tục ngày đêm đánh phá huỷ diệt căn cứ.

Trước âm mưu của đế quốc Mỹ ra sức tăng cường tấn công quân sự ở miền Nam và đánh phá miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, ngày 17.7.1966,  Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập tự do”([51]), động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Bước vào mùa khô 1966 – 1967, để thực hiện chiến lược hai gọng kìm : “tìm diệt và bình định”, đế quốc Mỹ mở cuộc hành quân mang tên Attelboro đánh vào huyện Dương Minh Châu, từ ngày 12.10.1966 đến ngày 25.11.1966, nhằm: Giành lại thế chủ động ở chiến trường, chủ yếu tại chiến trường miền Đông Nam Bộ, đánh vào hệ thống kho tàng dự trữ của lực lượng cách mạng, bịt các cửa khẩu, tiêu diệt một bộ phận chủ lực quân giải phóng, tiêu diệt cơ quan đầu não của kháng chiến, nhất là về lương thực để buộc lực lượng quân giải phóng phải phân tán để chúng tiêu diệt.

Các trận đánh chống càn của lực lượng cách mạng gây cho địch nhiều thiệt hại. Chỉ tính từ ngày 3.11.1966 đến ngày 5.11.1966, trung đoàn 16 chủ lực Miền cùng bộ đội địa phương, du kích và cán bộ, chiến sĩ các cơ quan ở khu vực căn cứ Dương Minh Châu đã loại khỏi vòng chiến lữ đoàn 196 Mỹ, tên tướng chỉ huy Đờ-Xốt-Xuya bị cách chức tại trận, 4.500 lính Mỹ-ngụy bị diệt, trong đó có 1.700 tên Mỹ.

Chiến thắng cuộc càn Attelbero, quân dân ta khẳng định khả năng bảo vệ căn cứ trước những cuộc tấn công lớn của Mỹ. Đối với đế quốc Mỹ, thất bại này đã đủ làm tăng thêm sự ngờ vực trong nhân dân và Quốc hội Mỹ và dấy lên phong trào nhân dân Mỹ yêu chuộng hòa bình chống chiến tranh Việt Nam.

Trong phong trào thi đua diệt Mỹ-ngụy, các em thiếu niên cũng lập được những thành tích vẻ vang, diệt được nhiều cơ giới bằng mìn tự tạo. Các em ở Cầu Khởi đi coi trâu, lượm mủ ở các sở cao su được các anh công binh huyện Dương Minh Châu hướng dẫn kỹ thuật gài trái. Các anh đào hố sẵn trên đường 26, đoạn Cầu Khởi – Năm Ngọn rồi nghi trang lại, đến sáng bọn dò mìn đi rà đường xong, các em đem trái ra gài vào các lỗ đào sẵn, nghi trang lại cẩn thận. Lúc sau, xe Mỹ đi ngang cán mìn nổ hư hỏng nặng. Có cuộc càn các em diệt được 4 xe M113.

Bị thất bại liên tiếp trong các cuộc hành quân, ngày 25.11.1966 Mỹ buộc phải rút quân khỏi huyện Dương Minh Châu, chấm dứt cuộc càn. Nhưng chúng vẫn chưa chịu dừng lại. Ngày 8.01.1967 đến ngày 26.01.1967, Mỹ lại tiến hành cuộc càn Cedarfall đánh vào vùng tam giác sắt Củ Chi, Bến Súc, Long Nguyên, Hố Bò và một phần huyện Trảng Bàng (An Tịnh, Lộc Hưng). Tại thị trấn Bến Súc và khu vực xung quanh, chúng gom đi 15.000 dân, cướp hàng ngàn tấn lúa, gây thiệt hại cho một số cơ quan của lực lượng cách mạng. Trên toàn mặt trận, địch đã bị trung đoàn 2 thuộc sư đoàn 9 của lực lượng chủ lực Miền chặn đánh quyết liệt, loại khỏi vòng chiến đấu 5.500 tên trong đó có 2.500 tên Mỹ. Cuộc hành quân Cedarfall tuy gom được dân, làm đảo lộn sinh hoạt vùng giải phóng, gây nhiều khó khăn cho lực lượng cách mạng nhưng vẫn không đạt được mục tiêu chính của chúng là tiêu diệt cơ quan đầu não, xóa vùng căn cứ, bàn đạp và hành lang vào Sài Gòn của quân giải phóng.

Sau thất bại của hai cuộc càn Attellboro và Cedarfall, đế quốc Mỹ tiếp tục mở cuộc hành quân Junction City đánh vào khu căn cứ Bắc Tây Ninh từ ngày 22.2.1967 đến 15.4.1967. Đây là trận càn chủ yếu trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai, cũng là cuộc càn lớn nhất với nhiều tham vọng nhất của Mỹ từ khi đưa quân vào xâm lược nước ta. Mỹ tập trung 45.000 quân, 1.200 xe tăng, thiết giáp, 250 khẩu pháo, 600 máy bay chiến đấu và vận tải. Máy bay B52 ném bom huỷ diệt từng vùng rộng để phục vụ cuộc càn quét.

Qua 53 ngày đêm, cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ trên chiến trường miền Nam, đã bị quân dân vùng căn cứ và quân dân Tây Ninh bẻ gãy hoàn toàn. Lực lượng vũ trang giải phóng đã diệt gọn 2 tiểu đoàn, 11 đại đội bộ binh, tiểu đoàn pháo binh, 9 chi đoàn xe thiết giáp, tiêu hao nặng 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn dù, loại khỏi vòng chiến đấu 14.233 tên Mỹ (1/3 quân số), phá hủy 922 xe (có 775 xe thiết giáp), 112 trong số 256 khẩu pháo, bắn rơi 160 máy bay trong đó có 114 trực thăng. Cuộc càn Junction City bị thất bại.

Kết hợp với đấu tranh quân sự, Mặt trận cùng các thành viên đoàn thể phát động quần chúng đấu tranh chính trị, binh vận cũng đạt nhiều thắng lợi. Trong thời kỳ này đấu tranh chủ yếu là chống cào nhà gom dân lập ấp, chống bắn pháo, chống xe càn vào ruộng lúa, đòi bồi thường sinh mạng diễn ra rất sôi nổi ở Lộc Hưng, Gia Lộc, An Tịnh (Trảng Bàng), Phước Thạnh, Thanh Phước, Hiệp Thạnh (Gò Dầu), Hảo Đước, Thanh Điền, Thái Bình (Châu Thành). Đồng bào giăng tay không cho xe lội nước của Mỹ càn vào ruộng phá hại mùa màng. Khi Mỹ dùng bom đạn hủy diệt hàng loạt nhà cửa ở vùng ngoại vi Tòa Thánh, Mặt trận vận động quần chúng tín đồ đấu tranh với Hội Thánh đòi can thiệp với chính quyền ngụy để bồi thường tài sản; mặt khác, quần chúng tín đồ còn dùng hình thức tản cư ngược để cản đầu xe bọc thép Mỹ. Có lần quần chúng tín đồ Cao Đài dùng lời lẽ êm dịu chặn được 1 tiểu đoàn ác ôn ngụy không cho chúng đốt nhà.

Có được thắng lợi lớn trong hai mùa khô 1965-1966, 1966-1967, còn thể hiện sự quyết tâm đẩy mạnh phong trào sản xuất tại chỗ, vì đây là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi.

Trên cơ sở chỉ đạo của Tỉnh ủy, Mặt trận phát động quần chúng kiên trì bám trụ chiến đấu để bảo vệ sản xuất, mở rộng diện tích sản xuất. Vùng tiếp cận địch làm tăng vụ, gặt lúa xong trồng tiếp hoa màu như ở Trảng Bàng, Gò Dầu. Vùng giải phóng và vùng tranh chấp mở rộng diện tích sản xuất như ở Bàu Đưng, Bàu Rào, Trảng Cỏ, Tam Hạp, Cây Chò, Gò Nổi, Bưng Rò, Xóm Sóc, Suối Ông Hùng, Bàu Tràm… có trên 3.000 gia đình trở về sản xuất lại diện tích đã bỏ hoang hơn 500 ha. Ở huyện Bến Cầu có 1.000 gia đình; huyện Châu Thành có 400 gia đình, huyện Dương Minh Châu có 100 gia đình trở về ruộng vườn cũ sản xuất. Đối với vùng địch hủy diệt như Lộc Hưng, Đôn Thuận, Hảo Đước, Tà Păng, Phước Chỉ, Thạnh Đức đồng bào vẫn kiên trì bám trụ sản xuất dưới bom đạn để tự túc nuôi quân đánh giặc. Ở huyện Tòa Thánh (nay là huyện Hòa Thành) hàng ngàn tín đồ, chức sắc, chức việc ở các xã như: Long Thành, Trường Hòa, nổi bật là Vùng Rẫy ( nay thuộc xã Thạnh Tân), đồng bào ngày đêm bám ruộng rẫy, tăng gia sản xuất tiếp tế lương thực, thực phẩm cho cách mạng. Đây là nét nổi bật thể hiện tinh thần bám xóm làng để sản xuất, đưa mặt trận này ngang hàng với chiến đấu.

Trong phong trào sản xuất, lực lượng phụ nữ đã không quản ngại khó khăn, gian khổ dưới mưa bom, lửa đạn, chị em luôn vững vàng với vai trò nòng cốt trong sản xuất, vừa tay cày, tay cuốc, nhiều nhất là ở Trảng Bàng, Gò Dầu. Phụ nữ là lực lượng chủ công trực tiếp chống địch càn quét, cướp bóc phá hoại mùa màng.

Trước tình hình chiến sự ngày càng diễn ra ác liệt, người nông dân không thể làm ăn cá thể, họ đã hỗ trợ đoàn kết giúp đỡ nhau trong sản xuất trở thành yêu cầu bức thiết, Từ đó, đã hình thành hình thức vần đổi công, phổ biến nhất ở Trảng Bàng, Gò Dầu, Châu Thành, Rừng Nhum (Bến Cầu).

Đồng thời, với việc đẩy mạnh phong trào sản xuất tại chỗ đồng bào còn đấu tranh chống âm mưu phong tỏa kinh tế của địch. Họ đã luồn qua mắt địch vận chuyển lương thực, thực phẩm vào phục vụ kháng chiến. Huyện nào cũng mở được cửa khẩu, nổi bật là ở cửa khẩu Long Chữ (huyện Bến Cầu), đường số 6 huyện Trảng Bàng, có ngày đưa vào vùng giải phóng hàng ngàn thùng gạo. Ở cửa khẩu Suối Ông Hùng bị địch càn, đồng bào vẫn tìm đường khác để chuyển hàng vào vùng giải phóng như gạo, nilong, vật phẩm đủ loại cho các cơ quan. Ngoài ra, nhân dân còn tập trung sức người đi dân công tại chỗ và dân công chiến trường.

Đối với vùng biên giới Việt Nam-Campuchia, một địa bàn không những là nơi đứng chân cần thiết, mà còn là nơi dự trữ chiến lược, là bàn đạp thuận lợi cho các lực lượng cách mạng tiến công đánh địch, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Tây Ninh không lúc nào buông lỏng công tác vận động đồng bào Khmer ở biên giới giữ gìn được tình đoàn kết dân tộc anh em hai nước và phát triển mối quan hệ hữu nghị.

Vừa tấn công địch, vừa ra sức xây dựng lực lượng, xây dựng hậu phương vững mạnh về mọi mặt để phục vụ chiến đấu, tiến lên tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân 1968 đánh vào tận sào huyệt địch.

Trong tổng tiến công và nổi dậy 1968, cùng với các mũi tiến công quân sự, Mặt trận cùng các đoàn thể vận động quần chúng làm nhiệm vụ dân công hỏa tuyến và tiếp tế lương thực. Trong công tác có nhiều đồng chí, đồng bào ngã xuống ở vùng ven Trảng Bàng, Gò Dầu, Dương Minh Châu, Bến Cầu, Tòa Thánh… những hy sinh gian khổ không làm cho quần chúng nao núng, họ vẫn dũng cảm vượt qua khó khăn, tìm đủ mọi cách đưa lương thực, thực phẩm, thuốc men ra vùng ven. Đêm đêm có hàng trăm xe bò, xe trâu, xe thồ bí mật đưa hàng đến địa điểm an toàn với số lượng hàng hóa rất lớn. Quần chúng trong các ấp chiến lược bị kìm kẹp gắt gao vẫn tìm mọi cách đưa lương thực ra nuôi cán bộ, bộ đội. Nổi bật trên mặt trận này là xã An Tịnh (Trảng Bàng), nơi địch đánh phá dữ dội, quần chúng vẫn đưa vũ khí vào nội thành phục vụ cho các đợt tiến công vào Sài Gòn, đồng bào còn đào hầm trong nhà nuôi dưỡng trên 800 thương binh an toàn (vượt quá mức chuẩn bị theo dự kiến đến 4 lần).

  1. MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG TỈNH TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG CHIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH”, TIẾN LÊN TỰ LỰC GIẢI PHÓNG QUÊ HƯƠNG (1969-1975)

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân miền Nam đã làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, cộng với sức ép của dư luận quốc tế và nhân dân tiến bộ Mỹ, buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận đàm phán tại Paris, nhưng đế quốc Mỹ vẫn chưa chịu từ bỏ âm mưu chiếm giữ miền Nam bằng việc chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, thay màu da cho xác chết, vừa tiến hành thương lượng, vừa ra sức tăng cường mọi mặt cho quân ngụy đủ sức thay thế quân Mỹ trong nhiệm vụ chiến đấu để quân Mỹ rút dần, đi đôi với đẩy mạnh càn quét, bình định, lấn chiếm, làm suy yếu đối phương, mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương nhằm giành thắng lợi mà không phải dùng đến lực lượng trên bộ của Mỹ.

Đầu tháng 6-1969, để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, Mặt trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam tiến hành Đại hội quốc dân, cử ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, do đồng chí Huỳnh Tấn Phát làm Thủ tướng, nhiều đồng chí khác tham gia trong Chính phủ và Hội đồng cố vấn, trong đó có Thiếu tá Cao Đài Huỳnh Thanh Mừng[52], đại biểu tỉnh Tây Ninh được cử tham gia làm Ủy viên Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.  

Tiếp sau việc ra đời của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, ngày 7-6-1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Tây Ninh tổ chức Đại hội đại biểu toàn dân tại Bàu Trường (xã Ninh Điền, huyện Châu Thành). Đại hội đã cử đồng chí Phạm Công Khiêm (Ba Nông)[53] giữ chức Chủ tịch Ủy ban Cách mạng Lâm thời tỉnh Tây Ninh. Từ đây quân và dân Tây Ninh có thêm sức mạnh mới và đã vượt qua một thử thách lớn trong giai đoạn Mỹ-ngụy điên cuồng đánh phá cách mạng của những năm 1969-1970.

Ngày 18-3-1970, trên chiến trường Campuchia, đế quốc Mỹ giúp Lon- Non lật đổ Quốc vương Si-ha-núc khi đang dưỡng bệnh ở Trung Quốc, lập ra chính quyền thân Mỹ hòng phá kế hoạch chi viện của miền Bắc Việt Nam cho chiến trường miền Nam theo con đường qua cảng Si-ha-núc-vin ( Campuchia) xuống Tây Ninh, Bình Phước.

Ngày 30-4-1970, địch bắt đầu mở cuộc hành quân sang Campuchia để mở rộng chiến trường, giảm sức ép với ngụy quyền Sài Gòn, nhằm tạo thế có lợi chúng ở Hội nghị Paris. Địch huy động 75 tiểu đoàn đánh sang Campuchia. Trong khi đó, quân Lon-Non ép xuống biên giới, cho nên lực lượng cách mạng của Tây Ninh gặp nhiều khó khăn, nhưng địch không ngờ rằng một số cơ quan Dân Chính Đảng, trong đó có cơ quan Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh vẫn ở trên đất Campuchia. Trong nội địa, lực lượng vũ trang vẫn áp sáp trận địa chống càn quét; ở các ấp chiến lược, cán bộ vẫn vào để tuyên truyền chính sách của Mặt trận dân tộc Giải phóng.

Trong những năm khó khăn này, cơ quan Mặt trận phải di chuyển liên tục ở nhiều nơi cặp biên giới Campuchia.  Ở trên đất Campuchia, Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh ra sức vận động đồng bào Việt kiều cho con em tham gia cách mạng. Vận động người Hoa ở các tỉnh Svayriêng, Preyveng, Kompongchàm đóng góp sức người, sức của cho cách mạng miền Nam nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng. Đồng thời, còn nêu cao chính sách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng cho tất cả các tầng lớp nhân dân, trong đó có người Khmer nhường chỗ ở cho quân cách mạng trú đóng.    

Tháng 6-1972, do yêu cầu chỉ đạo, lãnh đạo phong trào quần chúng Cao Đài và để thống nhất sự chỉ đạo theo yêu cầu của tình hình mới, Ban Cao Đài vận và lực lượng vũ trang của Ban củng cố Hòa bình chung sống sáp nhập vào Huyện ủy Tòa Thánh. Từ đó, Huyện ủy Tòa Thánh đề ra nhiệm vụ cụ thể cho công tác Cao Đài vận là ra sức nắm chặt quần chúng bên dưới, tranh thủ bên trên, phân hóa cô lập đánh đổ bọn cực hữu, tiếp tục đẩy mạnh việc chống bắt lính đôn quân, phá thế kìm kẹp, vận động quần chúng bung về ruộng vườn cũ làm ăn, đấu tranh đòi hòa bình chấm dứt chiến tranh.

Ban củng cố Hòa bình chung sống làm tốt công tác Cao Đài vận, tờ báo “Nước vinh đạo sáng” tiếng nói của những người đạo Cao Đài yêu nước ra đời từ năm 1968 do Giáo hữu Thượng Thâu Thanh làm Chủ nhiệm và ông Nhan Văn Ánh làm Chủ bút, do nhà in Trịnh Phong Cương in ấn. Báo được phát hành công khai, mỗi lần in khoảng một ngàn số, vạch trần tội ác của Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu cấu kết với đế quốc Mỹ bóc lột, hãm hại, gây chia rẽ trong nội bộ  quần chúng tín đồ Cao Đài; lên án đế quốc Mỹ thảm sát đồng bào Cao Đài tộc đạo huyện Bến Cầu; lên án ném bom hủy diệt quần thể chùa núi Bà, chùa Đại Đồng, chùa Hòa Đồng và dùng bom 5 tấn hủy diệt khu Năm trại (xã Trường Hòa); lên án rãi chất độc hóa học làm hư hại hoa màu, ruộng vườn của đồng bào toàn tỉnh. Đồng thời, Báo đã đăng kịp thời tin tức thắng lợi trên khắp chiến trường miền Nam nói chung và Tây Ninh nói riêng. Hướng dẫn quần chúng phá thế kìm kẹp ở ấp chiến lược, bung ra bám ruộng rẫy tăng gia sản xuất góp sức nuôi quân.

Việc đẩy mạnh tuyên truyền vận động trong hàng ngũ chức sắc, chức việc và tín đồ, tập trung vào những vấn đề mấu chốt mà quần chúng tín đồ yêu nước quan tâm là hòa bình chung sống, ta đã tuyên truyền được các chính sách của Đảng và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trong quần chúng đạo, làm cho quần chúng ngày càng nhận rõ bàn chất ngoan cố hiếu chiến của địch, tin tưởng vào đường lối đúng đắn của Đảng. Quần chúng tín đồ đã xác định được kẻ thù của nền hòa bình hiện nay là Mỹ- Thiệu. Để quần chúng tín đồ nhận rõ được đâu là bạn, đâu là thù, cán bộ, chiến sĩ làm công tác tuyên truyền vận động phải trải qua bao gian truân vất vả, nguy hiểm có khi phải đổ máu.

Được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Tây Ninh kêu gọi toàn dân, toàn quân phối hợp hành động liên tục tấn công địch. Ở các ấp chiến lược, đã huy động được quần chúng nổi dậy, kết hợp ba mũi đánh phá bình định, diệt ác phá kìm, giành quyền làm chủ, giữ được thế hợp pháp bằng đấu tranh chính trị-binh vận với khí thế quyết liệt giành lại các quyền lợi bị mất thể hiện trong các phong trào:

Phong trào nhân dân các ấp chiến lược đấu tranh dai dẳng và quyết liệt chống phá bình định giành được thắng lợi lớn, phá rã hoặc phá lỏng một số tổ chức kìm kẹp của địch, tẩy chay chính sách cải cách điền địa, chống xáo canh, chống nộp thuế, bung ra sản xuất, bám lại ruộng vườn, lắp được vành đai trắng phát triển được diện tích canh tác. Nổi bật là phong trào đấu tranh của nhân dân xã Thanh Điền chống cướp ruộng đất, giành lại trên 600 ha.

Phong trào công nhân đồn điền cao su đấu tranh dai dẳng đòi tăng lương, cấp gạo, chống khủng bố, sa thải giành được thắng lợi. Trong đấu tranh đưa ra khẩu hiệu sát đúng với nguyện vọng của công nhân, biết dựa vào tổ chức công khai, nên đã tập hợp được lực lượng quần chúng đông đảo, vừa phát triển đấu tranh, vừa xây dựng thực lực tại chỗ kết hợp ba mũi diệt ác phá kìm đánh phá bình định, qua đó nâng cao khí thế đấu tranh và chuyển được phong trào.

Phong trào học sinh chống quân sự hóa học đường, chống phạt vạ, tố cáo thầy giáo làm tay sai cho giặc… từng lúc lên mạnh với hình thức chất vấn, bãi khóa.

Sôi nổi và dai dẳng nhất là phong trào chống bắt lính, tháng 10-1972, ngụy quyền Sài Gòn thông báo cho Hội Thánh Cao Đài là không miễn quân dịch cho các tín đồ, buộc Hội Thánh phải lập danh sách số thanh niên làm công quả giao cho chúng và buộc họ phải ra trình diện. Vấn đề này đã bị Hội Thánh và quần chúng tín đồ phản đối kịch liệt. Hội Thánh đã ra lệnh cho các cơ quan của đạo và các Thánh thất canh gác nghiêm ngặt để bảo vệ thanh niên làm công quả và lính ngụy trốn vào đây, không cho địch bắt lính và cũng không giao nộp danh sách cho ngụy quyền. Nhiều nơi có mạng lưới quần chúng và hầu hết các Thánh thất, nhà chùa đều tổ chức che dấu thanh niên; mặc dù địch bố ráp thường xuyên, nhưng kết quả bắt lính rất hạn chế. Nhiều thanh niên trong tuổi quân địch, trong đó có thanh niên tín đồ Cao Đài đã ra vùng giải phóng để cùng tham gia chống Mỹ, cứu nước.

Trong sản xuất, đã hướng dẫn quần chúng đấu tranh bung ra lắp vành đai trắng đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, giải quyết tốt đoàn kết nông thôn, chia sớt ruộng rẫy, giúp đỡ phương tiện sản xuất, cứu đói, bảo vệ mùa màng, hướng dẫn quần chúng dự trữ gạo muối cho chiến trường. Kết hợp công tác dân vận, chăm lo sức khỏe cho đồng bào ấp chiến lược, đồng bào phía sau và nhân dân Campuchia, các cơ quan đơn vị cũng ra sức sản xuất tự túc ba tháng lương thực.

Tại vùng giải phóng, thông qua công tác tuyên truyền phát động, các huyện đã khẩn trương xây dựng chính quyền cách mạng, chăm lo cuộc sống của nhân dân, vừa ổn định, giữ vững vùng giải phóng, vừa động viên sức mạnh chính trị, sức mạnh vật chất cho phía trước, bổ sung lực lượng vũ trang, chính trị cả về số lượng lẫn chất lượng, bảo đảm tiếp tục đẩy mạnh tấn công và nổi dậy giải phóng đại bộ phận nông thôn. Tại Gò Dầu, Trảng Bàng qua nhiều cuộc gom tát dân của địch, quần chúng vẫn kiên quyết bám đất, bám nhà. Đảng, Mặt trận và các đoàn thể đã chăm lo giải quyết đất đai và sản xuất cho dân, cho nên đời sống của một số quần chúng tuy có khó khăn nhưng không bị đói. Các huyện còn tổ chức trường học, trạm xá, đào tạo cán bộ y tế, đoàn thể từng bước được củng cố. Mặt khác, các xã giải phóng còn tăng cường công tác bảo mật phòng gian, phát động nhân dân đề cao cảnh giác đối với những hoạt động phá hoại của bọn gián điệp. Nhiều vùng giải phóng lúc bấy giờ là chỗ dựa cho quần chúng trong ấp chiến lược bung ra sản xuất, xây dựng lại cuộc sống, chính quyền và các đoàn thể tích cực tổ chức giúp đỡ cho thanh niên vùng địch và lính bỏ ngũ ra vùng giải phóng, giáo dục và tạo mọi điều kiện để họ tham gia các công tác cách mạng.

Phối hợp với phong trào đấu tranh chính trị, lực lượng vũ trang trong vùng Tòa thánh Cao Đài đã chuyển phương thức đánh sâu trong lòng địch, đánh đúng đối tượng ác ôn, đồng thời vũ trang tuyên truyền, phá được một số đội phòng vệ dân sự (nhân dân tự vệ), làm cho các đội phòng vệ dân sự khác đấu tranh đòi trả súng, không đi tập quân sự, không canh gác. Đặc biệt ngày 22 – 11-1972, đội biệt động do đồng chí Nguyễn Thị Nghét, đội trưởng; đồng chí Nguyễn Thị Coi, đội phó đã trừng trị tên Trung tướng Nguyễn Văn Thành, nguyên Tổng tư lệnh Quân đội Cao Đài, Tổng thanh tra chính trị đạo (một tổ chức do bọn phản động núp dưới bóng Hội Thánh Cao Đài lập ra, không có tiền lệ trong sử đạo). Nguyễn Văn Thành là tên có nhiều nợ máu với nhân dân; hắn còn là kẻ cầm đầu thực hiện âm mưu của địch trong việc hợp nhất các chi phái Cao Đài và tiến hành tái vũ trang quân đội Cao Đài chống lại cách mạng. Sự kiện Nguyễn Văn Thành bị cách mạng diệt  có tác dụng mạnh cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng và làm phân hóa nội bộ địch.

Đội biệt động này đã được Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, là một người trí thức yêu nước nuôi giấu tại chùa Linh Quang, ngôi chùa do ông xây dựng.[54]

Mặc dù bị thất bại nặng nề về mọi mặt, nhưng giặc Mỹ vẫn chưa từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta. Từ mùa hè năm 1972 đến đầu năm 1973, địch điên cuồng đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược lên mức độ vô cùng ác liệt hơn để chuẩn bị ký Hiệp định Paris có lợi cho chúng. Giặc Mỹ và bọn tay sai đánh quyết liệt vào các vùng căn cứ của quân giải phóng, tiêu diệt hậu phương của cách mạng trên đất Campuchia. Tháng 12-1972, địch đổ quân càn vào rừng Tà Săng (tỉnh Prayveng, Campuchia) . Trên đường hành quân bị pháo bắn, ông Lưu Kiết, Phó chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh bị thương. Đồng chí Lê Hoàng Mai ( Hai Mai), Chánh văn phòng Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh lệnh cho đội bảo vệ cơ quan phải đưa các vị lãnh đạo Mặt trận rút sâu vào rừng và gặp được Quân y tỉnh mới có hầm trú ẩn cho Giáo hữu Thượng Thâu Thanh và ông Lưu Kiết. 

Trước sự tiến công mạnh mẽ của ta trên khắp chiến trường, thế và lực của Mỹ – ngụy suy sụp nặng nề, để góp phần cùng cả nước làm áp lực buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, ngày 26- 1-1973, quân và dân Tây Ninh đã đồng loạt tấn công chiếm lĩnh trên 60 ấp trong tỉnh, nơi cao nhất từ 7 đến 12 ngày, nơi thấp cũng làm chủ một vài đêm. Tại những nơi ta chiếm lĩnh, cờ Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (nửa xanh, nửa đỏ, chính giữa có ngôi sao vàng năm cánh) tung bay.  Sau thời gian này, lực lượng vũ trang lui ra các ấp vùng ven và tiếp tục đánh địch bung ra giữ vùng tranh chấp và từng bước đánh sâu vào quận lỵ Phú Khương (nay là huyện Hòa Thành) và các xã ấp yếu, phá kìm, phát động quần chúng về nội dung Hiệp định. Trong đợt chiếm lĩnh này, chính sách Cao Đài vận được thực hiện nên có ảnh hưởng tốt trong đồng bào đạo. Mặt khác, các cơ sở cách mạng biết sử dụng tổ chức công khai của đạo phát động thành lập mặt trận đấu tranh chống địch dùng bom pháo hủy diệt các ấp ở xã Trường Hòa, Long Thành, đòi bồi thường thích đáng thiệt hại về tính mạng và tài sản. Phong trào đấu tranh được duy trì liên tục đã phá lỏng, phá rã hầu hết phòng vệ dân sự. Đây là một chuyển biến chính trị lớn nhất có tính chất bạo lực của quần chúng giành quyền làm chủ, kết hợp chặt quyền lợi của tôn giáo và quyền lợi thiết thân, kết hợp được tầng lớp chức sắc bên trên với các tổ chức công khai của quần chúng bên dưới, nhờ đó đã vạch trần, đẩy lùi các thủ đoạn vu khống lừa mỵ của địch đối với cách mạng và nhân dân. Những tên tay sai của Mỹ-Thiệu đội lốt đạo bị vạch mặt rõ hơn và bị cô lập hơn.

Song song với phong trào vùng Tòa Thánh, tại thị xã Tây Ninh, các thị trấn và vùng yếu, cũng hình thành nhiều nhóm bàn bạc, trao đổi công khai về Hiệp định, lôi cuốn cả binh sĩ ngụy cũng bàn và nghe Đài phát thanh giải phóng, Đài phát thanh Hà Nội.

Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam kết hợp với chiến thắng đập tan cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B52 của Mỹ ở miền Bắc năm 1972 đánh dấu thất bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris về Việt Nam ngày 27-1-1973 rút quân về nước.

Hiệp định Paris được ký kết, Mỹ cút nhưng ngụy chưa nhào, chúng phản bội Hiệp định ngay từ những ngày đầu và dùng nhiều cánh quân càn quét các địa bàn trọng điểm như Nam Tòa Thánh, Bắc Gò Dầu, Đông Trảng Bàng… với âm mưu đánh chiếm, đóng chốt những vùng ta làm chủ, đi đôi với càn quét, địch tăng cường thực hiện kế hoạch chiến tranh tâm lý tuyên truyền xuyên tạc thắng lợi của ta, ra sức vận động chiêu hồi, chiêu hàng, tung bọn mật thám gián điệp vào vùng giải phóng. Về kinh tế, chúng ráo riết vơ vét, bóc lột quần chúng bằng các loại thuế và phong tỏa kinh tế, phá hoại mùa màng của bà con vùng giải phóng.

Thời gian này, cơ quan Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh trở về trú đóng trên đất Tây Ninh đã ra sức vận động thu mua lúa của đồng bào ở ấp chiến lược, ruộng ở vùng giải phóng như Bàu Cát (xã Mỏ Công), Bàu Cỏ (ấp chiến lược Ninh Thạnh), đồng bào ở Quy Thiện (xã Trường Hòa) cũng tích cực bán lúa cho cách mạng. Nhờ đó, mà hàng năm mua được hàng trăm tấn lương thực để nuôi quân. Đây là vai trò to lớn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh.

Ở vùng giải phóng huyện Tân Biên, dưới sự chỉ đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, huyện Tân Biên được chọn làm thí điểm tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân và bầu chính quyền cách mạng. Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Tây Ninh đã đứng ra tổ chức Hiệp thương bầu cử chính quyền cách mạng, người công dân huyện Tân Biên, trong đó dân có được là đa số bà con Việt kiều ở Campuchia về thực hiện quyền phổ thông đầu phiếu sớm nhất trong tỉnh. Chính quyền cách mạng huyện Tân Biên được củng cố đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Tỉnh ủy liên tiếp mở các cuộc Hội nghị cán bộ nhằm quán triệt tình hình nhiệm vụ mới, đánh giá rõ hành động phản bội Hiệp định của bọn địch và đề ra chủ trương: Tiếp tục phát động toàn Đảng, toàn dân đẩy mạnh tiến công bằng ba mũi: vũ trang, chính trị và binh vận trừng trị bọn lấn chiếm, buộc chúng phải thi hành Hiệp định.

Do liên tục bồi dưỡng về nhận thức và phương thức hoạt động, các lực lượng vũ trang và chính trị của ta có quyết tâm cao, tự lực cánh sinh, đồng loạt chớp thời cơ trên một diện rộng tiến công địch giành những thắng lợi quyết định.

Tháng 4- 1973, cơ quan Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Tây Ninh dời căn cứ từ Gò Tháp (hiện nay thuộc xã Biên Giới, huyện Châu Thành) về xã Thạnh Bình (huyện Tân Biên). Đến tháng 10-1973, Tỉnh uỷ tổ chức đưa Giáo hữu Thượng Thâu Thanh, Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh đi chữa bệnh ở Hà Nội và sau đó Ông đã qua đời do bệnh nặng. Từ đó cơ quan Mặt trận có sự thay đổi về cán bộ, đồng chí Võ Đức Trọng được cử làm Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh kiêm Trưởng ban Cao Đài vận và trực tiếp phụ trách huyện  Tòa Thánh.

Cùng với những thắng lợi trên chiến trường, Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh phát động phong trào đấu tranh chính trị trực diện với địch. Đồng bào dựa vào quyền lợi thiết thân kết hợp với pháp lý Hiệp định đã tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chống địch càn quét lấn chiếm, đòi ngừng bắn, đòi thả người bị bắt, đòi được đi lại làm ăn, đòi miễn thuế như:

Phong trào chống thuế ở huyện Tòa Thánh, đồng bào công khai tố cáo, phản đối địch, huy động mọi tầng lớp có cả cảnh sát và binh lính địch đồng tình tham gia, tổ chức biểu tình trực diện với với bọn cầm quyền tại chỗ, gởi đơn khiếu nại lên Ty Thuế vụ tỉnh yêu cầu giảm thuế, hủy bỏ những loại thuế không hợp lý… nhiều tiệm buôn đóng cửa, trả môn bài hoặc tiếp tục mua bán nhưng giằng co không đóng thuế. Trước áp lực đấu tranh mạnh mẽ đó, bọn cầm quyền tỉnh đã phải nhượng bộ, hứa sẽ can thiệp với cấp trên để giải quyết các yêu cầu của đồng bào.

Ở Lợi Hòa Đông, Cầu Khởi, Bưng Rò, lực lượng chính trị của nhân dân kết hợp với lực lượng vũ trang vây ép, tiêu diệt bọn càn quét lấn chiếm. Đồng bào kêu gọi, rãi truyền đơn, gởi thư tay, tranh thủ binh lính địch: “Hòa bình rồi, các anh đi lấn chiếm, càn quét làm chi cho uổng mạng”,”lấn chiếm càn quét là vi phạm Hiệp định hòa bình, sau không trở về sum họp với gia đình tự làm khổ, làm cực thân mình như vậy…”, bằng lý lẽ và tình cảm, đồng bào đã làm cho binh lính địch hoang mang dao động, thừa nhận việc vi phạm Hiệp định. Nắm được tâm tư của binh lính địch, đồng bào càng tác động mạnh hơn. Thế là phong trào đào, rã ngũ, phản chiến, chống đi càn quét nổi lên khá phổ biến ở nhiều đơn vị địch.

Ở xóm Mồ Côi (Trảng Bàng), đồng bào cũng dùng lời lẽ tình cảm thuyết phục sĩ quan và binh lính địch làm cho một đoàn xe bộc thép của chúng phải quay đầu lại bỏ dở cuộc càn. Đồng bào Gia Tân và An Tịnh đấu tranh bằng pháp lý văn bản Hiệp định Paris buộc địch phải rút bỏ bót Lợi Hòa Đông.

Nhiều nơi của các huyện Gò Dầu, Tòa Thánh, Dương Minh Châu, Trảng Bàng, nhân dân biểu tình đấu tranh trực diện quyết liệt với địch. Nhiều cuộc đấu tranh có hàng trăm, hàng ngàn người xông vào lôi kéo, tố cáo bọn ác ôn đốt nhà, cướp của nhân dân. Các cuộc biểu tình này, tuy thắng lợi ở mức độ nhất định, nhưng cũng đã làm hạn chế đến sức phản kích của địch, tạo thuận lợi cho lực lượng ta bám trụ dài ngày.

Phong trào chống chiến tranh tâm lý của địch hầu như ở huyện nào cũng có phương pháp đấu tranh kết hợp giữa chính trị và binh vận, nhân dân đã biến nhiều cuộc họp tuyên truyền của địch thành những cuộc đấu tranh trực diện đòi địch phải giải quyết đời sống, được tự do đi lại làm ăn… ở huyện Trảng Bàng, Hội Phật giáo yêu nước vận động hàng ngàn phật tử xuống đường với khẩu hiệu: “Yêu cầu thực hiện hòa bình, chấp hành Hiệp định Paris”, bọn cảnh sát không dám đàn áp, nhưng sau đó chúng bắt  ông Ngô và ông Lung là hai người tổ chức cuộc xuống đường này. Đồng bào kéo đến dinh tỉnh trưởng đấu tranh buộc địch phải thả ra. Ở Văn Bon (huyện Châu Thành), đồng bào đấu tranh đòi địch phải giải quyết đời sống, buộc chúng phải dùng trực thăng chở 100 tấn gạo lên để đáp ứng theo yêu cầu của đồng bào. Bên cạnh đó, ta sử dụng những tổ chức công khai của đạo Cao Đài, thông qua việc vận động nòng cốt chức sắc, chức việc tổ chức gần hàng ngàn quần chúng tín đồ cùng ký tên vào bản kiến nghị gởi cho tên Quận trưởng quận Phú Khương và một bản khác với hàng chục chữ ký của các chức sắc đạo Cao Đài gởi Tỉnh trưởng đòi giải quyết nạn đói, ngừng bắn pháo để dân được tự do đi lại làm ăn.

Phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của quần chúng với sức mạnh tổng hợp của nhiều thành phần trong Mặt trận: công nhân, nông dân, tiểu thương, thanh niên, học sinh, tín đồ Cao Đài, Phật giáo và cả gia đình binh sĩ địch, được sự hỗ trợ mạnh mẽ của lực lượng vũ trang đã vươn lên với khí thế mới, tạo thế áp đảo tinh thần địch.

Với những chiến thắng dồn dập trên chiến trường, bọn ngụy quân, ngụy quyền ở Tây Ninh sa sút tinh thần nghiêm trọng, phong trào phản chiến, đào rã ngũ trong binh lính ngày càng cao, bọn tề ác ôn bỏ nhiệm sở chạy vào các trung tâm thị xã, thị trấn để ẩn náo. Các lực lượng vũ trang Tây Ninh đều có sự phát triển về chất lượng để bước vào cuộc chiến đấu góp phần giải phóng miền Nam.

Sau khi giải phóng Núi Bà 7-1-1975, ngày 15-1-1975, Hội Thánh Cao Đài đưa ra thông điệp hòa bình do Hiến pháp Trương Hữu Đức ký và gửi cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh, với lời lẽ bề trên với cách mạng, như đạo đứng ra hòa giải hòa hợp dân tộc, lấy 40 km2 làm   chu vi bất khả xâm phạm của Tòa Thánh, cho mượn Tòa Thánh làm điểm để họp hòa giải, hòa hợp dân tộc hai miền, mở đại lộ Xuyên Á (lộ Chính Môn). Ngoài ra, Hội Thánh còn chỉ thị cho các cơ quan Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài, Phước Thiện, cắm đất giành dân lên tới Cần Đăng, Trại Bí, Đồng Pan, Kà Tum, Bổ Túc. Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh đã tỏ thái độ dứt khoát bác bỏ bản thông điệp hòa bình và vận động quần chúng nhổ bỏ hết những bản cắm đất giành dân, vì đạo không có quyền, không có pháp nhân làm việc này.

Trước sự tiến công vũ bảo của lực lượng vũ trang của ta, một số tỉnh ở Cao Nguyên và miền Trung được giải phóng. Được sự chỉ đạo của Trung ương Cục, Tây Ninh phải tự giải phóng, chấp hành tinh thần này, Tỉnh ủy đề ra nhiệm vụ cụ thể là huyện tự giải phóng huyện, xã tự giải phóng xã, không để địch ở địa bàn này sang cố thủ ở địa bàn khác, nhanh chóng vận động quần chúng đưa con em vào xây dựng lực lượng vũ trang.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh  và các đoàn thể vận động trên 3.000 thanh niên, trung niên tình nguyện lên đường tham gia lực lượng vũ trang. Tỉnh Tây Ninh tổ chức 9 tiểu đoàn mới  (trong đó có hai đại đội là tín đồ Cao Đài), và phát động nhân dân ủng hộ bộ đội, tổ chức đón rước, cho cách mạng mượn tiền, lúa, tài sản… đồng thời nhân dân còn bố trí bảo vệ địa bàn đứng chân của bộ đội, sẵn sàng tạo mọi điều kiện để bộ đội giành chiến thắng.

Lúc này khí thế giải phóng miền Nam rất sôi động, đồng chí Võ Đức Trọng, Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh chỉ đạo cho đồng chí Trang Văn Hải cùng một số đồng chí đến rừng Bàu Dương Lịch (gần Trường Đảng tỉnh, nay là Nhà văn hóa huyện Tân Châu) vào khoảng 2km xây dựng căn cứ, nhưng nơi đây không thuận lợi vì vào mùa mưa thì ngập nước và ở sâu trong vùng giải phóng. Đồng chí Võ Đức Trọng lại chỉ đạo xây dựng căn cứ trong rừng Bàu Cối ( hiện nay thuộc xã Tân Hưng, huyện Tân Châu) làm công tác Mặt trận với một số vị chức sắc Cao Đài trong Tòa Thánh để chiêu hàng Đại tá Bùi Đức Tài, Tỉnh trưởng Tây Ninh là người có gốc đạo Cao Đài. Nhiệm vụ này không thực hiện được, vì đồng chí Võ Đức Trọng, đồng chí Lê Văn Dừa (Ba Dừa), Bí thư huyện ủy Tòa Thánh bị mời về Ban An ninh Miền.[55]

Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn-Gia Định, giải phóng toàn Miền đã đến, lực lượng vũ trang Tây Ninh trút trận bão lửa, buộc Đại tá Bùi Đức Tài, Tỉnh trưởng Tây Ninh tuyên bố đầu hàng và kêu gọi lực lượng địch hạ vũ khí, giao chính quyền cho cách mạng.

Đúng 11 giờ ngày 30-4-1975, tỉnh Tây Ninh được hoàn toàn giải phóng, trước 30 phút khi Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Qua 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy hy sinh gian khổ, Tây Ninh đã cùng cả nước giành được thắng lợi trọn vẹn, vẻ vang.

Dưới ngọn cờ hiệu triệu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh, các giai cấp, tầng lớp nhân dân đã phát huy sức mạnh tổng hợp trong trận quyết chiến cuối cùng. Quân dân Tây Ninh đã tự lực giải phóng tỉnh nhà, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chung của dân tộc, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. 

CHƯƠNG V

VẬN ĐỘNG, ĐOÀN KẾT CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH, ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG; CHIẾN ĐẤU VÀ PHỤC VỤ CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM TỔ QUỐC (4/1975-1/1979)

  1. ĐẶC ĐIỂM VÀ TÌNH HÌNH CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN SAU GIẢI PHÓNG

Sau ngày giải phóng, Tây Ninh có 8 huyện, thị; 73 xã, trong đó có 60 xã bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Dân số khoảng 665.000 người, bao gồm nhiều dân tộc khác nhau, ngoài người Việt chiếm đại đa số, còn có người Hoa, Khơme, Chăm, Tà Mun…; đại bộ phận cư dân Tây Ninh sống ở vùng nông thôn. Trong kháng chiến, Tây Ninh có vùng giải phóng rộng lớn, nhiều căn cứ lõm, nhiều vùng có truyền thống cách mạng lâu đời nên có một bộ phận khá đông người dân gắn bó với cách mạng; có đường biên giới chung với Vương quốc Campuchia khá dài, cư dân hai bên biên giới có quan hệ mật thiết với nhau; sau ngày giải phóng có gần 30.000 dân Campuchia lánh nạn bọn diệt chủng Pôn Pốt chạy sang cư trú trên địa bàn tỉnh.

Tây Ninh có nhiều tôn giáo: Cao Đài, Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo…Đặc biệt, Tây Ninh là nơi xuất phát và là trung tâm của tôn giáo Cao Đài với hàng trăm cơ sở thờ tự khắp nơi trong tỉnh.

Tuy có nhiều dân tộc, tôn giáo khác nhau, nhưng khi Tây Ninh và miền Nam hoàn toàn giải phóng, các tầng lớp nhân dân trong tỉnh hồ hởi, phấn khởi, tích cực tham gia các phong trào cách mạng, góp phần cùng với Đảng, chính quyền nhanh chóng ổn định đời sống, khôi phục sản xuất, xây dựng chính quyền và các đoàn thể cách mạng. Nổi bật nhất trong lúc này là phong trào tháo gở bom mìn, khai hoang phục hoá, làm thuỷ lợi, bài trừ văn hoá lai căng…

Song, tình hình trong nhân dân vẫn còn phức tạp. “…Có quần chúng sợ cán bộ, có quần chúng lo ngại ta mất cảnh giác vì thấy người không tốt hoặc người của địch len được vào một số cơ quan huyện, xã, ấp, vi phạm chính sách, đụng chạm quyền lợi quần chúng, một số cán bộ chưa tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, còn quan liêu hách dịch thoát ly quần chúng, mâu thuẩn với quần chúng, bị quần chúng phản ứng…phần lớn nguỵ quân, nguỵ quyền ra trình diện chính quyền cách mạng và được cải tạo. Còn lại một bộ phận nhỏ lẩn trốn một số nơi, móc nối nhau hình thành một số nhóm chống đối. Bộ máy ngầm của địch chưa ra trình diện hết, phần lớn còn lẩn trốn trong dân, lợi dụng tình hình phức tạp trong tôn giáo bắt đầu cấu kết, tổ chức phá hoại lẻ tẻ một số nơi…” [56].

  1. TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN CÁC CẤP SAU NGÀY GIẢI PHÓNG

Dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ, thực hiện chương trình chính trị “Đoàn kết toàn dân phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa”, ngoài việc cùng chính quyền và các ban, ngành, đoàn thể tiếp quản chính quyền, cơ sở vật chất của chính quyền nguỵ, Mặt trận Tây Ninh còn tiến hành tổ chức một số cuộc tiếp xúc riêng với các thành phần tôn giáo, dân tộc, nhân sĩ, trí thức và sĩ quan chế độ cũ nhằm làm rõ quan điểm, chính sách của Đảng, chính quyền, mặt trận và nhiệm vụ chiến lược của cách mạng trong giai đoạn mới; kêu gọi toàn dân không phân biệt lương giáo, dân tộc, thành phần xã hội cùng nhau đoàn kết xung quanh Mặt trận đóng góp sức người, sức của vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng chế độ mới, đưa đất nước tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa. Hoạt động nổi bật của Mặt trận giai đoạn này là vận động, tập hợp tầng lớp trí thức (bao gồm trí thức cũ và mới) và giới phụ lão. Nhiều trí thức cũ tham gia hoạt động trên các lĩnh vực, nhiều người hoạt động rất tốt, đã góp phần giải quyết việc thiếu hụt cán bộ, vừa từng bước xoá đi mặc cảm của tầng lớp này đối với cách mạng. Trong giới phụ lão, Mặt trận tổ chức học tập và làm theo những thư Bác Hồ gởi các vị phụ lão. Đồng thời, Mặt trận các cấp góp phần hình thành và phát triển bộ máy chính quyền, đoàn thể, trong đó đưa vào hoạt động ngay các tổ chức giáo dục, y tế, chữ thập đỏ…

Trên lĩnh vực tư tưởng, Mặt trận cùng các ban ngành, đoàn thể đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm ổn định tư tưởng trong nhân dân, đánh bạt luận điệu của địch và bọn phản động về sự trả thù giai cấp, xuyên tạc chế độ xã hội chủ nghĩa. Song song đó, Mặt trận và các ban, ngành liên quan giúp chính quyền phá các vụ âm mưu chống phá chính quyền cách mạng; nổi bật là phá tổ chức phản động “Mặt trận thống nhứt toàn lực quốc gia giải phóng Việt Nam” ẩn núp trong Nội ô Toà thánh Cao Đài Tây Ninh. Lịch sữ Đảng bộ tỉnh đã ghi nhận: “Đặc biệt, Mặt trận Tổ quốc tỉnh phối hợp với các đoàn thể phát động được quần chúng trong các tôn giáo Cao Đài, Thiên Chúa và dân tộc thiểu số cùng với chính quyền, với lực lượng vũ trang, bán vũ trang tại chổ tố giác bọn phản động đội lốt tôn giáo, truy quét bọn tàn quân, đưa hàng trăm người lầm đường ra đầu thú, ngăn chặn và đập tan mọi mưu đồ bạo loạn, lật đổ của bọn phản động, đấu tranh với một số chức sắc phải làm đúng theo luật đạo, chấm dứt các hoạt động lợi dụng đạo để làm những điều sai trái” [57]

Sau giải phóng, để tăng cường vận động nhân dân thực hiện nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn mới, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ phân công đồng chí Nguyễn Văn Tốt (Hai Bình), Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ làm Chủ tịch Mặt trận tỉnh từ tháng 4/1975 đến cuối năm 1975.

Ngày 29/3/1976, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 249 về thành lập Ban Dân vận và Mặt trận Trung ương. Theo đó, ngày 19/5/1976, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Thông tri 102 thành lập Ban Dân vận và Mặt trận tỉnh gồm 7 Uỷ viên; Ông Võ Đức Trọng (Võ Văn Linh), Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ làm Trưởng ban; Bà Trần Thị Ẩn, Tỉnh uỷ viên làm Phó Trưởng. Thông tri của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ nêu rõ nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và mối quan hệ giữa Ban Dân vận và Mặt trận tỉnh với các ban chung quanh tỉnh, các đoàn thể quần chúng.

Năm 1977, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thống nhất tên gọi là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ở tỉnh ta, đến giữa năm 1977, Mặt trận được thành lập ở các huyện, thị xã; cuối năm 1980, các phường, xã thành lập xong Mặt trận cơ sở.

Tháng 5/1977, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ phân công Ông Trần Đình Sang (Nguyễn Trọng Cát – Ba Cát), Phó Bí thư Tỉnh uỷ làm Trưởng ban Ban Dân vận và Mặt trận đến năm 1979.

III. GÓP PHẦN KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH VÀ ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN

 Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III (tháng 8/1975) xác định nhiệm vụ chiến lược của cả nước trong giai đoạn mới là “hoàn thành thống nhất nước nhà…miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, miền Nam phải tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ I, nhiệm kỳ 1976 – 1979 (vòng 1 ngày 19/11/1976, vòng 2 từ ngày 19 đến 29/4/1977) đề ra nhiệm vụ chung từ 1977 – 1980 là “…thực hiện triệt để đồng thời 3 cuộc cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của chính quyền chuyên chính vô sản. Trên cơ sở khối liên minh công nông làm nền tảng vững chắc của chuyên chính vô sản, đấu tranh cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá và quốc phòng…”. Quán triệt Nghị quyết Đại hội, tổ chức Mặt trận và các đoàn thể từ tỉnh đến huyện đề ra nhiều biện pháp, phân công cán bộ đi sát cơ sở xã, ấp, tổ chức phát động quần chúng, nâng cao nhận thức tư tưởng, nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa, nhằm làm cho quần chúng nhân dân hiểu rõ trách nhiệm, quyền hạn của mình trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước giàu mạnh; nổi lên các phong trào quần chúng tích cực tham gia lao động sản xuất, phong trào thuỷ lợi, phong trào bảo vệ trị an, bảo vệ xóm làng; phong trào tình nguyện xây dựng kinh tế mới, phong trào xoá mù chữ trong nhân dân.

Thực hiện chủ trương xây dựng vùng kinh tế mới của Trung ương, tỉnh đã xây dựng cơ sở vật chất tiếp nhận hơn 49.000 dân thành phố Hồ Chí Minh lên lập nghiệp và vận động được 39.385 người dân vùng Toà Thánh, thị xã Tây Ninh  về quê cũ làm ăn và đi lập nghiệp vùng kinh tế mới.

Trước tình trạng thiếu lương thực triền miên do hậu quả chiến tranh kéo dài, với truyền thống cách mạng và tinh thần tự lực tự cường, các tầng lớp nhân dân trong tỉnh tích cực khôi phục sản xuất nông nghiệp và sôi nổi tham gia phong trào làm thuỷ lợi để thâm canh, tăng vụ, tăng diện tích và năng suất, sản lượng cây trồng, đặc biệt là cây lúa. Năm 1976, các tầng lớp nhân dân, đa số là thanh niên đã thực hiện 47 vạn ngày công đào đắp, nạo vét kênh mương với khối lượng trên 51 vạn m3, phục vụ tưới tiêu cho 25.000 ha, biến nhiều cánh đồng 1 vụ lên 2-3 vụ lúa; so với năm 1975 – 1976, vụ mùa năm 1976 – 1977 diện tích lúa tăng 18.000 ha, vụ đông xuân tăng khoảng 5.000 ha; năng suất vụ mùa tăng 0,4 tấn/ha, vụ đông xuân tăng 0,5 tấn/ha;  bước đầu giải quyết được nạn thiếu lương thực triền miên của tỉnh. Ngoài ra, còn cung cấp cho Trung ương trên 8.500 tấn bột mì, 4.800 tấn mì củ, trên 1.000 tấn đậu phộng, 12.000 tấn mía cây.

Đi đôi với khôi phục sản xuất, một công việc cấp thiết và nguy hiểm khác là giải phóng các vùng đất còn bom mìn, chất nổ để sản xuất và phục vụ các công trình công ích. Trong năm 1976, cán bộ, chiến sỉ và nhân dân Tây Ninh, mà đa số là thanh niên đã tháo gỡ 154 bãi bom mìn với trên 150.000 trái các loại, giải phóng 81.000 ha đất, trong đó có trên 40.000 ha đất lúa.

Phong trào nhường cơm xẻ áo gắn với tổ chức, xây dựng tập đoàn, hợp tác xã nông nghiệp cũng được đông đảo nhân dân hưởng ứng. Năm 1976-1977 đã thu hồi 2.200 ha ruộng của bọn Việt gian, phản động bỏ chạy ra nước ngoài chia cấp cho hơn 3.000 hộ nông dân nghèo; vận động, tổ chức được 2.355 tổ vần đổi công. Năm 1978-1979 vận động, điều chỉnh trên 2.000 ha chia cấp cho hơn 2.000 hộ. Đến cuối năm 1979, toàn tỉnh xây dựng được 324 tập đoàn sản xuất nông nghiệp, 14 tập đoàn máy nông nghiệp và 3 hợp tác xã nông nghiệp.

Các hoạt động văn hoá, xã hội, giáo dục từng bước được khôi phục bình thường. Mặt trận và các đoàn thể được xây dựng đều khắp, có hệ thống từ tỉnh đến cơ sở đã tập hợp, vận động đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào cách mạng ở địa phương góp phần khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Ngày 25/4/1976, cùng với cả nước, các tầng lớp nhân dân trong tỉnh hăng hái tham gia cuộc bầu cử Quốc hội cả nước, số cử tri đi bầu đạt tỷ lệ 98,48%.

  1. THAM GIA CHIẾN ĐẤU VÀ PHỤC VỤ CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM

Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, tình hình trên biên giới Việt Nam – Campuchia nảy sinh những diễn biến phức tạp, bè lũ Pôn Pốt thường xuyên tổ chức gây hấn (từ tháng 5 đến tháng 12-1975 có 17 vụ, năm 1976 có gần 200 vụ) làm cho tình hình biên giới không lúc nào yên ổn.

Sau một thời gian tăng cường trinh sát, khiêu khích, xâm nhập, đêm 24 rạng ngày 25/9/1977, bọn Pôn Pốt dùng một lực lượng lớn gồm Sư đoàn 3, Sư đoàn 4, Trung đoàn 306 đặc nhiệm và quân địa phương vùng 20, 21, 23 đồng loạt tấn công một số khu vực thuộc huyện Bến Cầu, Châu Thành và Tân Biên (tỉnh Tây Ninh); chúng tàn sát, đốt phá, cướp bóc một cách dã man gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản đồng bào ta. Chỉ tính riêng trong một ngày đêm 25/9/1977, tổn thất về người của nhân dân ta trên từng khu vực như sau:

Huyện Tân Biên: bị giết 592 người, bị thương 282 người, mất tích 105 người.

Huyện Bến Cầu: bị giết 230 người, bị thương 58 người.

Huyện Châu Thành: bị giết 87 người, bị thương 46 người.

Thủ đoạn của chúng vô cùng man rợ như mổ bụng phụ nữ mang thai, chặt đầu, chặt hết chân tay, tung trẻ em lên không rồi dùng lưỡi lê hứng…Tại xã Tân Lập (huyện Tân Biên) chúng tràn vào một trường học hãm hiếp và giết hại dã man 15 thầy cô giáo; tại xã Long Khánh (huyện Bến Cầu) chúng bắt trói toàn bộ 5 gia đình gồm 22 người dính vào nhau ném vào một ngôi nhà và châm lửa đốt cháy.

Lực lượng vũ trang của tỉnh vừa đánh trả, vừa tổ chức lại lực lượng; đồng thời thành lập thêm các đơn vị mới. Mặt trận và các đoàn thể vận động các tầng lớp nhân dân đưa con em tòng quân. Ngoài Trung đoàn bộ binh 201, từ tháng 1 đến tháng 6/1978 lần lượt hình thành 2 Trung đoàn bộ binh, hoàn chỉnh 1 Tiểu đoàn pháo 105mm, 4 đại đội trinh sát, công binh, thông tin và 1 đại đội thiết giáp; 4 huyện biên giới hình thành 11 đại đội, 3 trung đội, 8 tiểu đội; 4 huyện nội địa hình thành 6 đại đội, 1 trung đội và 5 tiểu đoàn.

Trên cơ sở đại đội dân công tập trung tham gia xây dựng các công trình công ích do Tỉnh đoàn quản lý, khi chiến tranh biên giới Tây Nam xảy ra chuyển thành dân công hoả tuyến với nhiệm vụ chính là chuyển thương, tải đạn, chôn cất người chết, thu dọn chiến trường, giúp nhân dân sơ tán…Có hàng ngàn lượt thanh niên tham gia lực lượng này.

Sau khi đẩy lùi kẻ thù qua bên kia biên giới, ngày 28/5/1978 Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành chỉ thị triển khai xây dựng tuyến phòng thủ biên giới. Chủ trương cụ thể như sau:

Huy động lực lượng dân công trong toàn tỉnh, kể cả các ty, ngành, các xí nghiệp, trường học…đi làm nghĩa vụ xây dựng tuyến phòng thủ biên giới mỗi người 10 ngày.

Huy động vật tư, xe máy tập trung cao nhất cho nhiệm vụ này, kể cả của công và tư nhân.

Mỗi người dân vót 200 cây chông, công nhân viên nhà nước mỗi người 100 cây.

Xây dựng hệ thống phòng thủ biên giới gồm 3 tuyến:

Tuyến 1: bờ thành biên giới.

Tuyến 2: xã chiến đấu trong nội địa.

Tuyến 3: thị trấn, thị xã.

Tuyến 1 gồm 2 đoạn: Đoạn 1 từ cánh Tây huyện Trảng Bàng đến Tà Nông (Châu Thành) dài 70 km, đắp bờ thành hình chữ chi chiều cao 2m, rộng 6m, bề mặt rộng 2-3m, có cắm chông, gài mìn, rào kẽm, trồng tre, xây công sự chiến đấu…Đoạn 2 từ bắc Tà Nông (Châu Thành) đến Tống Lê Chân (Tân Biên, nay thuộc Tân Châu) dài 170 km; đoạn này phần lớn là rừng nên không đắp đê mà phát hoang, rào rắp, cắm chông, gài mìn…có chiều rộng từ 100 đến 300m.

Theo dự kiến ban đầu chỉ huy động 17 tiểu đoàn dân công với 10.800 người. Nhưng kết quả đã huy động được 109 tiểu đoàn, 10 đại đội với 45.802 người. Từ ngày khởi công đến khi hoàn thành đã có 54 người hy sinh, 92 người bị thương, phần lớn do nổ trái.

 

CHƯƠNG VI

TĂNG CƯỜNG ĐOÀN KẾT CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN ỔN ĐỊNH TÌNH HÌNH SAU CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM, TIẾP TỤC THAM GIA CẢI TẠO VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH (1/1979-1985)

  1. THAM GIA GIÚP TỈNH KONGPONGCHAM KẾT NGHĨA VÀ ỔN ĐỊNH TÌNH HÌNH SAU CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM

Sau khi đẩy lùi bọn Pôn Pốt ra khỏi biên giới, ngày 20/1/1979 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành nghị quyết xác định: “…giúp bạn hồi sinh dân tộc, giúp bạn xây dựng lực lượng cách mạng, cả về đảng, chính quyền, mặt trận, lực lượng vũ trang từ tỉnh xuống cơ sở xã ấp tạo được các điều kiện về chính trị, quân sự, kinh tế – xã hội…”.

Nhiệm vụ hoàn toàn mới mẻ và cực kỳ khó khăn, phức tạp nên tỉnh đã huy động sức mạnh tổng hợp của các ban, ngành, đoàn thể, lực lượng vũ trang và nhân dân mới đủ sức giúp bạn. Mặc dù Tây Ninh còn khó khăn nhiều mặt, nhất là về lương thực thực phẩm, nhưng nhân dân Tây Ninh vẫn thắt lưng buộc bụng giúp tỉnh Kongpongcham 717 tấn lương thực, 225 tấn muối, 200.000 lít dầu, 4 tấn đường, 15 tấn thuốc trị bệnh, 12.000 m vải, 13 tấn lúa giống. Về quân sự, có 10 đơn vị lực luợng vũ trang tỉnh, huyện và 3 đoàn chuyên gia sang giúp tỉnh Kongpongcham xây dựng hoàn chỉnh 1 trung đoàn, 6 tiểu đoàn, 16 đại đội, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ ở 128/171 xã. Mặt trận tỉnh Tây Ninh cũng tổ chức đào tạo hàng trăm cán bộ giúp bạn xây dựng Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia.

Sau khi kết thúc chiến tranh biên giới Tây Nam, Tây Ninh mới thực sự bắt tay vào khắc phục hậu quả của các cuộc chiến tranh và xây dựng quê hương.

Dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, quân và dân Tây Ninh tập trung vào việc rà phá, tháo gỡ bom mìn, khai hoang phục hoá, mở rộng diện tích đất sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Tỉnh ban hành một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất; trên cơ sở đó, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thực hiện tốt công tác vận động quần chúng, đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến tận xã ấp và người dân; quần chúng góp ý xây dựng Đảng, chính quyền và phát triển sản xuất. Qua các đợt học tập, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể được củng cố một bước, đào tạo được hàng trăm cán bộ các cấp, chất lượng hoạt động của đoàn thể được nâng lên, phát huy được chức năng của mình.

Tuy nhiên, trong công tác vận động quần chúng còn một số mặt yếu, nhất là ở các vùng đông dân, vùng mới giải phóng; công tác vận động còn chung chung, không sát từng đối tượng quần chúng; các cấp chính quyền chưa thật sự quan tâm đến công tác dân vận, vì vậy hiệu quả thực hiện các nghị quyết của Đảng còn hạn chế, chưa phát huy đầy đủ sức mạnh của quần chúng nhân dân.

Một công việc đặc thù trong giai đoạn này là phải tháo gỡ bom mìn do địch và ta gài dọc biên giới và đẩy mạnh phong trào làm phân hửu cơ trong lúc phân bón còn rất thiếu thốn. Các tầng lớp nhân dân, nòng cốt và xung kích là thanh niên, trong năm 1980 đã tháo gỡ 1,5 vạn bom mìn, giải phóng 2.928 ha đất, làm 34.145 tấn phân hửu cơ.

Lúc này lại nổ ra chiến tranh biên giới phía Bắc, hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng và lệnh tổng động viên của Nhà nước, hàng vạn đoàn viên, thanh niên Tây Ninh đã làm đơn tình nguyện gia nhập lực lượng vũ trang, sẵn sàng đi biên giới phía Bắc chiến đấu. Nhiều gia đình dẫn đứa con út cuối cùng trực tiếp giao cho Hội đồng nghĩa vụ quân sự, nhiều thanh niên chưa đến tuổi cũng tình nguyện đăng ký.                                                                   

  1. TIẾP TỤC THAM GIA CẢI TẠO VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

Ông Nguyễn Văn Tài (Hai Bạch), Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ được cử làm Chủ tịch Mặt trận tỉnh từ năm 1979 đến năm 1980.

Đại hội đại biểu lần thứ II Đảng bộ tỉnh Tây Ninh được tiến hành từ ngày 26 – 30/12/1979, Nghị quyết Đại hội đã đánh giá “…Chưa quan tâm đúng mức đến việc tổ chức phát động quần chúng làm chủ, chưa vận dụng tốt 3 cuộc cách mạng trên các lĩnh vực sản xuất, chính trị, đời sống, mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng, quần chúng với Nhà nước chưa gắn bó làm một, nên chưa động viên được phong trào quần chúng phấn khởi lao vào giải quyết mọi khó khăn, tiêu cực…”. Và trong phương hướng, nhiệm vụ năm 1980 – 1981 đã nêu “…Kiện toàn, củng cố và phát triển các đoàn thể quần chúng, giữ vững nội dung sinh hoạt, nắm chắc các tổ chức quần chúng tăng cường giáo dục nâng cao giác ngộ cách mạng Xã hội chủ nghĩa cho quần chúng hiểu rõ tình hình, thấy rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của quần chúng, dấy lên phong trào thi đua đẩy mạnh sản xuất và sẳn sàng chiến đấu, phong trào xây dựng hợp tác hoá nông nghiệp, phong trào nếp sống văn minh, phong trào đóng góp đầy đủ nghĩa vụ cho Nhà nước…”.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội II Đảng bộ tỉnh, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, vận động hàng vạn quần chúng thực hiện các nhiệm vụ phát triển sản xuất, thu mua lương thực, cải tạo nông nghiệp, tuyển quân, giữ gìn an ninh trật tự, chống tiêu cực…Tuy nhiên, trong thời gian này, Mặt trận và các đoàn thể còn nhiều mặt yếu: công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng chưa liên tục, chưa sát đối tượng; phong trào chưa đều, chưa nổi rõ vai trò của mặt trận, đoàn thể.

Từ ngày 6 đến ngày 13/1/1982, Đảng bộ tỉnh Tây Ninh tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ III (vòng 1) và từ ngày 5 – 8/4/1983 tiến hành Đại hội vòng 2. Đại hội đã đề ra 7 nhiệm vụ và giải pháp cụ thể từ năm 1983 – 1985, trong đó, nhiệm vụ phát động phong trào cách mạng của quần chúng là phải phát động cho bằng được phong trào quần chúng lao động làm chủ tập thể qua cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, văn hoá – xã hội; phong trào Nhà nước và nhân dân cùng làm trong sản xuất và văn hoá – xã hội;   phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc nhằm thực hiện thắng lợi phương hướng, nhiệm vụ của Đại hội đề ra.

Năm 1983 tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội vẫn còn diễn biến phức tạp. Một số tên phản cách mạng đội lốt chức sắc trong tôn giáo Cao Đài Tây Ninh và các tôn giáo khác cấu kết với một số nguỵ quân, nguỵ quyền trốn cải tạo nhen nhóm hình thành trên 30 tổ chức chính trị, vũ trang phản động với nhiều danh xưng như “Mặt trận dân quân phục quốc”, “Mặt trận thống nhứt toàn lực quốc gia”, “Đường lối cứu thế”, “Cao Đài phục quốc”, “Bảo sanh dân tộc”…Nổi lên là tổ chức phản động “Hội đồng hoà giải quốc tế” và “Thiên khai Huỳnh đạo” do một số chức sắc, tín đồ Cao Đài cùng với một số tên phản cách mạng khác hình thành âm mưu phối hợp với bọn xâm lược bên ngoài gây bạo loạn, lật đổ chính quyền cách mạng; các tổ chức phản cách mạng này phát triển ở hầu hết các tỉnh Nam bộ và Quảng Nam – Đà Nẵng. Quán triệt Nghị quyết 03, ngày 25/10/1982 của Bộ Chính trị, ngày 10/3/1983 Tỉnh uỷ ban hành Nghị quyết 42-NQ/TU chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai học tập sâu rộng trong toàn Đảng bộ. Qua học tập đã hình thành một phong trào quần chúng rộng khắp trong toàn tỉnh nhằm trấn áp bọn phản cách mạng, chống vượt biên, chống xâm nhập vào nội địa, chống chiến tranh tâm lý và văn hoá phản động đồi truỵ. Nổi bật là phong trào quần chúng lên án các tổ chức phản cách mạng núp bóng tôn giáo, tạo điều kiện cho đông đảo quần chúng tín đồ và đa số chức sắc, chức việc yêu nước yên tâm hoạt động tôn giáo; hình thành tuyến quần chúng bảo vệ biên giới, kéo giãm số lượng vượt biên ra nước ngoài.

Báo cáo tổng kết công tác năm 1983 của Tỉnh uỷ đã đánh giá: Sau khi được củng cố tổ chức, các đoàn thể và Mặt trận đã tạo được một khí thế mới, đoàn kết nhất trí cao, có nhiều chuyển biến mạnh mẽ trong công tác vận động quần chúng. Mặt trận Tổ quốc đã thực sự trở thành trung tâm đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân lao động, lương giáo, già trẻ, gái trai…đồng tâm hiệp lực để thực hiện mục tiêu sản xuất và xây dựng trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, trong mặt trận bảo vệ an ninh Tổ quốc, đặc biệt trong việc đấu tranh đập tan âm mưu bạo loạn của bọn phản cách mạng đội lốt tôn giáo Cao Đài.

III. TỔ CHỨC MẶT TRẬN GIAI ĐOẠN 1981-1985

Ngày 17/3/1981, Ban Bí thư ban hành Quyết định 93-QĐ/TW về việc thành lập Ban Dân vận Trung ương và Đảng đoàn Mặt trận. Theo đó, ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải thể Ban Dân vận và Mặt trận, thành lập Ban Dân vận và Đảng đoàn Mặt trận do đồng chí Phó Bí thư thường trực hoặc Uỷ viên thường vụ làm Trưởng ban. Năm 1981, Ông Võ Đức Trọng được cử trở lại làm Chủ tịch Mặt trận tỉnh. Đến năm 1982 tỉnh ta mới tách Ban Dân vận và Mặt trận thành 2 cơ quan là Ban Dân vận và Mặt trận.

Ngày 5 – 6/7/1983, Mặt trận Tổ quốc tỉnh tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ III, đại hội cử ra Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh khoá III gồm 66 vị. Phiên họp đầu tiên của Uỷ ban Mặt trận tỉnh đã cử Ông Võ Đức Trọng tiếp tục giử chức vụ Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch là Ông Nguyễn Trung Đạo và Ông Trương Ngọc Anh.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội, hoạt động Mặt trận các cấp đã chuyển biến tốt cả về nội dung và phương thức hoạt động. Nổi bật là công tác đào tạo, tập huấn cán bộ, nhất là đối với cán bộ Mặt trận cấp xã, phường và ấp, khu phố; Mặt trận tỉnh hầu như quý nào cũng có mở lớp. Hình thành các tổ chức đối ngoại nhân dân như Hội Hữu nghị Việt Nam – Liên Xô, Việt Nam – Campuchia, Việt Nam – Cuba. Đối với các tôn giáo, Mặt trận cùng các ngành liên quan tham mưu thành lập tổ chức Uỷ ban đoàn kết Công giáo yêu nước tỉnh, giúp tôn giáo Cao Đài thành lập Hội đồng Chưởng quản, giúp Phật giáo tổ chức Đại hội và thành lập Ban Trị sự Phật giáo tỉnh. Phong trào tiết kiệm trong giới phụ lão được Mặt trận Trung ương đánh giá cao và là điển hình của cả nước.

Ngày 29/11/1983, Tỉnh uỷ Tây Ninh báo cáo tổng kết việc thực hiện Chỉ thị 92-CT/TW và Công văn 74-CV/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng lực lượng công an nhân dân trong sạch vững mạnh và đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới.

Thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư, phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tỉnh phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, cả về số lượng và chất lượng, cả trên mặt trận bảo vệ an ninh lẫn mặt trận bảo vệ tài sản và giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Quần chúng được tập hợp khá rộng trong nhiều loại hình tổ chức khác nhau như tổ an ninh nhân dân, thanh niên xung kích an ninh, tổ dân phòng, ban bảo vệ…; đấu tranh với nhiều nội dung phong phú, khá toàn diện, bằng nhiểu hình thức và biện pháp thích hợp. Từ trên 1.000 tổ an ninh nhân dân năm 1980 tăng lên 7.052 tổ năm 1983, trong đó 2.339 tổ hoạt động khá, 900 tổ hoạt động trung bình; năm 1981 có trên 1.000 tổ dân phòng, đến năm 1983 có 3.600 tổ, 82 ban bảo vệ dân phố, 46 tiểu đội và 227 phân đội thanh niên xung kích an ninh. Lực lượng bảo vệ chuyên trách và bán chuyên trách được củng cố và phát triển; các nông, lâm, công trường xây dựng được 127 tiểu đội, 3 đại đội và 1 tiểu đoàn tự vệ.

Thực hiện Nghị quyết 03 của Tỉnh uỷ về công tác tổng kết chiến tranh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh chịu trách nhiệm tổng kết chuyên đề “Công tác Cao Đài vận trong kháng chiến”.

Tháng 6/1984, Mặt trận Tổ quốc tỉnh hoàn thành chuyên đề này với tiêu đề “ĐẢNG BỘ TÂY NINH VỚI NHIỆM VỤ LỊCH SỬ: VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG CAO ĐÀI ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG”. Trong chuyên đề đã khẳng định 70% quần chúng Tây Ninh là người Cao Đài đã góp phần xứng đáng tô thắm danh hiệu “trung dũng, kiên cường” dành cho Tây Ninh và kết luận “Từ khi Tây Ninh có Đảng, Tỉnh Đảng bộ Tây Ninh luôn luôn quan tâm công tác Cao Đài vận, xem đây là công tác hàng đầu trong vận động quần chúng đấu tranh cách mạng. Trong suốt hai cuộc kháng chiến, ta giành được thắng lợi từ thấp đến cao, đi đến thắng lợi hoàn toàn giải phóng tỉnh nhà. Kiểm điểm công tác Cao Đài vận trong thời gian kháng chiến đã qua, cho phép chúng ta rút ra được những bài học quý báu, thiết thực, giúp ta khắc phục những tồn tại và thiếu sót đã qua, đồng thời phát huy những ưu điểm trong công tác đối với tôn giáo Cao Đài trong thời gian tới”.

Chuyên đề đã rút ra 6 bài học kinh nghiệm, trong đó có bài học về coi trọng việc xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất và bài học về chăm lo đời sống quần chúng Cao Đài. Bài học về coi trọng việc xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất viết: Đảng ta nói chung và Tỉnh Đảng bộ Tây Ninh nói riêng luôn coi trọng vấn đề xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất; bởi vì đây là một nhân tố quan trọng, không thể thiếu được trong quá trình vận động cách mạng đối với quần chúng, góp phần quyết định vào thắng lợi chung của cục diện cách mạng. Với điều kiện đặc biệt của Đảng bộ Tây Ninh có trung tâm tôn giáo Cao Đài, với 70% dân số là người Cao Đài, nên quá trình hình thành Mặt trận Dân tộc thống nhất luôn gắn chặt với quá trình vận động cách mạng đối với quần chúng Cao Đài, bằng cả quá trình tổng hợp các phương pháp cách mạng…Bài học về chăm lo đời sống quần chúng Cao Đài viết: Xác định quần chúng Cao Đài là một bộ phận quần chúng nói chung của Đảng, đồng thời cũng do yêu cầu khách quan lúc đó về nắm quần chúng và cải thiện kinh tế, phục vụ hậu cần tại chổ cho kháng chiến, nên ta đã chia cấp ruộng đất cho nông dân, đại bộ phận là quần chúng Cao Đài trên 10 ngàn ha từ kháng chiến chống Pháp đến chống Mỹ, với nhận thức đây là vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc thiết thực chăm lo đời sống quần chúng của ta.

Đến năm 1985, hệ thống Mặt trận từ tỉnh đến cơ sở được củng cố. Đặc biệt, từ khi có Chỉ thị 17-CT/TW ngày 18/4/1983 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn mới, công tác Mặt trận được tăng cường hơn. Mặt trận được mở rộng, chất lượng từng bước được nâng lên, tập hợp được rộng rãi các đối tượng do Mặt trận phụ trách; các tổ chức thành viên Mặt trận phát triển tổ chức ăn sâu trong quần chúng. Tính riêng huyện Hoà Thành, nơi có trung tâm tôn giáo Cao Đài, có 2 chức sắc Cao Đài tham gia Mặt trận Tổ quốc Trung ương khoá I, II và đại biểu Quốc hội khoá VI; có 63 chức sắc, 351 chức việc, 758 tín đồ là thành viên Mặt trận Tổ quốc tỉnh, huy